Trong sách Khải Huyền, Kinh Thánh (17,3-4; 18,3; 17,6) có những viết những lời tiên tri về thế lực tà ác sẽ xuất hiện trong lịch sử nhân loại, dẫn dắt thế gian sa đọa như sau:
“Rồi đang khi tôi xuất thần, thiên thần đem tôi vào sa mạc. Ở đó, tôi thấy một người đàn bà ngồi trên một Con Thú màu đỏ thẫm; Con Thú mang đầy những danh hiệu xúc phạm đến Thiên Chúa, và có bảy đầu, mười sừng.”
“Người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm, trang sức bằng vàng, đá quý và ngọc trai; tay cầm một chén vàng chứa đầy những thứ ghê tởm và ô uế, tức là sự gian dâm của nó.”
“Vì mọi nước đã uống thứ rượu là sự gian dâm cuồng loạn của nó; vua chúa trần gian đã làm chuyện gian dâm với nó, và các con buôn trên trần gian đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa vô độ của nó.”
“Tôi thấy người đàn bà ấy say máu dân thánh và máu các chứng nhân của Đức Giê-su. Thấy nó, tôi vô cùng kinh ngạc.”
Nhìn lại những năm qua, liệu các vị “vua chúa trần gian”, những cường quốc phương Tây vốn tự hào là thế giới của tự do, có chống lại được cám dỗ sa đọa của thế lực Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự dẫn dắt của Giang Trạch Dân?
- Tiếp theo kỳ trước
4. Kỹ xảo cám dỗ ngày càng thành thục
Lỗ hổng đạo đức to lớn
Trung Quốc dưới ách thống trị của Trung Cộng, so với các nước dân chủ phương Tây, do thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau, nên mô thức vận hành quốc gia cũng tồn tại một khác biệt căn bản: quốc gia lấy việc duy trì chính quyền Trung Cộng làm mục đích tối cao, mọi chính sách đều phục vụ chính trị; chính sách kinh tế, chính sách ngoại giao, v.v. cũng là để duy trì tính chính danh của chính quyền Trung Cộng. Trung Cộng vì lợi ích chính trị của nó có thể hy sinh mọi lợi ích khác. Các nước phương Tây ở thời kỳ trước khi bị Trung Cộng thao túng thì ngược lại: sự vận hành quốc gia lấy phục vụ dân chúng làm trung tâm; chính phủ nhấn mạnh phát triển kinh tế, mục đích cũng là để dân chúng sống tốt hơn; lợi ích chính trị của các nước phương Tây phục vụ lợi ích dân chúng, lợi ích kinh tế.
Cho nên, xét từ căn bản, điểm xuất phát của chính sách kinh tế, ngoại giao của Trung Cộng là vì tư lợi một mình nó, chứ không phải vì dân chúng, thậm chí còn làm tổn hại lợi ích dân chúng. So với phương Tây, mô thức vận hành quốc gia của Trung Cộng có một lỗ hổng đạo đức to lớn.
Thập niên chín mươi, Giang Trạch Dân và Trung Cộng sau khi nhận được sự truyền máu kinh tế của phương Tây, tính chính danh cầm quyền trong nước được kéo dài tạm thời. Cùng với chiếc ví ngày càng dày lên, Trung Cộng dần dần có được một yếu tố then chốt để giao dịch với phương Tây: tư bản và con bài kinh tế. Chính sách ngoại hối của Trung Cộng khiến nó nắm quyền khống chế tuyệt đối đối với những khoản tư bản này; đồng thời Trung Cộng lại chẳng cần chịu trách nhiệm trước nhân dân Trung Quốc. Điều này khiến nó trong các cuộc giao dịch và đàm phán ngoại giao với các nhà tư bản và chính khách phương Tây có thể tùy ý sử dụng những khoản tư bản ấy, từ lợi ích kinh tế mà dùng phương thức “củ cà rốt và cây gậy” để cám dỗ và ép buộc các nước khác khuất phục. Nếu nước khác trước lợi ích không giữ vững được nguyên tắc, không nhận rõ được sự bại hoại về đạo đức của Trung Cộng, thì sẽ rơi vào cái tròng Trung Cộng giăng sẵn, từ bỏ nguyên tắc đạo đức, làm những việc hại người lợi mình.
Mỗi khi tâm lý đối Hoa của Mỹ có chiều hướng xấu đi, ngoại giao mua sắm của Trung Cộng liền kịp thời theo sát: thông qua những đơn hàng lớn tạo ảnh hưởng lên các tập đoàn lợi ích của Mỹ, rồi thông qua hoạt động tuyên truyền và vận động hành lang của chúng mà xoa dịu tâm lý dân chúng, gây áp lực lên chính phủ và Quốc hội Mỹ, hình thành ảnh hưởng có lợi cho Trung Cộng, đạt mục đích ngoại giao kinh tế đối Mỹ.
Động cơ đằng sau
Trong hơn 20 năm từ 1990 đến 2012, Trung Quốc đã tiến hành ngoại giao mua sắm với tần suất cao đối với các cường quốc phương Tây trong ba giai đoạn, lần lượt là: 1990-1994, 1997-1999, và từ 2004-2012. Kết hợp với tình thế chính trị – kinh tế quốc tế mà Trung Quốc ở vào trong ba quãng thời gian nói trên, chúng ta không khó phát hiện động cơ đằng sau.
Sau năm 1989, Trung Cộng vì nổ súng vào sinh viên và dân thường trong vụ “Lục Tứ” mà vấp phải chế tài kinh tế liên hợp và phong tỏa ngoại giao của các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu; nhất thời, các chuyến thăm cấp cao và nhiều kênh liên kết ngoại giao giữa Trung Quốc và các nước lớn phương Tây bị buộc phải gián đoạn. Ngoại giao mua sắm của Trung Cộng, vào lúc Trung Cộng nguy nan, đã gánh vác vai trò “cám dỗ lợi ích”: lợi dụng trạng thái thực dụng chủ nghĩa trọng lợi ích của phương Tây mà hoàn thành trọng trách phá băng về ngoại giao. Năm 1990, Trung Quốc mua một lần 9 tỷ đô la Mỹ máy bay Boeing. Từ năm 1990, liên tục 5 năm, mỗi năm Trung Quốc đều phái sang Mỹ ít nhất một đoàn mua sắm quy mô lớn, hòng “mua” những hàng hóa đủ để thúc đẩy cải thiện quan hệ hai nước. Với châu Âu, Trung Quốc năm 1991 và 1992 lần lượt phái hai đoàn mua sắm lớn đi mua, tổng ngạch mỗi năm đều đạt trên 1 tỷ đô la Mỹ. Quan hệ Trung – Âu nhờ đó được đồng tiền vá víu; Trung – Đức, Trung – Pháp lần lượt thực hiện các chuyến thăm cấp cao vào năm 1992, 1994. Sau năm 1992, sự phong tỏa ngoại giao của các nước phương Tây đối với Trung Quốc từng bước tan rã, trong đó ngoại giao mua sắm của Trung Quốc đóng vai trò quyết định.
Quãng tần suất cao thứ hai của ngoại giao mua sắm phân bố vào giữa và cuối thập niên 90 của thế kỷ 20. Khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995, 1996 đã qua; đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc bước vào giai đoạn cuối. Mỹ là đối thủ đàm phán quan trọng nhất, cũng là chướng ngại lớn nhất cho việc Trung Quốc nhập WTO. Thâm hụt thương mại đối Hoa tăng đều đặn trở thành tiêu điểm quan tâm của Mỹ. Vì vậy, thể hiện thành ý của Trung Quốc, xoa dịu tâm lý lo âu và kháng cự của Mỹ trong vấn đề thương mại trở thành mục đích cơ bản của ngoại giao mua sắm đối Mỹ của Trung Cộng bấy giờ. Năm 1998 là năm duy nhất trong 20 năm nước Mỹ không xuất hiện “thâm hụt kép” cả ngân sách lẫn thương mại, nhưng Trung Quốc vẫn liên tục 3 năm dâng lên Mỹ món quà hậu hĩnh bình quân 4 tỷ đô la Mỹ mỗi năm, làm loãng bầu không khí phản Hoa trong nước Mỹ, nhờ đó gia nhập được WTO.
Những năm sau đó, ngoại giao mua sắm giữa Trung Quốc và các nước bước vào giai đoạn tần suất cao thứ ba. Một mặt là do bản thân Trung Quốc nhờ truyền máu kinh tế từ nước ngoài mà khá lên; nhưng nguyên nhân trực tiếp hơn vẫn là cục diện xuất siêu thương mại giữa Trung Quốc với các nước phương Tây do sách lược “công xưởng mồ hôi nước mắt” của Trung Cộng gây ra trở nên dài hạn hóa, ổn định hóa và mở rộng hóa. Trung Cộng thông qua ngoại giao mua sắm để xoa dịu tâm lý phản Hoa của dân chúng Mỹ nảy sinh từ mức xuất siêu Trung – Mỹ gia tăng. Cho nên giữa tần số và phân bố tổng ngạch ngoại giao mua sắm Trung – Mỹ với tỷ lệ tăng thâm hụt thương mại đối Hoa của Mỹ tồn tại mức tương quan khá cao; tổng ngạch mua sắm sẽ tăng giảm tương ứng theo mức tăng giảm của tỷ lệ tăng thâm hụt thương mại đối Hoa của Mỹ năm trước đó.
Kỹ xảo sách lược ngày càng chín muồi
Trải qua hơn 10 năm thực tiễn, kỹ xảo sách lược trong ngoại giao đơn hàng của Trung Cộng ngày càng chín muồi, hiệu dụng mua sắm được tăng cường. Sự nâng cao này trước hết thể hiện ở việc nắm bắt thời gian: ngoại giao đơn hàng của Trung Quốc ngày càng chú trọng kéo dài quá trình hoạt động ngoại giao mua sắm hoặc kéo dài quá trình ký kết hợp đồng mua sắm, từ đó kéo dài thời gian tác dụng của hiệu quả ngoại giao, tăng cường sức ảnh hưởng. Ngoại giao đơn hàng thời kỳ đầu thường mua tập trung một lần, thời gian dài nhất chẳng quá 1 tháng, bởi bấy giờ Trung Cộng trong ngoài khốn đốn, cần kết quả nhanh gọn để giải vây. Còn những năm gần đây thì thể hiện thành phương thức chia đợt phái đoàn ra nước ngoài mua sắm: trong khoảng thời gian trước sau chuyến thăm của nguyên thủ, theo chủng loại mua sắm mà chia thành các đợt khác nhau lần lượt đến nước mục tiêu thực hiện mua sắm từ bắt đầu đến kết thúc có khi kéo dài tới nửa năm.
Lấy năm 2003 làm ví dụ: từ ngày 12 tháng 11 năm 2003, đoàn mua sắm máy bay, ô tô đợt đầu bắt đầu hành động, đến ngày 13 tháng 1 năm 2004, đoàn mua sắm viễn thông đợt cuối ký đơn hàng trước sau có 4 đoàn mua sắm chia đợt sang Mỹ, kéo dài suốt hai tháng. Đáng chú ý là ngày 18 tháng 11, chính phủ Mỹ đột nhiên tuyên bố đặt hạn ngạch nhập khẩu đối với vải dệt kim, áo choàng tắm, áo lót của Trung Quốc; tranh chấp thương mại này vừa khéo xảy ra trong chu kỳ mua sắm của đoàn Trung Quốc, thế là chính quyền Trung Cộng liền lợi dụng ngoại giao mua sắm phản ứng tức thì: tạm hủy chuyến sang Mỹ của đoàn mua sắm đậu tương thứ hai. Như vậy liền gây áp lực rất lớn lên thị trường nông nghiệp trong nước Mỹ; nhiều nghị sĩ Quốc hội Mỹ đến từ các bang sản xuất chính đậu tương, lúa mì, bao gồm lãnh tụ đảng Dân chủ Thượng viện Mỹ Daschle và Tổng giám đốc công ty bông toàn cầu Mỹ Zurenko (Jenningan) cùng gây áp lực lên chính quyền Bush con, cuối cùng buộc chính phủ Mỹ nhượng bộ; vài tuần sau, Trung Quốc khôi phục hành trình của đoàn mua sắm đậu tương.
Phương diện thứ hai cho thấy trình độ sách lược ngoại giao đơn hàng của Trung Cộng đã chơi ra chiêu trò, thể hiện ở phương thức ký kết hiệp định mua sắm: tránh trực tiếp ký hiệp định số tiền lớn, mà trước tiên ký hiệp định khung, hiệp định ý định; đến các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo sau đó mới ký hợp đồng cuối cùng. Việc ký đơn mua máy bay thường áp dụng chính hình thức này: từ lúc mới có ý định mua đến khi ký hợp đồng cuối cùng thường phải trải qua ba bốn lần xác nhận chính thức, trước sau có thể tới hai ba năm; mà mỗi lần xác nhận đều cần hai bên cùng tạo bầu không khí tốt đẹp về ngoại giao và chính trị, như vậy liền kéo dài độ dài thời gian Trung Cộng khống chế quan hệ hai nước và mức độ hữu hiệu của ngoại giao đơn hàng.
Tận dụng triệt để lòng tham của nhân loại
Cứ thế, ngoại giao đơn hàng do Giang Trạch Dân khai sáng đạt hiệu quả rõ rệt trong ngoại giao với phương Tây. Trung Cộng thông qua ngoại giao đơn hàng ép các nước phương Tây không thể áp dụng thái độ cứng rắn với Trung Cộng; đồng thời cũng khiến một loạt chính khách và doanh nghiệp phương Tây trở thành người ủng hộ, thậm chí “nhân viên tiếp thị” cho Trung Cộng.
Do việc Trung Cộng mua sắm quy mô lớn từ Mỹ khiến doanh nghiệp Mỹ hưởng lợi, các liên minh doanh nghiệp có sự tham gia của những tổ chức tài đoàn nắm thực lực kinh tế như Phòng Thương mại Mỹ, Hội đồng Doanh nhân Mỹ – Trung, Liên hợp hội Doanh nghiệp Thương mại Mỹ – Trung, v.v. tích cực chạy vạy cho Trung Cộng. Nỗ lực vận động hành lang của chúng bảo đảm rằng suốt thập niên 90 của thế kỷ 20, mỗi năm Mỹ đều gia hạn “quan hệ thương mại bình thường” đối Hoa. Sự trợ giúp của các công ty xuyên quốc gia lớn dành cho Trung Cộng đặc biệt nổi bật: công ty Boeing năm 1995 phát động một “Kế hoạch bình thường hóa thương mại đối Hoa” nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại Trung – Mỹ ổn định lâu dài; chúng còn lợi dụng sức ảnh hưởng của mình ở địa phương để thúc đẩy chính quyền các bang và các nghị sĩ ra mặt ủng hộ quan hệ thương mại với Trung Quốc, giữa chúng với nhau thậm chí có phân công và phối hợp: công ty Boeing phụ trách Washington và bang Kansas, công ty Motorola phụ trách bang Texas và bang Illinois.[28]
Tháng 10 năm 1999, khi Giang Trạch Dân thăm Anh, đã dâng lên nước Anh sự cám dỗ của những hợp đồng khoảng 4 tỷ đô la Mỹ. Tiếp đó, Giang Trạch Dân thăm Pháp. Tổng thống Pháp Chirac trước đó đã nhiều lần nếm vị ngọt của ngoại giao đơn hàng Trung Cộng; trước khi Giang đến thăm, ông ta bày tỏ với đại sứ Trung Quốc trú Pháp Ngô Kiến Dân: Trung Quốc đã tặng lễ lớn cho Anh, mong Trung Quốc với Pháp cũng có biểu thị gì đó, nếu không ông ta khó ăn khó nói với nhân dân Pháp.
Để xoa dịu và tìm kiếm sự ủng hộ của Pháp đối với Trung Quốc trong công việc quốc tế, Giang Trạch Dân chốt hạ cuộc đàm phán mua máy bay đã tiến hành một thời gian giữa Trung Quốc và tập đoàn Airbus, làm quà cho chuyến thăm Pháp. Giang còn tham quan đường sắt cao tốc của Pháp, thể hiện hứng thú mua công nghệ và thiết bị đường sắt cao tốc Pháp. Tổng thống Pháp Chirac tại buổi họp báo hớn hở nói: “Giang Trạch Dân đã đưa ra một quyết định khiến tôi vô cùng cảm kích: mua 8 máy bay cỡ lớn A340, 20 máy bay A318 và A319 của công ty công nghiệp Airbus. Đây là một thương vụ lớn trị giá 15 tỷ franc.” Ông ta nói tiếp: “Tôi đã trình bày với ông ấy những cái lợi nếu Trung Quốc mua tàu hỏa cao tốc của Pháp để dùng cho tuyến tàu cao tốc Bắc Kinh – Thượng Hải mà phía Trung Quốc đã có kế hoạch xây dựng.” Cái Giang nhận được đền đáp là sự ủng hộ của Pháp đối với việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.[29]
Chirac trong nhiệm kỳ thăm Trung Quốc bốn lần, lần nào cũng dẫn đoàn đại biểu cấp cao giới thương mại đông đảo, lần nào cũng ký với Trung Quốc những hợp đồng bán hàng khổng lồ đến nỗi bị truyền thông gọi là “siêu nhân viên tiếp thị”.[30] Tháng 10 năm 2004, khi Chirac thăm Trung Quốc, ngoài việc mang theo đội bay nhào lộn của không quân Pháp, còn dẫn theo một “biên đội chiến đấu” khác tức 4 bộ trưởng và 52 tổng giám đốc doanh nghiệp công thương Pháp. Trong 4 ngày ngắn ngủi, hai bên Trung – Pháp nhanh chóng ký gần 7 tỷ euro hợp đồng, trong đó bao gồm đơn hàng 26 máy bay của Trung Quốc dành cho tập đoàn Airbus Pháp, cùng dự án tập đoàn năng lượng hạt nhân Pháp AREVA đấu thầu nhà máy điện hạt nhân mới tại Trung Quốc.[31] Chưa hết, Trung Cộng cũng có cơ hội, trong quyết sách mua máy bay Boeing hay Airbus của Pháp, không ngừng chơi trò đơn hàng ngoại giao với cả Mỹ lẫn Pháp. Nhờ sự cám dỗ của những khoản tiền lớn, trò chơi này có thể nói là thử lần nào trúng lần nấy.
Trung Cộng cũng mở rộng kiểu cám dỗ lợi ích này sang phạm vi quân sự. Báo cáo thường niên 2011 của Ủy ban Thẩm tra Kinh tế và An ninh Mỹ – Trung thuộc Quốc hội Mỹ đưa tin: Trung Quốc lợi dụng các tướng lĩnh về hưu của Mỹ để ảnh hưởng chính sách đối Hoa của Mỹ. Báo cáo chỉ ra: tổ chức Hội Liên lạc Hữu nghị Quốc tế Trung Quốc (CAIFC) là tổ chức ngoại vi của Bộ Liên lạc Đối ngoại thuộc Tổng cục Chính trị Giải phóng quân, đã hậu thuẫn thành lập “Sáng kiến Tam Á” (The Sanya Initiative). Hoạt động giao lưu tướng lĩnh về hưu Mỹ – Trung của “Sáng kiến Tam Á” mời các sĩ quan Mỹ đã về hưu sang Trung Quốc thăm viếng. Trung Quốc thông qua phương thức “du lịch đế vương” cung cấp cho những vị khách đặc biệt người Mỹ này cơ hội làm ăn hoặc hùn hạp tại Trung Quốc. Còn những nhân viên quân sự về hưu này thì truyền đạt thông tin tuyên truyền và chính sách chính thức của Trung Quốc đến Quốc hội Mỹ và Lầu Năm Góc, và tiến hành công tác vận động hành lang.[32]
Trung Cộng không chỉ lợi dụng quan hệ thương mại để cải thiện quan hệ với nước khác, mà còn gắn thêm mục đích chính trị của mình vào ngoại giao đơn hàng như bức hại nhân quyền, v.v. khiến nước khác trong lúc thu lợi trực tiếp trở thành kẻ đồng minh của Trung Cộng.
Từ Giang Trạch Dân trở đi, Trung Cộng đã vận dụng chiêu số ngoại giao đơn hàng “dùng lợi ích kinh tế đổi lấy lợi ích chính trị” đến mức điêu luyện, dụ dỗ các chính trị gia, doanh nhân, phòng thương mại, người vận động hành lang của Mỹ và các nước phương Tây khác, vì lợi ích kinh tế mà ở mức độ rất lớn từ bỏ nguyên tắc nhân quyền, giá trị phổ quát, đạo nghĩa xã hội, công ích quốc tế. Sự phá hoại này đối với nguyên tắc đạo nghĩa của cộng đồng quốc tế và tiêu chuẩn vận hành công ích quốc tế là vô cùng nguy hiểm. Tuy trong ngắn hạn, việc nhân quyền bị tước đoạt chủ yếu xảy ra ở Trung Quốc, còn chưa lan đến Mỹ và châu Âu; nhưng xét về hiệu quả lâu dài, hành vi thiển cận “vì lợi bỏ nghĩa” đang dần dần bại hoại quan niệm đạo đức của cả nhân loại, cuối cùng ắt sẽ ảnh hưởng đến dân chủ, tự do, quan niệm giá trị và thể chế chính trị của xã hội phương Tây.
5. Hiệu ứng “xung hỷ” của truyền máu kinh tế
Truyền máu kinh tế giúp Trung Cộng có gan đối kháng giá trị phổ quát
….
Kính mời Quý vị xem bài viết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-9-2-cuoc-chien-ma-khong-ai-y-thuc-duoc.html



Bình luận