Đạo Khổng: Học với mục tiêu giúp ích xã hội
giúp người học thành tựu tài năng và đức hạnh

Tác giả: Ogyu Sorai
Dịch giả: Nguyễn Sơn Hùng

(Tiếp theo bài 6)

*

Lời thưa trước

Bài này có nội dung dài thứ 2 sau bài 22 trong 25 bài của Biện Đạo. Ngoài ra, giáo thụ Nishida Taichirô đã chịu khó nghiên cứu các tài liệu mà Sorai trích dẫn hoặc có thể đã tham khảo. Người dịch cho rằng đây là thông tin đáng quý nên đã cố gắng tìm đến nguyên văn và biên dịch lại để cung cấp đến quý độc giả cơ hội khi muốn tìm hiểu thêm chi tiết, đồng thời để thấy mức độ học rộng hiểu nhiều của Sorai. Do đó, số trang cho bài này trở nên rất dài, mong được thông cảm.

Ở đây người dịch thử dùng cách diễn tả của toán học để tóm tắt ngắn gọn ý chính của mỗi đoạn để quý độc giả có thể nhanh chóng nhớ lại nội dung mà không phải mất thời giờ đọc.

*

Đạo Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an dân) quan trọng nhất

Đạo Khổng lấy đức nhân làm to lớn (quan trọng) nhất. Tại sao vậy? Bởi vì đức nhân thể hiện ra (cho thấy cụ thể) hết nội dung của đạo tiên vương. Đạo tiên vương là đạo an dân (an thiên hạ) (tạo cho dân cuộc sống hạnh phúc, hòa bình và thịnh vượng). Mặc dù nội dung đạo tiên vương bao gồm rất nhiều lĩnh vực nhưng mục đích quy tụ lại của đạo là chỉ để thực hiện việc an dân (= nhân).

Cơ sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh (= nhiệm vụ an dân của trời giao phó)

Cơ sở của đạo Khổng (tức đạo an dân) là kính thiên mệnh (tôn trọng việc trời bảo phải làm mà việc trọng yếu nhất là an dân). Nếu như thiên mệnh bảo ta làm thiên tử (vua cả nước), hoặc làm chư hầu (vua nước nhỏ, người đứng đầu của 1 vùng), hoặc làm đại phu (chức quan lớn của cả nước, như bộ trưởng ngày nay) thì trời cho ta có bề tôi (cấp dưới cùng phụ giúp thực hiện nhiệm vụ) và dân (ý nói trời cho ta chào đời trong các gia tộc của vua, chư hầu và quan đại phu). Nếu như mệnh trời bảo ta làm người sĩ (chức quan nhỏ hơn đại phu hoặc người có học thức để phục vụ xã hội) thì trời cho ta dòng họ (tôn tộc) và vợ con. Tất cả đều chờ ta lo cho họ được sống an vui hạnh phúc. Ngoài ra, người sĩ, đại phu (nguyên văn không viết nhưng bao gồm cả chư hầu) là những người được trời giao phó giúp vua thực hiện thiên chức an dân (phục vụ xã hội) (1). Do đó, đức nhân (phục vụ xã hội) phải là đức cao nhất đối với đạo của người quân tử (tức là đạo của những người được giao cho thiên chức an dân). Hơn nữa, gần gũi trông nom nhau (tương thân), thương yêu nhau (tương ái), giúp nhau cùng phát triển (tương sinh), giúp nhau đạt được mục đích (tương thành), giúp đỡ nhau làm việc cho tốt (tương phụ), nuôi dưỡng bồi đắp nhau (tương dưỡng), chỉnh sửa nhau (tương khuôn), giúp nhau khi hoạn nạn (tương cứu) là bản tính bẩm sinh của con người(a). (Chúng ta nên nhớ rằng nhờ có bản tính này mà con người còn tồn tại đến ngày nay trong điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên. Ngày nay sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật đã làm cho con người có khuynh hướng quên đi điều căn bản này nhưng ngẫm nghĩ kỹ lại sẽ thấy không sai. )

Nhân là đức để đủ tư cách làm người (giải thích của Mạnh tử)

Do đó, Mạnh tử nói: “Nhân (仁) là đức để đủ tư cách làm người (nhân dã giả nhân dã – 仁也者人也). Kết hợp con người và đức nhân lại với nhau là đạo làm người.” (2) . Tuân tử nói “Quân (君 – vua) là quần (群)” là người giỏi tụ họp được số đông người (quần) (Quân giả quần dã – 君者群也)(3). Vì vậy, đạo làm người không phải chỉ nói về 1 cá nhân của con người mà chắc chắn là nói cho tập hợp của hàng vạn ức con người hợp nhau lại. Bây giờ hãy nhìn xem trong xã hội có ai sống riêng rẽ mà không sống chung với người khác không?

Đạo tiên vương kết hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển

Sĩ, nông, công, thương đều tương trợ nhau để sinh sống. Nếu không tương trợ nhau thì không thể nào sinh tồn được. Mặc dù là hạng người trộm cắp nhưng chắc chắn họ cũng phải có đồng bọn. Bởi vì nếu không có đồng bọn (không tụ họp chung lại như vậy) thì họ không thể nào sinh tồn được. Người có khả năng kết hợp, thống lãnh được hàng vạn ức con người là vua (quân). Đạo mà có thể kết hợp được hàng vạn ức con người và phát huy được bản tính thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển là đạo tiên vương.

Học đạo tiên vương là để có được đức trong con người của mình (thành đức ư ngã). Có được đức bằng việc học đạo tiên vương là người có đức nhân (nhân nhân) (Nên lưu ý, có được đức của đạo tiên vương mới là nhân nhân, chứ không phải có loại đức nào khác cũng là nhân nhân, bởi vì nội dung của đạo tiên vương là đào tạo, hình thành đức nhân ở người học. Thí dụ có tài đức nhưng chỉ phục vụ cho bản thân thì không phải là nhân nhân. Do đó đạo tiên vương xem nhân là chí đại).

Học với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học thành tựu được tài năng và đức hạnh (Nhân (= giúp đời) → Tài + Đức)

Người sĩ (người học để phục vụ xã hội) muốn học đạo tiên vương để có được đức nhưng đạo tiên vương lại bao trùm nhiều lĩnh vực. Trong khi đó bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của con người lại đa dạng có nhiều loại. Do đó, nếu như người học biết nhận thức rõ rằng đạo tiên vương cốt yếu hướng về việc xây dựng xã hội được an vui mà để hết sức lực khả năng của bản thân hướng về nhân (tức là học với mục đích giúp ích xã hội) (4) thì ai cũng có thể thành tựu được 1 hay vài lĩnh vực trong đạo tiên vương mà lĩnh vực đó gần với bản tính bẩm sinh (hoặc năng khiếu) của mình(5). Thí dụ, trong các đệ tử của Khổng tử, Trọng Do (tự là Tử Lộ) thì dũng cảm (dũng), Đoạn Mộc Tứ (tự là Tử Cống) thì thông thái (đạt), Nhiễm Cầu (tự là Tử Hữu) thì giỏi nhiều kỹ năng (nghệ) (6). Mỗi người đều thành tựu 1 loại tài năng, đủ để gia nhập vào nhóm của người có đức nhân(b), và khả năng của họ đủ để phục vụ cho việc an dân. Về việc thành tựu đức thì giống như (đức) thanh bạch của Bá Di và Thúc Tề, (đức) ôn hòa của Liễu Hạ Huệ, (đức) chịu đựng được trọng trách của Y Doãn(7). Tất cả đều không cần phải thay đổi bản tính của mình mà không có trở ngại để trở thành người có đức nhân (nhân nhân). Nếu như người học không biết dùng tâm sức học hướng về nhân (tức là học mà không có mục đích để giúp ích xã hội) thì cả tài và đức đều không thành tựu. Đó là trường hợp của các học phái khác. Do lý do này mà học phái của Khổng tử xem trọng và truyền dạy (đức) nhân.

Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân ≈ ái+ trạch)

Lòng trắc ẩn (không nở lòng bỏ qua người đang bị hoạn nạn) (8) là tình thương yêu mà Mạnh tử dùng để giải thích đức nhân. Bởi vì thuyết tính thiện (Mạnh tử chủ trương bản tính bẩm sinh con người là thiện) phải căn cứ vào tâm nên ông phải dùng tình thương yêu mà giải thích đức nhân. Tuy nhiên dù có lòng tương yêu nhưng không thể đem ơn huệ đến được cho người hoặc vật (nghĩa là giúp ích cụ thể) thì có thể gọi nhân (có đức nhân) không? Do lý do này, Mạnh tử mới phải chủ trương thêm việc quản trị dân chúng bằng đức nhân (nhân chính) (9).

Các hậu Nho không phát hiện ra việc Mạnh tử chủ trương tính thiện là để khích lệ con người, và họ lại cho rằng ở mặt nỗ lực hướng về nhân, không có học thuyết (chủ trương) nào thích hợp hơn của Mạnh tử (Ý Sorai ám chỉ Chu Hy và Itô jinsai) (10). Cho nên họ chủ trương làm cho lòng trắc ẩn mạnh lớn thêm để hoàn thành đức nhân của thánh nhân. Phải nói chủ trương này là ý tưởng hoang đường, không biết phận mình (bởi vì để có được đức nhân trong con người của mình không phải dễ dàng như vậy). Người đưa ra chủ trương trên (tức Jinsai) lại nói thêm rằng Phật giáo có nhân nhưng không có nghĩa(11). Tuy nhiên, Phật giáo không có đạo an dân thì làm sao có thể nói là có đức nhân?

Mặc tử (12) lại cho rằng ở đạo tiên vương không có gì cao hơn đức nhân, và nghĩ rằng nhân có thể thay thế hết được mọi thứ khác. Đúng là “Đức vĩ đại của trời đất là (đức) sinh” (cho ra đời , cho sống) (13), và nhân cũng là đức vĩ đại của thánh nhân nhưng Mặc tử không hiểu rằng mặc dù nhân là đức vĩ đại nhưng cũng chỉ là 1 thứ đức. Nếu như đức của trời đất chỉ tóm thu về đức sinh thì tại sao là có thêm mùa hạ, mùa thu và mùa đông (tức 2 mùa gây khó khăn cho sự sống). Nếu đức của thánh nhân chỉ tóm thu vào đức nhân thì tại sao lại có các thứ đức như dũng, trí, tín, nghĩa (b)… Mạnh tử đưa ra nhân và nghĩa để đả phá chủ trương của Mặc tử là đúng(14). Tuy nhiên, bởi vì đem nghĩa nói chung ngang hàng với nhân nên đức nhân từ đó trở thành thứ đức nhỏ! Chủ trương đức nhân là to lớn của khi xưa đã đi đâu rồi! (Có lẽ vì lý do này mà người đời sau quên đi đạo Khổng là đạo an dân, chỉ hạn định đạo Khổng như đạo tu thân của cá nhân. Thật đáng tiếc!)

Tống Nho bỏ qua mục đích thực tiễn của đạo tiên vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải thích ý nghĩa của nhân (仁)

Tống Nho lại muốn kết hợp cả 2 trường hợp “lớn” và “nhỏ” nói trên của đức nhân nên đặt ra phân loại bằng 2 từ vựng chuyên ngôn (専言) (hoặc thống ngôn – 統言) và thiên ngôn (偏言) (15). Chuyên ngôn dùng để chỉ trường hợp đức nhân bao gồm hết tất cả các đức khác như nghĩa, lễ (theo Sorai lễ và nghĩa không phải là đức), trí. Thiên ngôn dùng để chỉ trường hợp nhân đi chung với các đức khác (thí dụ, khi nói nhân nghĩa). Họ mong rằng bằng cách này có thể tránh sự đối nghịch lẫn nhau khi sắp xếp lời dạy của Khổng tử và lời dạy của Mạnh tử chung với nhau. Đó là chủ trương của phái Lý học (tức học phái của Trình tử và Chu tử, của Tống Nho)(16). Họ bỏ qua cái thực tiễn mà các tiên vương dùng để an dân, họ chỉ muốn sự rõ ràng ý nghĩa ở mặt ngôn ngữ! Việc làm của họ đủ để người đời hiểu rõ đạo tiên vương, đạo Khổng hay sao?

Đạo tiên vương bao quát nhiều lĩnh vực. Ở đây thử nêu ra giải thích vài nội dung đặc biệt (đặc dị). Trong việc quản trị dân chúng việc cấm bạo động, quân sự và hình phạt là việc đưa đến giết người, những nội dung này có thể gọi là (đức) nhân không? Tuy nhiên, những việc này cần để an dân (d).

Cần chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà tu dưỡng cho thành đạt với mục đích phục vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức, y ư nhân”

Nội dung dạy của đạo tiên vương trải rộng trong nhiều lĩnh vực. Trí tự nó để chỉ sự thông minh, sáng suốt (trí), dũng tự nó là để chỉ sự can cảm, không sợ sệt (dũng), nghĩa tự nó để chỉ sự thỏa đáng của đạo làm người (nghĩa), nhân tự nó để chỉ sự lo an vui của xã hội (nhân), chắc chắn không thể trộn lẫn với nhau. Tuy nhiên, với điều kiện tiên quyết (tiền đề) tuyệt đối không đối nghịch, chống đối lại đạo tiên vương thì có thể nói là trí, dũng và nghĩa chung với nhân. Thí dụ, Khổng tử nói “Hãy nắm giữ vững đức gần với bản tính của mình làm cơ sở nền tảng (cứ ư đức – 拠於德) để tu tập bồi dưỡng, đồng thời lấy mục tiêu phục vụ xã hội cho xã hội được an vui mà điều chỉnh nội dung tu tập, bồi dưỡng của bản thân (y ư nhân – 依於仁)”(17)(e). Mỗi người cứ vào (nắm giữ vững chắc) bản tính bẩm sinh của mình và không để mất thứ đức thích ứng (với bản tính của bản thân). Đức của bản tính bẩm sinh của con người thì có nhiều thứ (đa đoan), tất cả các thứ đức này đều không gây ra trở ngại cho (đức) nhân. Chỉ bởi vì không nuôi dưỡng thứ đức thích ứng với bản tính cho đến mức trọn vẹn nên đức thích ứng với bản tính đó chống chọi, đối lập với đạo. (Bởi vì mục tiêu của đạo là an dân, nên nếu không nuôi dưỡng đức tương ứng với bản tính vì mục tiêu này mà chỉ vì lợi ích riêng tư cho mình thì đức này sẽ đối lập với đạo). Phương pháp nuôi dưỡng đức thích ứng với bản tính này vào nhân (y ư nhân) và vui chơi (du) (f) với nghệ. (Nên nhớ lục nghệ gồm có: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số; trong đó lễ, nhạc là trọng yếu). Ý nghĩa của y (依) giống ý nghĩa của y trong câu “thanh y ư vịnh” (âm thanh nương tựa vào sự ngân dài) (18). Âm thanh của tiếng hát cùng âm thanh của nhạc cụ và sự ngân dài của lời hát chắc chắn phải nương tựa, phối hợp (y) lẫn nhau. Tương quan của trong đục, của nhịp điệu (tiết tấu) cũng vậy, và tương quan này gọi y. “Y ư nhân” cũng giống như vậy. Mặc dù mỗi người cứ vào đức (thích ứng với bản tính) của mỗi người nhưng tu dưỡng đức đó theo đạo an dân của tiên vương mà không nghĩ đến việc vi phạm thì mỗi người có thể hoàn thành được đức thích ứng với bản tính bẩm sinh của mình. Cách dạy của đạo Khổng là như vậy.

Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật giáo

Thông thường đạo tiên vương tức đạo Khổng đều có thể dùng hoặc để quản lý, vận hành cho mọi sự việc nhưng phương châm quan trọng là nuôi dưỡng để trưởng thành và phát triển lớn lên (g). Tuy nhiên, người đời sau (ám chỉ Tống Nho), bằng hiểu biết trước mắt của họ, mọi việc đều muốn giải quyết nhanh chóng bằng đức nhân. Do đó, họ phải cấp tốc nhảy vọt lên tầng cấp giải thích sự việc bằng lý lẽ (lý) (19). Suy xét đến cùng thì học thuyết lý này (tức lý học) không khác gì với lý luận pháp thân (chân lý vĩnh cửu bất diệt) của Phật giáo (20). Thật đáng buồn làm sao!

Tóm tắt ý quan trọng

– Đạo Khổng xem đức nhân (= biết lo việc an dân) to lớn nhất.

– Cơ sở của đạo Khổng là kính thiên mệnh (= lo việc an dân).

– Nhân là đức để đủ tư cách làm người (giải thích của Mạnh tử).

– Quân (vua, lãnh tụ) là người có năng lực tụ hợp (quần) số đông người (giải thích của Tuân tử).

– Đạo tiên vương kết hợp và phát huy được bản tính con người là thân yêu nhau cùng giúp nhau sinh sống và phát triển của con người.

– Học với mục tiêu giúp ích xã hội giúp người học thành tựu được tài năng và đức hạnh (Nhân (= giúp đời) →Tài+Đức).

– Đức nhân, ngoài yêu thương (ái) cần phải có ơn huệ (trạch) cụ thể đi kèm (nhân ≈ ái+ trạch).

– Tống Nho bỏ qua mục đích thực tiễn của đạo tiên vương mà chỉ chú trọng lý lẽ khi giải thích ý nghĩa của nhân (仁).

– Cần chọn thứ đức thích ứng với bản tính mà tu dưỡng cho thành đạt với mục đích phục vụ xã hội được an vui = “Cứ ư đức, y ư nhân”.

– Giải thích nhân của Tống Nho chẳng khác gì với Phật giáo.

Nhận xét

(a) Vào thời điểm hiện nay, tức thời điểm mà khoa học và kỹ thuật cùng với khả năng sinh kế của con người tương đối cao, người dịch nghĩ rằng ít người nghĩ rằng những đặc tính Sorai nêu ra ở đây là bản tính bẩm sinh của con người. Nhưng nếu trở lại thời mà tổ tiên con người khi còn sơ khai nếu con người không có bản tính này thì liệu con người còn có thể sống tồn tại đến ngày nay không? Chắc chắn là không. Thêm vào đó, nếu xem xét những việc làm của Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, vua Nghiêu, vua Thuấn chúng ta sẽ hiểu thêm điều này. Những vị vua này chịu khó truyền dạy con người những tài năng hiểu biết của họ với mục đích gì? Chẳng phải để giúp xã hội con người có thế sống ấm no và tiếp tục tồn tại sao?

Nội dung giải thích nhân của Mạnh tử và quân của Tuân tử quá ngắn gọn nên khó hiểu nhưng người dịch nghĩ rằng điều 2 ông muốn nói đến là các tiên vương căn cứ trên các bản tính con người mà đặt ra đạo, và truyền dạy cách sinh hoạt và giáo dục người dân để xã hội con người sống an vui.

(b) Nên lưu ý ở đây chỉ nói các đệ tử của Khổng tử đủ tư cách gia nhập vào nhóm của người có đức nhân chứ không nói họ đã có đức nhân. Bởi vì khi có người hỏi Khổng tử các học trò ông như Nhiễm Ung (Trọng Cung) (chương 4), Tử Lộ, Nhiễm Cầu, Công Tây Xích (chương 7 thiên 5 Công Dã Tràng, Luận Ngữ). có đức nhân không, ông trả lời: “Không biết”.

(c) Sorai chủ trương lễ và nghĩa không phải là đức nhưng không hiểu tại sao lại liệt kê nghĩa vào đây!

(d) Sorai không trả lời trực tiếp nhưng viết “nhiên – 然” (tuy nhiên) nên người dịch cho rằng câu trả lời là “không phải là nhân” nhưng các việc này là điều cần thiết để an dân.

(e) Câu này rất khó hiểu. Căn cứ vào nội dung thu thập được khi đọc và suy nghĩ các bài viết của Sorai, người dịch nghĩ rằng phải hiểu như sau mới hợp lý.

Trước hết cần nên nhớ rằng nhân cũng là đức, thế tại sao Khổng tử nói “cứ vào đức, y vào nhân”. Ý nghĩa của cứ và y khác nhau như thế nào? Thú thật người dịch vẫn chưa hiểu rõ điểm khác nhau của 2 từ này. Chữ Hán của cứ viết bằng bộ thủ (tay) để chỉ sự nắm bắt. Chữ Hán của y viết bằng bộ nhân (con người). Ở thời điểm này, người dịch cho rằng cứ cũng có nghĩa là nắm bắt để làm điểm tựa nhưng chỉ có 1 chiều, đó là con người nắm bắt loại đức gần với bản tính của mình. Trong khi y có nghĩa 2 chiều: đức gần với bản tính (giả sử là trí) phải tu tập sao cho có lợi ích cho xã hội, nghĩa là căn cứ vào nhân, đồng thời nhân cũng phải nhờ trí mới đạt được mục đích an dân của nhân, đó là chiều thứ 2.

(f) Tại sao đối với nghệ phải du 游 (vui chơi)? Ở thời điểm hiện tại người dịch vẫn chưa có tự tin là hiểu đúng nhưng nghĩ rằng có thích thú vui chơi và nhờ thích thú mới tự nhiên bền bỉ chịu cực tập luyện nhiều lần và lâu dài đồng thời tìm hiểu làm thế nào để có thể thực hiện tốt hơn, nhờ đó nghệ (kỹ năng, kỹ thuật) càng ngày càng cao, càng điêu luyện hơn.

(g) Nên lưu ý đây là phương châm giáo dục trọng yếu của đạo tiên vương tức đạo Khổng. Do đó, đạo tiên vương tích cực dùng người tài đức và không dùng người bất nhân (chương 3 thiên 4 Lý Nhân sách Luận Ngữ) mà không giết hại họ, chờ cho họ tự ý thức tu sửa.

Nhận xét tổng thể

…….

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/bien-dao-7-hoc-voi-muc-tieu-giup-ich-xa-hoi-giup-nguoi-hoc-thanh-tuu-tai-nang-va-duc-hanh.html