Trong sách Khải Huyền, Kinh Thánh (17,3-4; 18,3; 17,6) có viết những lời tiên tri về thế lực tà ác sẽ xuất hiện trong lịch sử nhân loại, dẫn dắt thế gian sa đọa như sau:

“Rồi đang khi tôi xuất thần, thiên thần đem tôi vào sa mạc. Ở đó, tôi thấy một người đàn bà ngồi trên một Con Thú màu đỏ thẫm; Con Thú mang đầy những danh hiệu xúc phạm đến Thiên Chúa, và có bảy đầu, mười sừng.”

“Người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm, trang sức bằng vàng, đá quý và ngọc trai; tay cầm một chén vàng chứa đầy những thứ ghê tởm và ô uế, tức là sự gian dâm của nó.”

“Vì mọi nước đã uống thứ rượu là sự gian dâm cuồng loạn của nó; vua chúa trần gian đã làm chuyện gian dâm với nó, và các con buôn trên trần gian đã trở nên giàu có nhờ sự xa hoa vô độ của nó.”

“Tôi thấy người đàn bà ấy say máu dân thánh và máu các chứng nhân của Đức Giê-su. Thấy nó, tôi vô cùng kinh ngạc.”

Nhìn lại những năm qua, liệu các vị “vua chúa trần gian” – những cường quốc phương Tây – vốn tự hào là ngọn cờ của thế giới của tự do, cùng những tập đoàn kinh tế đứng phía sau họ, có chống lại được cám dỗ sa đọa của thế lực Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự dẫn dắt của Giang Trạch Dân?

1. Cuộc chiến mà ít người ý thức được – Cuộc chiến lợi dụng lòng tham

Sự đảo ngược kinh người của thực lực quốc tế

Những gì Giang Trạch Dân thi hành trong hơn hai năm đầu cầm quyền hoàn toàn là lối tư duy “chống diễn biến hòa bình” trong hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản. Thế nhưng, đến Giáng sinh năm 1991, Liên Xô cũ chính thức tuyên bố giải thể; cuộc quấn đấu giữa hai đại tập đoàn thế giới cùng hai hệ tư tưởng, kéo theo cuộc đấu tranh gần trăm năm giữa thế giới tự do và tập đoàn chuyên chế cộng sản, cuối cùng đã phân định thắng bại. Thế giới tự do phương Tây đại diện cho các giá trị phổ quát của nhân loại như tự do, nhân quyền, dân chủ và kinh tế tự do giành được không chỉ là thắng lợi về quân sự, chính trị trong cuộc đối đầu hai đại trận doanh lớn nhất từ khi nhân loại có lịch sử, mà còn là đại thắng toàn phương vị về kinh tế, hệ tư tưởng, đạo nghĩa, v.v.. Có thể nói thời kỳ cực thịnh của thế giới tự do chính là lúc này, hơn nữa còn mang khí thế toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Đối lập với đó, Trung Cộng vốn đã mất tính chính danh cầm quyền vì cuộc thảm sát “Lục Tứ” (4/6), lúc này lại mất luôn tính chính danh về hệ tư tưởng. Chưa đầy một tháng sau khi Liên Xô chính thức tuyên bố giải thể, Đặng Tiểu Bình liền triển khai canh bạc cuối cùng trong sinh nhai chính trị của mình, chuyến Nam tuần chính là biểu hiện của việc Trung Cộng cùng nhân vật đại diện của nó mưu toan tự cứu. Đồng thời, tâm thái tàn cuộc biểu hiện phổ biến ở các quan chức Trung Cộng, từ một góc độ khác, phản ánh cú sốc tâm lý trước sự tan rã cuối cùng của tập đoàn chuyên chế cộng sản.

Như đã thuật ở trước, Giang Trạch Dân, với tư cách người cầm quyền thực tế của Trung Cộng không có cùng mưu toan như Đặng Tiểu Bình. Ngược lại ông ta còn thông qua chế độ mang tính hủ bại để kiến lập quyền lực cá nhân, mưu cầu lợi ích khổng lồ cho gia tộc và tập đoàn thế lực của mình, lại tàn hại trung lương, cắt đứt triệt để mọi cơ hội tự cứu của Trung Cộng, và đưa cả xã hội Trung Quốc vào vực thẳm nguy hiểm của sự sụp đổ đạo đức.

Đặng Tiểu Bình, hay Giang Trạch Dân, hay đủ hạng nhân vật trong nội bộ Trung Cộng, kẻ thì vì tự cứu, kẻ thì vì tư lợi, tuy hành vi khác nhau, nhưng cách họ ứng phó với cơn biến động lớn của thế giới cuối năm 1991 lại nhất trí cho thấy: Trung Cộng dù với tư cách tập đoàn cầm quyền, hay hệ tư tưởng mà nó đại diện trên toàn cầu đều ở thế tuyệt đối yếu kém và cô lập. Bấy giờ, các nhà quan sát quốc tế từng có đủ loại suy đoán về Trung Cộng; nhưng cũng như không ai dự đoán được trận doanh chủ nghĩa cộng sản sụp đổ chỉ sau một đêm, tuyệt đối không ai dự đoán được sự đảo ngược kinh người trong thế đối đầu thực lực giữa thế giới tự do và Trung Cộng trên vũ đài quốc tế hai mươi năm sau.

Lịch sử huyền bí đang làm sự an bài như thế nào? Thông qua những sự kiện mà con người không thể tưởng tượng này, nó muốn chỉ rõ cho nhân loại đạo lý gì? Trong cơn thiên biến vạn hóa đại khởi đại lạc, lật tay thành mây úp tay thành mưa ấy, chỉ để sót lại Trung Cộng không lớn không nhỏ, không chết không sống này đang khảo nghiệm nhân loại điều gì?

Sự xâm thực giá trị căn bản của nhân loại vượt quá Hitler và Stalin

Hai mươi năm tiếp theo tức hơn hai mươi năm Giang Trạch Dân cùng bang phái của ông ta ảnh hưởng chính trường Trung Quốc lại chính là hai mươi năm ảnh hưởng quốc tế của Trung Cộng tăng vọt. Ảnh hưởng này trên toàn cầu đã dấy lên nỗi lo ngại toàn phương vị; tiếng nói kêu gọi chính quyền Trung Cộng trở thành một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế chính là sự thể hiện khái quát của nỗi lo ngại ấy. Điều càng đáng lo là: cho đến nay, trong thế giới tự do lại vẫn chưa có ai đi sâu thăm dò hiện tượng lịch sử thế này, kẻ đại diện cho thế lực tàn dư của một tập đoàn cộng sản đã suy tàn, làm cách nào khiến thế giới tự do, vốn ngay cả khi đối mặt với sự uy hiếp của những tập đoàn quân sự hùng mạnh như Hitler, Stalin cũng không hề lép vế, chỉ trong vỏn vẹn hai mươi năm sa sút từ thời kỳ cực thịnh xuống cảnh phải liên tục thỏa hiệp nhượng bộ trước Trung Cộng. Một đoạn đảo ngược kinh người của thế đối đầu thực lực như thế, đặt vào bất kỳ thời kỳ lịch sử nào cũng sẽ là chấn động lòng người; vậy mà trong thế giới hiện thực, nó chẳng những không được nhận thức, ngược lại cái gọi là “trỗi dậy” của Trung Cộng trong thế giới tự do lại còn được người ta ganh tị, thậm chí muốn mô phỏng. Sự xâm thực của Giang Trạch Dân và Trung Cộng đối với giá trị căn bản của thế giới tự do đã vượt xa mức độ mà Hitler và Stalin có thể tưởng tượng.

Kỳ thực, hành vi của Giang Trạch Dân trên trường quốc tế với hành vi của ông ta ở Trung Quốc không khác chút nào: đó là lợi dụng lòng tham của con người. Từ các chương trước, chúng ta thấy: thủ pháp Giang Trạch Dân dùng ở Trung Quốc là buông tay cho hủ bại, dùng quyền và lợi để mua chuộc quan chức Trung Cộng. Trên trường quốc tế, thủ pháp Giang Trạch Dân dùng là lấy quyền lợi mua chuộc sự thỏa hiệp nhân nhượng của cộng đồng quốc tế đối với mình. Chính sách quốc tế của Trung Cộng đơn giản đến mức trần trụi: anh mà phê bình nhân quyền hay các chính sách khác của tôi, tôi liền đi làm ăn với kẻ khác.

Thế nhưng, điều này đã tạo ra một thứ “khiếp sợ”, nỗi khiếp sợ phổ biến trong thế giới tự do: sợ để mất cơ hội kiếm tiền vào tay kẻ khác. Trung Cộng còn xa mới có thực lực quân sự như Hitler, Stalin; có điều, thứ khiếp sợ mà Trung Cộng tạo ra bằng cách lợi dụng lòng tham của con người lại khó chống đỡ hơn nhiều so với nỗi khiếp sợ do xe tăng của Hitler và vũ khí hạt nhân của Stalin gây nên. Để không bỏ lỡ những món lợi mà Trung Cộng nhả ra về lợi ích kinh tế, thế giới tự do liền nhượng lợi cho Trung Cộng về lợi ích chính trị, từ bỏ quan niệm giá trị của chính mình. Đây chính là bản chất cốt lõi nhất trong cách thế giới tự do giao thiệp với Trung Cộng trong hai mươi năm; đây chính là nguyên nhân căn bản của sự đảo ngược kinh người trong thế đối đầu hai bên. Đây là một kiểu chính trị quốc tế chưa từng có trong lịch sử nhân loại; bản thân sự xuất hiện của nó chính là biểu hiện của khuyết thiếu đạo đức. Thế giới tự do phương Tây đến nay vẫn tưởng rằng vấn đề kinh tế dẫn đến đà trượt dốc của mình, mà chưa nhận thức được rằng: giá trị bị xâm thực mới là nguyên nhân căn bản.

Chiến tranh lợi dụng lòng tham bắt đầu trong bất tri bất giác

Chính sách ngoại giao của Trung Cộng lấy việc nhượng lợi ích kinh tế làm thực chất thực sự bắt đầu từ sau vụ “Lục Tứ”, khi Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền, cực kỳ cô lập trên trường quốc tế. Để đổi lấy chút thừa nhận đáng thương trên trường quốc tế, Trung Cộng có thể ban phát lợi ích cực lớn. Tình hình lúc bấy giờ là: cho dù Trung Cộng có thể trần trụi nhả lợi, thế giới tự do vừa mới giành thắng lợi đạo nghĩa toàn cầu, trước cám dỗ ấy, trong mấy năm đầu vẫn còn áp lực đạo nghĩa nên khinh miệt mà tránh xa. Việc Tổng thống Bush cha phái Brent Scowcroft bí mật thăm Trung Quốc sau “Lục Tứ” từng dấy lên sóng gió lớn. Đối mặt với sự nhả lợi của Trung Cộng, mấy năm đầu phương Tây cũng còn chần chừ không tiến. Vì vậy, những kẻ nhận được ưu đãi của Trung Cộng trong mấy năm đầu sau Lục Tứ chủ yếu vẫn là các nhà đầu tư vừa và nhỏ gốc Hoa, đặc biệt là thương nhân Đài Loan.

Thế nhưng, sự cám dỗ từ lợi ích của Trung Cộng cuối cùng đã gặm nhấm, chiến thắng sự kiên thủ đạo nghĩa của thế giới tự do. Vì thể diện đạo nghĩa bề ngoài, thế giới tự do hai mươi năm qua đã lần lượt bịa ra nhiều lý do khác nhau để chấp nhận sự nhả lợi của Trung Cộng, đại loại như: giúp Trung Quốc phát triển kinh tế thị trường, kinh tế phát triển rồi sẽ có giai cấp trung lưu, người ta sẽ đòi hỏi quyền lợi, sẽ dẫn đến dân chủ; giúp các công ty Trung Quốc hội nhập quốc tế; giúp Trung Quốc kiến lập pháp chế, v.v. Lịch sử hai mươi năm chứng minh: những lý do này không một điều nào là thật; chỉ có việc nhận lấy sự nhượng lợi kinh tế của Trung Cộng rồi nhượng lợi chính trị lại cho Trung Cộng là hai mươi năm như một ngày, đến nỗi khi cựu Ngoại trưởng Clinton thăm Trung Quốc, bà ta lại công khai tuyên bố: Vấn đề nhân quyền không nên cản trở sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Cộng trong những vấn đề “quan trọng hơn”.

Đến đây, trên vũ đài chính trị của xã hội thế giới đã không còn thứ gì quan trọng hơn kinh tế nữa. Thế giới ngày nay, có chính khách tranh cử nào dám không đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu? Còn giá trị phổ quát nào có thể thay đổi hiện trạng này? Còn tinh thần nào của nhân loại có thể hấp dẫn cử tri hơn việc làm tốt kinh tế? Khi nỗi khiếp sợ chỉ e không làm ăn được với Trung Cộng đã thấm vào xương máu, thế giới tự do liệu còn tự do nữa không? Khi kinh tế, kiếm tiền đã trở thành trung tâm áp đảo tất cả trong hoạt động của nhân loại, lịch sử nhân loại phải chăng đã sắp đi đến hồi kết? Nếu không phải vậy, thì nhân loại sẽ dựa vào tinh thần gì để tiếp nối hay khai sáng lịch sử mới?

2. Truyền máu kinh tế

Trung Cộng và các tập đoàn kinh tế nước ngoài lợi dụng lẫn nhau

“Cải cách mở cửa” của Trung Cộng, cải cách cái gì thì người đời xưa nay chẳng ai rõ; chỉ biết rằng về chính trị, về pháp chế, về chính sách kinh tế, về tình trạng nhân quyền. Tóm lại là mọi mặt của xã hội, vấn đề quá nhiều, những thứ cần cải cách quá nhiều, tích tụ nặng nề khó quay đầu. Hơn nữa ngày nay người đời đều đã hiểu: hy vọng chính quyền Trung Cộng thông qua cái nó tự xưng là “cải cách mở cửa” mà đi tới xã hội theo nghĩa thông thường của kinh tế thị trường tự do phương Tây và tiêu chuẩn nhân quyền, chẳng khác nào nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng cái “mở cửa” của Trung Cộng thì lại rất rõ ràng: đó là há to cái miệng chậu máu, trăm phương nghìn kế thu hút vốn nước ngoài đổ vào, dùng vốn liếng và kỹ thuật tích lũy mấy trăm năm của chủ nghĩa tư bản phương Tây để vỗ béo cao tốc thế lực của Trung Cộng.

“Cải cách mở cửa” của Trung Cộng luôn là dùng phát triển kinh tế để che đậy và giúp vượt qua những khủng hoảng chính trị liên miên. Sau vụ “Lục Tứ” năm 1989, Trung Cộng đối mặt với chế tài quốc tế; thế nhưng chẳng bao lâu, quan hệ kinh tế giữa phương Tây với Trung Quốc đã bắt đầu khôi phục. Đặc biệt sau bài nói chuyện Nam tuần năm 92 của Đặng Tiểu Bình, lại dấy lên thêm một làn sóng đầu tư của thương nhân nước ngoài. Trong mấy năm đầu thập niên 90, Mỹ, với tư cách thị trường xuất khẩu và đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc. Quốc hội Mỹ còn phải mỗi năm họp chuyên đề, thảo luận có tiếp tục phê chuẩn quy chế tối huệ quốc dành cho Trung Quốc năm đó hay không; như vậy ít nhất còn khiến Trung Cộng cảm thấy chút áp lực về vấn đề nhân quyền. Trung Cộng thông qua các công ty xuyên quốc gia đầu tư tại Trung Quốc ra sức vận động giới chính trị Mỹ, khiến quy chế tối huệ quốc và vấn đề nhân quyền bị tách rời ngay trong nhiệm kỳ chính quyền Clinton, thời kỳ nhân quyền Trung Quốc tồi tệ nhất. Khi Giang Trạch Dân năm 1999 dốc sức cả nước bức hại Pháp Luân Công, cộng đồng quốc tế về cơ bản đã không phát ra nổi tiếng nói thực chất nào, càng không áp dụng được hành động gì, bởi quan hệ trói buộc lợi ích kinh tế với Trung Cộng đã chủ đạo chính sách đối Hoa của phương Tây.

Pháo đài cuối cùng của thế giới không đánh mà tự sụp: cùng với sự mềm yếu của chính sách đối Hoa của Mỹ, cả cộng đồng quốc tế đã không còn bất kỳ năng lực nào để đưa ra chất vấn mang tính chế tài quốc tế đối với nhân quyền Trung Quốc. Trung Quốc năm 2001 được phê chuẩn gia nhập WTO, đầu tư hải ngoại vào Trung Quốc tăng rõ rệt. Sự truyền máu kinh tế từ bên ngoài đã giúp Trung Cộng chế tạo ra một sự phồn vinh kinh tế hám lợi trước mắt, bất chấp giá thành. Sự “phồn vinh” này vừa cho Trung Cộng tài lực để bức hại nhân quyền, vừa cho Trung Cộng cái cớ để lấp liếm với bên ngoài, lừa mị dân chúng của chính mình. Thế là sự cướp đoạt và lãng phí tài nguyên quốc gia, sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng càng trở nên mặc sức không kiêng dè.

Dưới đây là số liệu đầu tư vốn nước ngoài của Bộ Thương mại Trung Quốc, có thể thấy tình hình vốn ngoại truyền máu kinh tế cho nước Trung Cộng: từ tổng vốn ngoại thực tế sử dụng lũy kế mười năm 1979-1989 chưa đến 60 tỷ, đến năm 2010, tổng lũy kế đã cao tới hơn 1.250 tỷ. Quy mô dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm của Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới, đã liên tục nhiều năm giữ vị trí số một trong các nước đang phát triển.

Nguồn tư liệu: trang chính thức Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, trang chính thức Bộ Thương mại Trung Quốc, “Niên giám Thống kê Trung Quốc” các kỳ qua các năm.

*Từ năm 2001, do điều chỉnh phạm vi thống kê, Trung Quốc không còn công bố số liệu vay nước ngoài, chuyển sang dùng phạm vi thống kê nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế, do Cục Quản lý Ngoại hối Quốc gia công bố riêng.

Nguồn tư liệu: “Số liệu quốc biệt” của chính phủ Trung Quốc (countryreport.mofcom.gov.cn)

Những nhân tố không bình thường của tăng trưởng kinh tế

Trung Quốc lẽ ra đã giàu từ lâu, nếu không có Đảng Cộng sản. Trung Quốc từng giàu có, trước khi có Đảng Cộng sản. Người Trung Quốc bằng sự cần cù dũng cảm của mình mà làm giàu, bằng trí tuệ và năng lực của mình mà phát triển tài phú của quốc gia và cá nhân. Mấy nghìn năm lịch sử đã đi qua như thế. Mấy chục năm bị Trung Cộng cắt đứt mạch duyên lịch sử, trôi dạt khỏi quỹ đạo bình thường của thế giới, người Trung Quốc trở nên nghèo hơn, khổ hơn. Đây là tai họa do Trung Cộng gây ra.

Nhà kinh tế học Dương Tiểu Khải từng nói câu thế này: “Có nhà kinh tế học nói Mỹ là thị trường lớn thực sự đầu tiên của thế giới, nó mở cửa cho ai, nước ấy liền giàu.”

Lượng vốn khổng lồ mà các tập đoàn đại tư bản xuyên quốc gia trong toàn cầu hóa kinh tế cố ý mang đến cho chính quyền Trung Cộng đã chống đỡ tính chính danh lung lay sắp đổ của Trung Cộng. Kỹ thuật tiên tiến tích lũy mấy trăm năm của phương Tây cùng cơ hội gia công chế tạo được cung cấp cho Trung Cộng, trước hết đã giúp chính quyền Trung Cộng giành được thời cơ “hoa quỳnh thoáng nở”, đây là kết quả trực tiếp của “truyền máu kinh tế”. Lực lượng lao động rẻ mạt khổng lồ bị Trung Cộng vắt cho nghèo đến phát sợ, điều kiện khổ mấy mệt mấy cũng chịu làm, mà lại làm việc lâu dài, ổn định (riêng dân công đã hơn 200 triệu), với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt cần đội ngũ công nhân kỹ thuật ổn định mà nói, vô cùng hấp dẫn. “Ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Quốc, không có công đoàn, nông hội độc lập khiến tài nguyên, môi trường có thể bị khai thác quá mức và gây ô nhiễm không chịu bất kỳ ràng buộc nào. Cộng thêm một môi trường quốc tế tương đối hòa bình do các nước phát triển, nhất là Mỹ, duy trì, v.v. đủ loại nhân duyên hội tụ lại một chỗ, tạo nên sự biến đổi của kinh tế Trung Quốc.

Mấy nhân tố này lại nương tựa lẫn nhau. Trung Cộng đặt cược tính chính danh cầm quyền vào phát triển kinh tế, cần vốn và truyền máu kinh tế của phương Tây; để thu hút vốn ngoại, Trung Cộng nhân tạo chế ra “ưu thế nhân quyền thấp” cực độ, giúp thương nhân nước ngoài tránh được gánh nặng “công đoàn dọa chạy nhà đầu tư, nông hội đuổi khách khoanh đất”. Nhiều thương nhân nước ngoài, vì muốn lợi dụng lao động rẻ mạt của Trung Quốc và chia phần miếng bánh thị trường Trung Quốc tương lai trong tưởng tượng của họ, đã không tiếc sức vận động chính phủ nước mình đừng can thiệp vào sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng, tách đầu tư khỏi nhân quyền, rao bán những lý do tựa đúng mà sai như “Trung Quốc đang tiến bước trên con đường tiếp cận dân chủ phương Tây”, “phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy cải cách chính trị của Trung Quốc”, “Internet phổ cập sẽ mang đến tự do báo chí cho Trung Quốc”. Có thể nói, Trung Cộng cùng rất nhiều thương nhân nước ngoài, vì tối đa hóa lợi ích tự thân, đã hy sinh phúc lợi lâu dài của nhân dân Trung Quốc, tạo nên hiện trạng Trung Quốc ngày nay. Đồng thời cũng hy sinh lợi ích của nhân dân nước họ, tổn thương quốc bản của họ, gây nên tình trạng trì trệ ảm đạm của kinh tế bản địa.

Nếu năm xưa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia dùng cùng phương pháp ấy đối đãi với Liên Xô cũ và trận doanh xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thì cục diện thế giới hôm nay sẽ là một tình cảnh hoàn toàn khác. Vì vậy, kỳ tích kinh tế của Trung Cộng chẳng phải kỳ tích gì cả, chỉ là các tập đoàn xuyên quốc gia di chuyển tài nguyên thế giới, chất đống tại nơi này khiến Trung Cộng thành một kẻ phất lên tạm thời mà thôi. Bất cứ lúc nào, khi lợi ích và tài nguyên có thể vắt ra không còn thỏa mãn nổi cái dạ dày khổng lồ của các tập đoàn xuyên quốc gia, thì đó chính là lúc các tập đoàn xuyên quốc gia từ bỏ và vứt bỏ Trung Cộng. Họ bất chấp lợi ích lâu dài của nhân dân Trung Quốc mà làm hại Trung Quốc, và làm hại lợi ích của các công ty nhỏ nước ngoài khác chạy theo phong trào.

Chính vì truyền máu kinh tế là sự vận hành mang tính chất như thế, các tập đoàn kinh tế nước ngoài không chịu trách nhiệm về bất kỳ tổn thất nào của nhân dân Trung Quốc; chính quyền Trung Cộng không cần thực sự gánh trách nhiệm về việc sử dụng nguồn tài chính, cho nên Trung Quốc uổng có khoản tài phú to lớn nhường ấy suốt bao năm mà đảng giàu dân nghèo, đảng tiến dân lùi; có tiền kiếm được rồi, chỉ số đời sống vẫn xếp cuối thế giới; giàu nghèo phân hóa, dân sinh không được bảo đảm; khủng hoảng bất tín nhiệm đối với Trung Cộng nằm trong lòng dân; những nhân tố phát triển kinh tế bình thường đã bị sự bại hoại hủ hóa trong đạo đức cầm quyền của Trung Cộng phá hỏng. Ngược lại, quan chức đạo đức càng hủ bại càng phát tài: tài nguyên quốc tế biến thành tư bản đảng-quốc, rồi biến thành tài phú tư nhân, thậm chí cuối cùng chuyển sang đứng tên tài khoản cá nhân ở hải ngoại. Vòng tuần hoàn vốn ác tính xoay chuyển như thế.

Truyền máu kinh tế giúp Trung Cộng đạt được tăng trưởng về con số kinh tế, nhưng kinh tế Trung Quốc thể hiện ra là sự phát triển dị dạng: bởi chế độ chính trị không đề xướng cạnh tranh tự do, chế độ pháp luật không bảo hộ giao dịch công bằng, phân phối bất công, giàu nghèo phân hóa, hoàn toàn không để phương Tây được chia sẻ rộng rãi cái thị trường khổng lồ tiềm tàng của Trung Quốc. Ngược lại, các công ty phương Tây chuyển ngành chế tạo sang Trung Quốc; sản phẩm giá rẻ mà Trung Quốc dựa vào ưu thế nhân quyền thấp chế tạo ra lại xung kích cả thế giới, gây thất nghiệp hàng loạt ở các nước khác; hơn nữa các nước phát triển phương Tây, đặc biệt là Mỹ, đang đối mặt khủng hoảng rỗng ruột ngành chế tạo, đứt gãy chuỗi sản nghiệp. Quốc gia mất đi năng lực chế tạo đang dần dần mất luôn năng lực sáng tạo, tổn thương quốc bản, đây là hậu quả thực sự đáng sợ.

Mời gọi đầu tư đến đỏ cả mắt

…..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-9-1-cuoc-chien-ma-it-nguoi-y-thuc-duoc.html