Nói về Công xã Paris, nhiều người sẽ nghĩ đến một chính quyền ngắn ngủi cướp đoạt được thông qua vụ thảm sát đẫm máu năm 1871. Nhưng nếu nghiên cứu lịch sử kỹ lưỡng, người ta sẽ biết rằng trong lịch sử nước Pháp thực tế đã từng có hai lần “Công xã Paris” (Commune de Paris). Cuối thế kỷ XVIII, Công xã Paris lần thứ nhất xuất hiện trong Đại Cách mạng Pháp (1789-1799). Công xã Paris năm 1871 thực sự kế thừa tên gọi Công xã Paris trong Đại cách mạng Pháp và mở rộng cơ cấu tổ chức cũng như phương thức bạo lực của nó. Công xã Paris lần thứ nhất cũng có ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến xu hướng nghệ thuật Tân Cổ điển của thời kỳ này.
Bối cảnh nghệ thuật sinh ra phong cách Tân Cổ điển
Vào cuối thế kỷ XVI, tại châu Âu đã diễn ra một cuộc cải cách tôn giáo mạnh mẽ, cuối cùng dẫn đến cuộc “ly giáo” lịch sử, vĩnh viễn thay đổi thế giới Kitô, phân hóa tôn giáo châu Âu thành nhiều hệ nhóm. Điều này diễn ra một phần do sự tha hóa bên trong Giáo hội, một phần là do nhu cầu cá nhân muốn diễn giải Thánh Kinh mạnh mẽ. Những tín đồ Tin Lành và các hệ phái khác của phong trào Kháng Cách đã kêu gọi quay trở lại với các giá trị của Thánh Kinh, thực hành sự đơn giản, khắc kỷ, tránh xa khỏi thói quen xa hoa, lãng phí của Giáo hội.
Để kìm hãm những cải cách tôn giáo ngày càng mạnh mẽ đương thời, Giáo hội Công giáo đã khuyến khích các nghệ sĩ thể hiện cảm xúc thần thánh trong các tác phẩm của họ khi miêu tả các chủ đề tôn giáo, từ đó khơi dậy lòng khao khát hướng tới Thiên đường của các tín đồ, bởi vậy đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển của phong cách Baroque vào thế kỷ XVII.
Có thể thấy sự trưởng thành của Baroque từ một số bức họa trên trần nhà thờ hoặc các tác phẩm nghệ thuật thể hiện thế giới Thiên đường, kết cấu tràn ngập sự sinh động, khung cảnh linh thiêng tráng lệ và nguy nga, lối trang trí tinh tế duyên dáng và sang trọng, màu sắc ánh sáng có sức cuốn hút sâu sắc. Các yếu tố nghệ thuật này khiến cho người ta cảm thấy thế giới Thiên quốc hiện ra nguy nga tráng lệ, từ đó biểu đạt tấm lòng thành kính và ca tụng của con người đối với Thần.
Đương nhiên, ngoài chủ đề tín ngưỡng, các phong cách biểu hiện và chủ đề nghệ thuật cũng rất đa dạng. Về cơ bản, bình thản lý tính chính là trạng thái chuẩn mực, thể hiện nhiều hơn trong phong cách Chủ nghĩa Cổ điển (Classicisme), còn sống động và diễm lệ thể hiện nhiều hơn trong phong cách Baroque. Chủ nghĩa Cổ điển là lấy nghệ thuật Hy Lạp và La Mã cổ đại làm hình mẫu, tôn trọng lý tính, tuân theo quy phạm, tìm kiếm chân lý trong nghệ thuật trang nhã và hài hòa.
Đến thế kỷ 18 kế thừa phong cách Baroque, thì các tác phẩm nghệ thuật đã phát triển theo hai phương diện: phong cách Rococo và phong cách Tân Cổ điển. Ngoài ra, sự xuất hiện của Phong trào Khai sáng (Lumières) đã sử dụng khoa học thực chứng và thúc đẩy các tư tưởng gọi là “khai sáng”, vô Thần luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng khác nhau để làm suy yếu tín ngưỡng của con người đối với Thần, khiến con người bị ảnh hưởng bởi nó mà ngày càng xa rời Thần, chú trọng hiện thực.
Trong nghệ thuật tôn giáo, các nghệ sĩ tiếp tục thể hiện sự thần thánh và huy hoàng của Thiên quốc như trước đây. Về hình thức nghệ thuật, ngoài việc kế thừa vẻ ngoài tráng lệ huy hoàng, tư thế động sinh động của phong cách Baroque trước đó, còn chú trọng những nhân tố sáng tạo như sự nhẹ nhàng tinh xảo của các thủ pháp kỹ nghệ và sự phong phú tinh tế của các yếu tố trang trí.
Trong nghệ thuật thế tục thì mô tả sự hào nhoáng của nhân thế và sự tinh tế lãng mạn của cảm xúc. So với các tác phẩm của tiền nhân, các chủ đề thế tục thời này hầu hết thể hiện cuộc sống vui vẻ của xã hội thượng lưu, truy cầu cầu tình yêu và các nội dung khác. Ngoài ra, thời kỳ này còn sử dụng các chủ đề Thần thoại (nói về Thần) nhưng lại lấy làm ẩn dụ để thể hiện sự truy hoan, lấy các chủ đề tính dục trong Thần thoại Hy Lạp, vốn là tín ngưỡng bị trộn lẫn với quan niệm suy đồi của xã hội vào thời điểm nền văn minh Hy Lạp bại hoại.
Bởi vì phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của xã hội lúc bấy giờ, Học viện Hội họa và Điêu khắc Hoàng gia Pháp (Académie royale de peinture et de sculpture), nơi luôn được biết đến với truyền thống cổ điển, đã có một số viện trưởng và một số lượng lớn giáo viên là các nghệ sĩ sáng tạo theo phong cách Rococo, trong đó có François Boucher, họa sĩ tiêu biểu của phong cách này, từng là viện trưởng từ năm 1765 đến năm 1768.
Đối với một loại phong cách nghệ thuật, có người thích, như vậy tự nhiên là có người không thích. Một số người trong thế giới nghệ thuật có gu cổ điển hơn đang cảm thấy mệt mỏi với những đồ trang trí phức tạp và tầm thường cũng như xu hướng xa hoa hưởng lạc theo phong cách Rococo, và họ tìm cách phát triển phong cách cổ điển nguyên bản. Đồng thời, khi phong trào Khai sáng thúc đẩy mạnh mẽ việc phổ biến chủ nghĩa duy lý, xu hướng này dần dần bắt đầu ảnh hưởng đến nhiều người hơn. Các chuyên gia, đại diện là Johann Joachim Winckelmann (nhà khảo cổ học và sử học nghệ thuật người Phổ), đã thực hiện các chuyến đi thực tế đến tàn tích của các thành phố cổ đại Pompeii và Herculaneum, một lần nữa khơi dậy niềm đam mê đối với nghệ thuật Hy Lạp và La Mã cổ đại. Với sự thực hành cụ thể của các họa sĩ nổi tiếng như Joseph-Marie Vien ở Pháp và Pompeo Batoni ở Ý, phong cách Tân Cổ điển dần được hình thành.
Winkelman hy vọng lấy văn hóa lý tưởng để tái tạo lại nền văn hóa và nghệ thuật Hy Lạp cổ đại. Nhưng những tác phẩm điêu khắc và đồ tạo tác kiến trúc cổ đại mà ông và một số nhà khảo cổ học khác nhìn thấy thực sự chỉ còn sót lại sau một thời gian lịch sử dài đằng đẵng. Ngày nay, thông qua nghiên cứu khoa học và công nghệ hiện đại, người ta đã phát hiện ra rằng các công trình kiến trúc và tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại đều thực sự được người dân thời đó vẽ bằng nhiều màu sắc phong phú, tuy nhiên do quá trình bào mòn và phong hóa của các chất liệu màu trong hơn 2.000 năm, nên về cơ bản chúng đã mất đi màu sắc. Do đó, phong cách hài hòa, ngắn gọn, đơn nhất và không màu sắc do thời gian gây ra không phải là diện mạo chân chính của nghệ thuật Hy Lạp cổ đại nguyên bản đầy màu sắc.
Nhưng vì hiểu lầm điểm này, Winkelmann đã đề xuất rằng lý tưởng của nghệ thuật Tân Cổ điển phải là “sự đơn thuần cao quý và trang nghiêm vĩ đại” (Edle Einfalt und stille Größe). Từ những nét mộc mạc, rõ ràng và trang trọng được thể hiện trong nhiều tác phẩm nghệ thuật tiếp theo của thể loại này, người ta có thể đánh giá được cảm thụ trực quan mà lý tưởng nghệ thuật này mang lại cho con người trong thực tiễn.
Bối cảnh lịch sử
Pháp là một quốc gia lưu giữ rất nhiều giá trị nghệ thuật của nhân loại vào thời điểm trước Đại cách mạng Pháp. Tuy nhiên kinh đô ánh sáng Paris kỳ thực đã chết sau cuộc Đại Cách mạng Pháp và nhất là sau Công xã Paris lần thứ hai. Hầu hết các tác phẩm nghệ thuật của nhân loại được lưu giữ tại Paris đều bị hủy hoại sau hai cuộc “cách mạng” này. Đằng sau cả hai sự kiện lịch sử ấy, người ta đều nhìn thấy rất rõ sự xuất sinh và bàn tay thao túng của chủ nghĩa cộng sản.
Lịch sử hiện đại bị ảnh hưởng bởi lý thuyết cộng sản, đã quen với việc định nghĩa Cách mạng Pháp là một “cuộc cách mạng tư sản”. Trên thực tế, cái gọi là sự phân chia “giai cấp tư sản” và “giai cấp vô sản”, tự bản thân nó chỉ là một khẩu hiệu chính trị do chủ nghĩa cộng sản lập ra và miễn cưỡng gán ghép cho mục đích giết người đối lập. Trong những người giàu có và quyền lực của Đảng Cộng sản trong lịch sử cũng như hiện tại, có ai là “giai cấp vô sản” hoàn toàn không có tài sản gì? Chủ nghĩa cộng sản đã cưỡng ép chia đám đông thành nhiều cái gọi là “giai cấp” đối lập nhau, hơn nữa còn chủ trương “đấu tranh giai cấp” để lừa gạt khiến một nhóm này giết một nhóm khác, rồi lấy cái tên mỹ miều là “Đại cách mạng” để đoạt lấy lợi ích. Do đó cái gọi là “cách mạng” này có thể được hiểu là “tước bỏ (cách) mạng sống (mạng)”, hay nói một cách thông tục thì chính là “giết người”. Vậy thì “cuộc cách mạng vĩ đại” chính là “cuộc đại thảm sát”, đây cũng là một sự thật trong lịch sử. (Xem thêm: Sự thật về cách mạng Pháp và công xã Paris: Thù hận, tanh máu, tàn độc)
Hơn thế nữa trong xã hội, những kẻ không có nhiều của cải mà thích dùng vũ lực để cưỡng đoạt lấy thì được gọi là “lưu manh”. Điều này cũng là một sự thật lịch sử. Tiền thân của “Liên minh Cộng sản” mới đầu được gọi là nhóm bí mật “Liên minh những kẻ lưu manh” ở Paris. Thợ may Wilhelm Weitling của Đức đã gia nhập nhóm này sau khi sang Pháp năm 1835. Dưới sự lãnh đạo của ông ta, “Liên minh những kẻ lưu manh” đã đổi tên thành “Liên minh những người chính nghĩa”. Tại cuộc họp thứ nhất vào tháng 6/1847, “Liên minh những người chính nghĩa” và “Ban Liên lạc Cộng sản” do Marx và Engels lập ra trước đó một năm đã mở cuộc họp chung và sáp nhập thành một, mang tên “Liên minh Cộng sản”. Tháng 2/1848, Marx và Engels đã công bố văn kiện căn bản của cuộc vận động cộng sản quốc tế: “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Do đó có thể thấy, xuất phát điểm của Đảng Cộng sản là một nhóm lưu mạnh.
Công xã Paris năm 1792 và Công xã Paris năm 1871 rất giống nhau từ tên tổ chức, cương lĩnh hành động cho đến áp dụng cụ thể những thủ đoạn đẫm máu. Tuy cách nhau hàng chục năm nhưng hoàn toàn có thể coi chúng là những việc tương tự nhau do cùng một loại quần thể làm ra.
Trong thời kỳ Cách mạng Pháp, nghệ thuật vừa vặn nằm dưới làn sóng Tân Cổ điển (Néo-classicisme) đang dâng trào. Với sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tội ác, rất nhiều nhân tố đã lẩn khuất vào nghệ thuật Tân Cổ điển thời kỳ này, khiến nó trở nên phức tạp, mang đầy tính biến dị và phụ diện. Trường phái Hiện thực (Réalisme) được các họa sĩ Công xã Paris ngưỡng mộ vào năm 1871, và những thứ được cộng sản Liên Xô sau này kế thừa, từ phong cách kỹ xảo đến nội dung thể hiện, đều tràn ngập những nhân tố này.
Chủ nghĩa Tân Cổ điển bản thân nó không phải là sản vật của chủ nghĩa cộng sản, nhưng trong giai đoạn phát triển này, nó đã bị ảnh hưởng và lợi dụng. Sản vật thực sự của chủ nghĩa cộng sản là cái gọi là “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” (Socialist realism). Tuy vậy hiểu về giai đoạn nghệ thuật này và sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản đối với nó cũng sẽ mang đến cho người ta một cái nhìn toàn diện hơn về độc tố của chủ nghĩa cộng sản trong phương diện nghệ thuật.
Đằng sau Công xã Paris không phải là vấn đề quyền lực
Giết người cướp đoạt của cải thường là những hoạt động mà những kẻ tự xưng cách mạng hoặc những kẻ lưu manh cấp dưới say mê. Nhưng không thể thay đổi xã hội nếu không có một ý thức cốt lõi nhất định và một tổ chức, lãnh đạo tuân theo ý thức này. Hơn nữa muốn ý thức này thẩm thấu vào xã hội trong thời gian ngắn thì phải dùng hình thức tẩy não cưỡng chế tanh máu. Đây mới là điều cốt lõi xuất hiện trong các cuộc cách mạng của chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa xã hội. Tất nhiên, chủ nghĩa cộng sản cũng có hình thức thẩm thấu ngấm ngầm trong thời gian dài hơn (Xem bài: Chủ nghĩa cộng sản bạo lực và chủ nghĩa cộng sản phi bạo lực).
Theo sử liệu, rất nhiều nhà lãnh đạo cách mạng Pháp vào thời điểm đó đã có một sự nghiêm khắc nhất định về lối sống trong cuộc đời của họ. Mặc dù họ sử dụng lợi ích vật chất để kích động những người Sans-culottes (dân nghèo) thuộc tầng lớp thấp hơn và các loại lưu manh tạo phản trong xã hội, nhưng họ lại có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với hành vi của mình. Đã có nhiều lời buộc tội khát máu hoặc cực đoan chính trị đối với nhóm người Robespierre, nhưng lại chưa có người nói cuộc sống cá nhân của họ xa xỉ hủ hóa như thế nào. Ngày nay, một số lượng lớn các nghiên cứu lịch sử ở phương Tây đã chỉ ra rõ ràng rằng, đằng sau Cách mạng Pháp, có một thứ có tính tinh thần xuyên suốt từ đầu đến cuối, và tư tưởng chỉ đạo của nó cũng không phải là tiền bạc. Ngay từ đầu các thế lực cách mạng đã nhắm vào tín ngưỡng, yêu cầu các linh mục hoàn tục, đóng cửa nhà thờ, rồi phát triển đến việc tàn sát giáo sĩ, rồi lại đến thành lập quốc giáo mới… Tất cả hàng loạt những hành động này đều có thể cho người ta một cảm giác rõ rệt: Nếu như nói cướp đoạt chính quyền là hành vi thủ đoạn, thế thì tiêu diệt chính tín có lẽ mới là mục đích thực sự của họ.
Để tiêu diệt tín ngưỡng đối với Thần, thế lực cách mạng do phái Jacobins đứng đầu không chỉ thủ tiêu các tôn giáo truyền thống, ép buộc các giáo sĩ hoàn tục, và còn tàn sát các giáo sĩ và tín đồ. Chỉ riêng trong “Thảm sát tháng 9” năm 1792, gần 1.400 tù nhân đã bị giết, mà hầu hết những người trong đó đều bị bắt tạm thời với nhiều tội danh vô lý. Trong số đó có 233 người từ chối tuyên thệ phục tùng “Hiến pháp dân sự của các giáo sĩ” (Constitution civile du clergé). Trên thực tế, nhiều linh mục đã hoàn thành thủ tục tuyên thệ cũng bị bắt và bị giết trong phong trào này. Có thể thấy rằng, những cái gọi là tội danh và lý do đó chỉ là một cái cớ mà phe cách mạng tùy tiện vin vào.
Việc đàn áp các tín ngưỡng truyền thống cũng được phản ánh trong việc ban hành lịch mới. Nghị sĩ vô Thần phái Jacobin Charles-Gilbert Romme và Nghị sĩ Claude Joseph Ferry phái Girondins, người đã bỏ phiếu hành quyết quốc vương, đã tổ chức một nhóm học giả và nhà khoa học để cùng chế định lịch. Lịch pháp truyền thống lấy năm sinh của Chúa Giê-su làm năm bắt đầu, ngày nay được gọi là sau Công Nguyên. Đồng thời, mỗi một ngày ở phương Tây cũng tương ứng với tên của một vị Thánh, những truyền thống này tồn tại cho đến ngày nay. Tuy nhiên, lịch mới lúc đó được gọi là “Lịch Cộng hòa Pháp” (Calendrier républicain) hoặc “Lịch Cách mạng Pháp” (Calendrier révolutionnaire français). Bởi vì coi tín ngưỡng tôn giáo là kẻ thù, thế là lấy ngày ra đời của nước Cộng hòa Pháp là ngày 22/9/1792 chỉ định là “ngày đầu tiên của năm đầu tiên của nước Cộng hòa”, hơn nữa còn đem các tên tôn giáo hoặc Thần thoại của ngày và tháng ban đầu thay bằng tên của thực vật, khoáng sản, động vật, hiện tượng tự nhiên và các từ ngữ duy vật và vô Thần khác. Động thái này nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa lịch pháp và tôn giáo truyền thống cũng như xóa bỏ dấu vết của tín ngưỡng chính giáo trong đời sống người dân. Ví dụ, các từ “Brumaire” (Tháng sương mù) và “Thermidor” (Tháng nóng nực) thường xuất hiện trong lịch sử Cách mạng Pháp không phải là các từ truyền thống của Pháp, mà được tạo ra mới để bài trừ các từ gốc của tháng truyền thống. Loại lịch pháp này có hiệu lực từ ngày 6 tháng 10 năm 1793 thông qua một đạo luật, và tiếp tục được sử dụng đến ngày 9 tháng 9 năm 1805, sau đó bị Napoléon bãi bỏ. Nhưng vào năm Công xã Paris 1871 nó đã có một sự hồi sinh ngắn ngủi, được sử dụng trong 8 ngày vào tháng Năm.
Từ một số tác phẩm nghệ thuật được lưu truyền vào thời đó, chúng ta vẫn có thể thấy rằng vì tầng lớp thấp đố kỵ với phong cách hoa lệ của giới quý tộc, bởi vậy phong tục xã hội, sinh hoạt và thậm chí cả quần áo đều bị cách mạng hóa, ví dụ như mọi người bị yêu cầu phải hủy bỏ tóc giả và những bộ đồ thời trang lộng lẫy… Không chỉ vậy, có thể thấy trong các tài liệu lịch sử, khi nói chuyện mọi người thường sử dụng thuật ngữ hành chính “công dân” (Citoyen, Citoyenne) để thay thế cách xưng hô truyền thống như “Monsieur” (Quý ông) và “Madame” (Quý bà), và một số người thuộc phe cánh cộng sản thời kỳ đầu thì gọi nhau là “Đồng chí” (Camarade)…
Mặc dù những hiện tượng xã hội hỗn loạn này đã tác động đến suy nghĩ truyền thống của con người, nhưng quan niệm của con người không thể thay đổi ngay lập tức. Vì những người phổ thông đại chúng khi đó không thể ngay lập tức thích nghi với cuộc sống mà không có Cơ Đốc giáo. Thấy khó mà đạt được mục đích tiêu diệt chính tín, những kẻ thống trị liền lập ra một số tà giáo để thay thế các tôn giáo truyền thống vốn có ban đầu.
Vào mùa thu năm 1793, Jacques-René Hébert và Pierre-Gaspard Chaumette, những người vô Thần ở Công xã Paris, đã giới thiệu một tôn giáo vô Thần luận sùng bái lý tính, “Tôn giáo Lý tính” (Culte de la Raison), làm quốc giáo của Pháp. Trong đó, loại “tôn giáo” này phủ định tất cả các vị Thần, chỉ tôn trọng lý tính của con người. Bởi vì để thủ tiêu Cơ Đốc giáo, một số tòa nhà tôn giáo ban đầu như Nhà thờ Đức Bà Paris đã được biến thành “Đền thờ Lý tính” (Temple de la Raison), được sử dụng để cử hành nghi thức cúng bái một “Nữ thần Lý tính” (Déesse de la Raison) hư cấu vào ngày “Tết Lý tính” (Fête de la Raison).

Bức tranh khắc “Fête de la Raison” (Tết Lý tính), 15 × 9,5 cm, không rõ tác giả, vẽ năm 1793. (Tranh: Public Domain)
Những ai từng nghiên cứu triết học có thể dễ dàng nhận thấy dấu vết của tư tưởng Phong trào Khai sáng đằng sau tà giáo cực đoan đề cao lý tính của con người nhưng lại phủ nhận Thần này. Tên tiếng Pháp chính thức của “Kỷ nguyên Khai sáng” là “Siècle des Lumières”, được dịch theo nghĩa đen là “kỷ nguyên của ánh sáng”; vào nửa sau của thế kỷ XVII, thuật ngữ “Siècle éclairé” cũng xuất hiện, có thể được dịch theo nghĩa đen là “kỷ nguyên được chiếu sáng bởi ánh sáng”. Điều đáng nói là ác quỷ Lucifer (hay quỷ Satan) trong văn hóa phương Tây còn được gọi là “Porteur de lumière”, tức là “kẻ mang lại ánh sáng”.
Ngày nay nhiều người cho rằng Phong trào Khai sáng là tốt. Tại sao? Bởi vì trong sách giáo khoa chính là viết như thế, trong trường học đều dạy như thế. Nhưng trên thực tế, Phong trào Khai sáng là một phong trào tẩy não tất cả những người bình thường có tư tưởng truyền thống lúc bấy giờ, nhằm gạt bỏ chính tín của con người ra khỏi hệ tư tưởng, và tạo cơ sở lý luận cho cuộc cách mạng giết người sau này.
Những người trong Phong trào Khai sáng từ đủ các ngành các nghề khác nhau, nhưng họ có một điểm chung rất lớn, đó là nhất trí trong việc chống lại tín ngưỡng tôn giáo truyền thống. Bọn họ mô tả thời đại của tín ngưỡng thành kính đối với Thần là thời đại đen tối, tự gọi mình là “Những nhà khai sáng” (Hommes des Lumières), nhằm tiêu diệt tín ngưỡng, đem “ánh sáng” đến nhân gian, dựng xây “thời đại ánh sáng”. Vậy thì đây là ánh sáng của Lucifer chăng?
Những nhân vật nổi bật trong Thời đại Khai sáng là những nhà tư tưởng, triết học, xã hội học, nhà lý luận nổi tiếng mà chúng ta đã rất quen thuộc, kỳ thực họ đều được chọn lọc đưa vào sách giáo khoa. Rất nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử quen thuộc kỳ thực là thành viên trong các phong trào này, chẳng hạn như Voltaire – người luôn lăng mạ Cơ Đốc giáo, Paul Thiry d’Holbach – người trắng trợn tuyên truyền thuyết vô Thần, và Montesquieu – người công khai phản đối quân quyền Thần thụ, v.v..
Bởi vì thời đại đã lâu, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản đối với giới sử học đã là cực kỳ lớn, chiếm vai trò chủ đạo, nên nhiều vị Thánh nhân nổi tiếng trong lịch sử phương Tây thì người hiện đại không còn để ý rõ. Còn những nhân vật “khai sáng” thì lại rất được ưa chuộng. Chẳng hạn những người tùy ý khinh nhờn Thần linh như Voltaire ở thế kỷ 18 và Friedrich Nietzsche ở thế kỷ 19, đều nổi tiếng hơn nhiều so với Vua Louis IX, vị vua được sắc phong làm Thánh đồ nước Pháp, nổi tiếng với sự thành kính và nền trị lý đức hạnh. Điều này không thể không nói là kết quả của sự cố ý kiểm soát tư tưởng thông qua thâm nhập vào giới sử học. Những người trí thức hoàn toàn không nghĩ rằng hầu hết những người nổi tiếng mà họ nghiêm túc nghiên cứu và sùng bái là những kẻ điên cuồng đấu với Thần linh, Thiên Chúa.
……
Kính mời Quý vị xem chi viết tại đây: https://trithucvn.co/van-hoa/cong-xa-paris-lan-thu-nhat-va-nghe-thuat-tan-co-dien-khung-bo.html



Bình luận