Có một thực tế rằng nền văn minh khoa học kỹ thuật cao ngày nay có xuất xứ từ phương Tây và đi theo một con đường hoàn toàn khác so với nền văn minh cổ đại của phương Đông. Rất nhiều ghi chép và văn vật cho thấy đã từng tồn tại một loại khoa học hoàn toàn khác tại phương Đông cổ đại, hơn nữa lại còn là nền khoa học kỹ thuật cao, hoàn toàn vượt qua nhận thức của người hiện đại. Nhưng vì sao nền văn minh này của nhân loại lại bị thất truyền? Đây là một điều đáng suy ngẫm.

Những bằng chứng về một nền văn minh hoàn toàn khác

Năm 1994, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra 19 thanh kiếm đồng trong quá trình khai quật hố chiến binh đất nung số 2 khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng, những thanh kiếm đồng này dài 86 cm, trên thân kiếm có 8 mặt. Các nhà khảo cổ đã sử dụng thước cặp để đo và phát hiện ra rằng sai số của tám mặt này nhỏ hơn một sợi tóc, thanh nào cũng như vậy. Điều này có nghĩa là những quy trình sản xuất tinh vi này không phải ngẫu nhiên mà đạt tới được. Rõ ràng phải tồn tại một quy trình sản xuất với hệ thống kiểm soát chất lượng của một nhà máy hiện đại ngày nay.

Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là những thanh kiếm bằng đồng này đã được chôn trong lòng đất hơn 2000 năm, nhưng khi khai quật lên vẫn sáng như mới và vô cùng sắc bén. Nguyên nhân là do tất cả các thanh kiếm này đều được mạ một lớp hợp chất kim loại dày 10 micromet. Phát hiện này ngay lập tức đã gây chấn động bởi vì phương pháp xử lý mạ tương tự là một công nghệ tiên tiến chỉ xuất hiện trong thời hiện đại. Ở Đức năm 1937 và ở Hoa Kỳ năm 1950, người ta đã lần lượt phát minh và xin cấp bản quyền sáng chế cho phương pháp xử lý oxy hóa crom.

Vậy thì cách đây hơn 2000 năm trước, người cổ đại làm thế nào lại có được loại công nghệ hiện đại này? Hơn nữa, loại công nghệ này đã xuất hiện từ rất lâu trước thời nhà Tần. Thanh kiếm Việt Vương Câu Tiễn được khai quật ở Hồ Bắc vào năm 1965 cũng đã sử dụng loại công nghệ tương tự. Bởi vậy kiếm Câu Tiễn được bảo tồn nguyên vẹn sau hàng nghìn năm. Việt Vương Câu Tiễn sống vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, là vị quân chủ nổi tiếng của nước Việt.

Kiếm Câu Tiễn. (Ảnh: Siyuwj, Wikipedia, CC BY-SA 4.0)

Đương nhiên, công nghệ tiên tiến được tìm thấy trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng không chỉ giới hạn ở công nghệ mạ. Khi các nhà khảo cổ học dọn dẹp hố chiến binh đất nung số 1 họ đã phát hiện một thanh kiếm bằng đồng bị cong do một chiến binh đất nung nặng 150kg đè lên, độ cong vượt quá 45 độ. Tuy nhiên, khi mọi người di chuyển bức tượng đó đi thì một kỳ tích kinh ngạc đã xuất hiện: thanh kiếm bằng đồng vừa bé vừa mỏng này ngay lập tức duỗi thẳng, khôi phục lại trạng thái tự nhiên. Đây chính là “Hợp kim ghi nhớ hình dạng” (Shape memory alloy) mà các nhà luyện kim đương đại mơ ước. Loại kỹ thuật này mãi cho đến những năm 1950 mới được các nhà khoa học chú ý đến và phải đến những năm 1960, Hải quân Hoa Kỳ mới phát triển vật liệu hợp kim ghi nhớ hình dạng phiên bản thương mại đầu tiên. Vậy làm sao mà cách đây hơn 2000 năm, người cổ đại đã phát hiện và ứng dụng một cách thuần thục loại kỹ thuật cao này?

Người hiện đại ngày nay phải giải thích như thế nào về việc người xưa đã có được kỹ thuật tiên tiến như vậy? Nhà Tần xuất hiện vào năm 221 đến 206 trước Công Nguyên, cách năm 1960 đã hơn 2000 năm. Theo logic cơ bản của hầu hết người hiện đại thì người xưa nói chung là tụt hậu so với hiện đại, tri thức khoa học và trình độ công nghệ của người xưa cũng là tụt hậu so với xã hội hiện đại vài nghìn năm, chứ không thể đi trước xã hội hiện đại vài nghìn năm được.

Nền văn minh vật chất hiện đại của nhân loại bắt đầu với cuộc Cách mạng Công nghiệp, và chúng ta hiện đang sống trong một thời đại công nghiệp hóa cao, còn 2000 năm trước là thời đại của nền văn minh nông nghiệp. Từ văn minh nông nghiệp đến văn minh công nghiệp, nhân loại đã trải qua mấy ngàn năm. Theo quan điểm của người hiện đại thì đây dường như là bước tiến chậm của khoa học kỹ thuật. Người ta cho rằng mãi đến “đêm trước Cách mạng Công nghiệp”, bộ não người mới đột ngột được “khai sáng”. Bắt đầu bằng phát minh ra máy hơi nước, rồi có những bước tiến lớn và mở ra cánh cửa công nghiệp hóa thay thế sức người và sức vật bằng máy móc quy mô lớn. Tuy nhiên, loại quan niệm hiện đại này rõ ràng là sai lầm.

Lại nói về ngành công nghiệp máy móc thì ngay từ hàng nghìn năm trước cuộc cách mạng công nghiệp Châu Âu, trình độ kỹ thuật máy móc của người cổ đại đã rất cao rồi.

Theo “Mặc Tử. Lỗ vấn” ghi chép thì: “Công thâu tử (Lỗ Ban) tước trúc mộc dĩ vi thước, thành nhi phi chi, tam nhật bất hạ”, nghĩa là Lỗ Ban tạo ra một con chim gỗ bay ba ngày trên trời mà không bị rơi xuống đất. Vậy nguyên lý hoạt động của máy bay không người lái do Lỗ Ban chế tạo cách đây hơn 2000 năm là gì, sử dụng loại động cơ nào, điều này thực sự là bí ẩn đối với người ngày nay.

Sách “Hồng thư” triều nhà Minh lại ghi: “Công thâu bàn vi mộc diên, dĩ khuy Tống thành”, Lỗ Ban chế tạo ra diều gỗ, đảm nhận nhiệm vụ trinh sát trong chiến tranh là thám thính thành nhà Tống.

Ngoài máy bay trinh sát, Lỗ Ban còn tạo ra “máy bay chở khách”. Theo sách “Dậu dương tạp trở” thời nhà Đường viết rằng Lỗ Ban rời xa quê hương đi làm ăn xa, bởi vì vợ ông ở nhà lo lắng nên ông đã làm một con diều gỗ, chỉ cần ngồi lên và gõ vài cái là con diều gỗ sẽ bay lên trời đưa ông trở về nhà, hôm sau lại bay đến chỗ làm.

Thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng đã chế tạo ra trâu gỗ, ngựa máy. Theo “Tam Quốc Chí” ghi lại: “Cửu niên, Lượng phục xuất Kì sơn, dĩ mộc ngưu vận… Thập nhị niên xuân, Lượng tất đại chúng do Tà Cốc xuất, dĩ lưu mã vận”, nghĩa là năm thứ 9, Lượng ra Kỳ Sơn, dùng trâu gỗ vận chuyển lương thực, mùa xuân năm thứ 12, Lượng biết dân chúng từ Tà Cốc ra, dùng ngựa gỗ tự hành (tạm gọi là ngựa máy) vận chuyển. Căn cứ vào tư liệu lịch sử này, Gia Cát Lượng từng sử dụng trâu gỗ ngựa máy để vận chuyển lương thực. Nhưng cũng giống như kỹ thuật chế tạo máy bay không người lái, kỹ thuật chế tạo ngựa gỗ của Gia Cát Lượng cũng không được truyền đến ngày nay.

Gia Cát Lượng. (Tranh: Thời Minh, Public Domain)

Chúng ta hãy lấy một ví dụ khác từ lĩnh vực cuộc sống. Năm 1972, khi khai quật ngôi mộ cổ Mã Vương Đôi triều Hán ở Hồ Nam, người ta phát hiện ra hai chiếc áo được dệt bằng tơ mỏng. Hai chiếc áo này dài 128 cm, tay áo dài 190 cm, chỉ nặng 48 gram và 49 gram, còn không đến một lạng, sau khi gấp lại còn có thể để vào trong hộp diêm, có thể nói là trong như khói và mỏng như cánh ve sầu. Đây là tác phẩm tiêu biểu cho kỹ thuật dệt sợi thời Tây Hán, nhưng kỹ thuật này đã bị thất truyền. Có thông tin rằng bảo tàng tỉnh Hồ Nam từng ủy thác cho một viện nghiên cứu để tái tạo ra chiếc áo mỏng tương tự như vậy. Kết quả người ta phải mất 13 năm mới làm ra được chiếc áo mỏng nặng 49,5 gram. Vậy mà ở hơn 2000 năm trước, loại kỹ thuật này đã tồn tại phổ biến rồi.

Hoạt động sản xuất áo từ tơ tằm thời xưa. (Tranh: Public Domain)

Hoa Đà từ thời cổ đại đã bắt đầu sử dụng loại thuốc gây mê Ma phí tán do ông tạo ra để gây mê toàn thân cho bệnh nhân trong các ca phẫu thuật. Sau đó, một cuộc phẫu thuật mổ bụng đã được thực hiện để loại bỏ khối u và khâu lại dạ dày và ruột. Quy trình này tương tự như quy trình được thực hiện ở phương Tây bằng cách sử dụng phương pháp gây mê, nhưng nó được thực hiện trước 1600 năm.

Nói đến y học cổ đại còn có những thành tựu đáng kinh ngạc hơn nữa. Các huyệt vị kinh lạc của cơ thể người và các quy luật vận hành khí huyết mà người cổ đại khám phá ra đang dần được khoa học hiện đại khẳng định một cách gián tiếp. Điều đáng chú ý nhất là những huyệt vị kinh lạc này không tồn tại ở bên trong cơ thể người dưới dạng vật chất, mà tồn tại dưới dạng năng lượng có thể đo đạc được. Do đó, nó không thể được tìm thấy trong giải phẫu học hiện đại, mà phải được tìm thấy với sự hỗ trợ của các dụng cụ điện từ.

(Ảnh minh họa: Pixeljoy, Boule, Shutterstock)

Cũng như những đường sức từ, chỉ có thể đo đạc hoặc thể hiện bằng các vật liệu nhiễm từ, khoa học hiện đại ngày nay chỉ có thể xác nhận rằng những đường kinh mạch này của người quả thật là có tồn tại và phù hợp với vị trí của các kinh lạc được ghi lại trong y học cổ đại. Tuy nhiên, khoa học hiện đại vẫn chưa thể phát hiện ra quy luật dòng chảy của năng lượng người. Vậy mà ngay từ hàng nghìn năm trước, người cổ đại đã hoàn toàn nắm vững quy luật vận hành của năng lượng nhân thể này. Hơn nữa còn thiết lập được một hệ thống y học hoàn thiện và quy củ, mặc dù hệ thống này ngày nay về cơ bản đã thất truyền, chỉ còn thấy mô tả sơ lược trong sách cổ. Y học phương Đông ngày nay cơ bản là sự vận dụng mò mẫm và lấy y học phương Tây làm nền tảng học thuật. Vậy câu hỏi đặt ra là, người cổ đại đã khám phá ra quy luật dòng chảy năng lượng trong cơ thể người như thế nào mà khoa học hiện đại không thể nắm bắt được?

Mỗi nền văn minh là thể hiện của một lý tưởng xã hội mà nhân loại theo đuổi

Sẽ có người hỏi rằng thời cổ đại đã có rất nhiều kỹ thuật cao như vậy, thì phải chăng là nền văn minh khoa học kỹ thuật cổ đại tiến bộ hơn nền văn minh khoa học kỹ thuật hiện đại ngày nay? Kỳ thực, nếu chỉ xét từ góc độ vật chất, không có cách nào để kết luận một cách đơn giản nền văn minh nào là tiên tiến hơn. Ví dụ, người xưa dùng cày và trâu để cày ruộng thì chắc chắn hiệu quả không thể bằng các loại máy móc nông nghiệp mà người hiện đại sử dụng được. Người xưa sử dụng ngựa và xe ngựa để đi lại thì không thể so sánh với ô tô và máy bay của xã hội hiện đại được. Cho dù kỹ thuật đúc kiếm của người xưa có tiên tiến đến đâu đi nữa thì hiệu quả của chúng trong chiến tranh cũng không thể so sánh được với súng máy, xe tăng, đại bác của xã hội hiện đại được.

Các sản phẩm công nghệ của một thời đại trước tiên là phải phù hợp với phương thức sinh sống của thời đại đó. Nói cách khác, người muốn sống như thế nào thì sẽ phát minh ra những đồ dùng, công cụ sản xuất mà mình cần. Người cổ đại theo đuổi những điều cao thâm, như “Thiên nhân hợp nhất”. Cuộc sống mà họ muốn sống, lý tưởng xã hội mà họ theo đuổi hoàn toàn khác với những người hiện đại. Dưới ảnh hưởng của tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất”, người cổ đại hy vọng một lối sống sẽ thúc đẩy việc bảo tồn nhân tính, đạo đức và lương tri. Cho dù họ có trí tuệ và tri thức cao siêu đi nữa, họ cũng chỉ phát minh sáng tạo ra kỹ thuật và đồ dùng phù hợp với triết lý sống và lý tưởng của thời đại đó.

Cho nên, cốt lõi của vấn đề không phải là nền văn minh khoa học cổ đại hay nền văn minh khoa học hiện đại xuất hiện từ phương Tây tiên tiến hơn, mà là lối sống nào tương ứng với các nền văn minh vật chất này lâu bền và ổn định hơn, hơn nữa còn có thể thúc đẩy việc duy trì nhân tính, đạo đức và lương tri của nhân loại. Đây có lẽ cũng là ý nghĩa nguyên thủy của khái niệm “văn minh”.

Lý tưởng “Thiên nhân hợp nhất” tạo ra nền văn minh như thế nào?

Theo “Tam Quốc Chí” ghi lại, tâm huyết cả đời và những kinh nghiệm chữa bệnh của Hoa Đà được ông ghi lại trong cuốn “Thanh nang thư”, nhưng do đồ đệ bảo hộ không tốt nên cuốn sách cuối cùng đã bị đốt cháy. Rất nhiều thành tựu y học của Hoa Đà không được lưu truyền lại, trong đó có loại thuốc gây mê Ma phí tán mà ông đã tạo ra cho các ca phẫu thuật. Căn cứ sách sử ghi lại, nguyên liệu điều chế Ma phí tán đều là thực vật kết hợp lại với nhau, giống như thuốc bắc vậy. Còn thuốc gây mê ở phương Tây hiện nay đều là hóa phẩm, giống như thuốc tây chúng ta dùng bây giờ, là sản phẩm của thời đại công nghiệp hóa cận đại. Ngoài ra ở phương Tây tồn tại một thực tế rằng những loại thuốc xuất xứ từ dược liệu tự nhiên không thể được đăng ký bản quyền, khiến các phòng thí nghiệm dược phẩm chỉ tập trung chế tạo hóa phẩm hiện đại mới có thể bù đắp chi phí nghiên cứu và có được lợi nhuận khổng lồ. Điều này cũng có thể nhắc nhở chúng ta rằng người ở những nền văn minh khác nhau sử dụng phương thức khoa học kỹ thuật khác nhau, dựa theo lý tưởng của nền văn minh đó.

Vũ trụ quan “Thiên nhân hợp nhất” cho rằng vũ trụ và vạn vật trời đất là do Thần sáng tạo ra. Người sống trong trời đất, hành vi của người phải phù hợp với ý chỉ của Thần, phải phù hợp với quy luật vận hành của trời đất. Ý chỉ của Thần cũng chính là Thiên ý, quy luật vận hành của trời đất chính là Thiên đạo, cho nên thuận theo Thiên đạo, hiểu được Thiên ý, thực hành Thiên mệnh là định hướng cơ bản của tất cả các hành vi của người cổ đại. Người là một thành viên của vũ trụ và là một bộ phận của Thiên đạo, hết thảy phương thức sống của người cần phải phù hợp Thiên đạo, hòa hợp với đất trời, tạo thành trạng thái “Thiên nhân hợp nhất”.

Một phần của bức tranh “Hiên Viên vấn Đạo đồ” mô tả cảnh Hoàng Đế tới núi Không Động để tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo. (Họa sĩ Thạch Duệ thời Minh, Bảo tàng Cố cung Quốc gia Đài Loan, Wikipedia, Public Domain)

Ví dụ, thiên văn học thời cổ đại rất phát triển và mục đích căn bản của người xưa khi quan sát thiên văn là thông qua các hiện tượng thiên văn để thấu hiểu ý trời. Điều này về cơ bản khác với thiên văn học hiện đại, vốn chỉ nghiên cứu quy luật vận hành của các thiên thể. Trong “Chu Dịch. Hệ từ” viết: “Thiên thùy tượng, kiến cát hung, thánh nhân tượng chi”, trời sinh hiện tượng, cho biết lành dữ, thánh nhân trông đó mà học theo. Trong “Âm phù kinh”, Hoàng Đế đã khai sáng: “Quan thiên chi đạo, chấp thiên chi hành, tẫn hĩ”, xem xét đạo trời, cứ làm theo sự vận hành của trời, như vậy là biết hết rồi. Người xưa biết rằng thiên tượng đối ứng với ý trời, muốn hiểu được ý trời thì phải nghiên cứu thiên tượng, vì vậy quan sát thiên tượng là một môn học vấn quan trọng nhất của người xưa.

Theo sử sách ghi chép lại, truyền thống quan sát thiên tượng để đoán vận bắt đầu từ thời kỳ Hoàng Đế. Theo “Hậu Hán thư. Thiên văn thượng” ghi lại: “Hiên viên thủy thụ, quy nhật nguyệt tinh thần chi tượng, cố tinh quan chi thư tự hoàng đế thủy”, nghĩa là khi Hoàng Đế Hiên Viên nhận được “Hà Đồ Đấu bao thụ”, thì trong đó viết hình ảnh mặt Trời, mặt Trăng, vì sao, do đó sách Tinh quan bắt đầu từ thời Hoàng Đế.

Dụng cụ xem thiên văn của Đông phương thời xưa. (Ảnh: Science Museum Group, Wikipedia, CC BY 4.0)

Mà các dụng cụ để quan sát thiên văn cũng đã có từ thời Đế Nghiêu đế Thuấn. Trong cuốn “Xuân Thu văn diệu câu” sáng tác vào thời Hán ghi lại: “Đến thời Đế Nghiêu, lệnh cho Xi và Nhị Thị làm thị tộc cai quản bốn mùa của trời đất đồng thời chế tác ra hỗn thiên nghi”. Hỗn thiên nghi chính là công cụ được người xưa sử dụng để quan sát thiên văn. Thời kỳ Đông Hán, Trương Hành dựa trên cơ sở của người đời trước đã cải tiến Hỗn thiên nghi và tạo ra Hỗn thiên nghi đầu tiên trong lịch sử có thể chạy đồng bộ với các thiên thể. Hỗn thiên nghi này có thể biểu thị vận chuyển của thiên tượng, có thể dự báo được tình huống vận chuyển của thiên tượng. Trương Hành đã quan sát hơn 2500 vì sao dựa trên thiết bị này, vẽ hình các vì sao và khám phá nguyên nhân của các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. Những thành tựu thiên văn và những dụng cụ thiên văn rất phát triển này đều được ra đời dưới sự chỉ đạo của hệ tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất”. Người Trung Quốc cổ đại quan sát thiên văn không chỉ để khám phá quy luật vận hành của các thiên thể mà còn để hiểu được thiên ý đằng sau những thiên tượng ấy. Trong lịch sử, mục đích chính của việc quan sát thiên tượng là để chỉ ra cái được cái mất của Hoàng đế trong việc cai trị, vận thế của vương triều, làm cho hành vi của Hoàng đế phù hợp với Thiên ý.

(Tranh: Wikipedia, Public Domain) (Xem thêm: Thiên nghi và thời hoàng kim của thiên văn học cổ đại)

Đạo của Trời đất chứa đựng nguyên lý âm dương tăng giảm, ngũ hành tương sinh tương khắc. Vì vậy, người xưa khi thực hiện bất cứ một công trình, kiến trúc nào trên đại địa cũng cần xem xét mối quan hệ âm dương ngũ hành để phù hợp với quy luật vận hành của đất trời. Đây cũng là biểu hiện của vũ trụ quan “Thiên nhân hợp nhất”.

Công trình thủy lợi Đô Giang Yển được xây dựng từ thời Chiến Quốc hơn 2000 năm trước là một công trình tiêu biểu. Vị quan khâm sai Thành Đô bấy giờ là Lý Băng đã tận dụng điều kiện địa lý cao ở phía Tây Bắc, thấp ở phía Đông Nam, dựa theo địa hình đặc thù là lối ra của sông Mân Giang, dựa vào mạch nước, thế nước để khéo léo dẫn dắt, lựa chọn thiết kế không xây đập ngăn nước mà tạo ra một kênh phân chia dòng nước. Đô Giang Yển bao gồm ba công trình chính là: Ngư Chủy để phân dòng nước, Bảo Bình Khẩu là con đường dẫn nước xuyên qua núi Ngọc Lũy đổ về đồng bằng Thành Đô, và Phi Sa Yển để phân luồng chia lũ và xử lý đất cát. Nhờ vậy, Đô Giang Yển là một công trình thủy lợi sinh thái phân phối nước tự động, xả lũ tự động, xả cát tự động và kiểm soát lượng nước tự động, đảm bảo các lợi ích toàn diện cho việc tưới tiêu, kiểm soát lũ lụt, giao thông vận tải đường thủy và nước sinh hoạt. Đô Giang Yển không những không gây tổn hại đến thiên nhiên và sinh thái như các đập nước lớn hiện đại mà về bản chất nó là một công trình tối ưu hóa và cải tạo lại môi trường tự nhiên. Đây là hiện thân hoàn hảo của tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” trong lĩnh vực công trình thời cổ đại.

Công trình Đô Giang Yển về cơ bản được bảo tồn cho đến ngày nay, chỉ là bổ sung việc xây kè của khoa học kỹ thuật hiện đại. (Ảnh: Xingxing, Wikipedia, CC BY-SA 4.0)

Đô Giang Yển là công trình thủy lợi duy nhất còn lại lâu đời nhất trên thế giới với đặc điểm là không có đập ngăn nước. Theo dự tính của các chuyên gia thủy lợi, các công trình thủy lợi tiên tiến nhất ở các nước phát triển chỉ có tuổi thọ khoảng 300 năm. Mà Đô Giang Yển đã sử dụng hơn 2000 năm và vẫn còn nguyên vẹn và vẫn phát huy tác dụng, Sau khi Đô Giang Yểm được xây dựng, đồng bằng Thành Đô từ đó trở đi được bảo vệ khỏi hạn hán và lũ lụt, Tư Xuyên trở thành vùng đất trù phú mãi cho đến ngày nay vẫn như vậy. Đây là hiệu quả lâu dài về mặt xã hội do văn minh khoa học kỹ thuật cổ đại mang lại.

….

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn.co/van-hoa/chut-suy-ngam-ve-su-hung-suy-cua-nen-van-minh-nhan-loai.html