Kể từ khi lên nắm quyền năm 1989, các chính sách kinh tế thời Giang Trạch Dân đã đảo ngược 180 độ hướng đi cải cách kinh tế khởi xướng từ thập niên 1980.

Thập niên 80, sức sản xuất ở nông thôn được giải phóng, trở thành thời kỳ hoàng kim của nông nghiệp; nhưng đến thập niên 90 lại xuất hiện cuộc khủng hoảng “tam nông” với “nông dân thực khổ, nông thôn thực nghèo, nông nghiệp thực nguy hiểm”. Thập niên 80 sản sinh ra các xí nghiệp hương trấn, chính phủ khuyến khích hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân; đến thập niên 90, trọng tâm cải cách chuyển sang thành thị, đè nén các xí nghiệp hương trấn ở nông thôn. Còn cải cách doanh nghiệp nhà nước trải qua nhiều khúc quanh, cuối cùng hình thành cục diện các doanh nghiệp nhà nước lớn độc quyền các ngành trụ cột bao gồm cả ngành ngân hàng, trong khi doanh nghiệp tư nhân dù về vốn hay môi trường chính sách đều không thể sánh được với doanh nghiệp nhà nước, chỉ ở vị thế “nàng dâu nhỏ”. Sau cải cách chế độ phân chia thuế năm 1994, 1995, chính quyền địa phương ra sức đẩy mạnh “tài chính đất đai” để tăng thu nhập, càng kích thích thêm phong trào chiếm đất và kinh tế bất động sản. Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc tăng mạnh liên tục qua các năm, Trung Quốc dựa vào “ưu thế” nhân quyền thấp trở thành trung tâm sản xuất hàng hóa cấp thấp toàn cầu; đồng thời sinh ra hiện tượng kỳ quái là tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nghiêm trọng vào đầu tư cao và ngoại thương cao, trong khi thị trường nội địa tương đối co hẹp.

Tất cả những điều này đều hình thành trong thời Giang tại vị, nhưng không hề thay đổi khi Giang rời chức. Nguyên nhân thứ nhất là sau khi từ chức Tổng Bí thư ĐCSTQ năm 2002, Giang vẫn giữ chức Chủ tịch Quân ủy đến năm 2004. Từ 2002 đến nay, tuy Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư, nhưng trong mỗi khóa Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị gồm chín người, phần lớn vẫn là nhân vật hệ phái Giang. Những người này cùng các tập đoàn phụ thuộc nắm chắc các vị trí quan trọng trong đảng, chính quyền, quân đội, địa phương, tiếp tục kéo dài đường lối chính trị – kinh tế thời Giang tại vị. Nguyên nhân thứ hai là chính sách kinh tế thời Giang đã trực tiếp sản sinh ra một tầng lớp lợi ích lớn, họ được hưởng lợi từ độc quyền doanh nghiệp nhà nước, từ phong trào chiếm đất và kinh tế bất động sản, cũng như từ đầu tư nước ngoài. Đương nhiên họ không muốn thay đổi hiện trạng phát triển như vậy.

Không chỉ thế, do điểm xuất phát của chính sách kinh tế thời Giang là bảo vệ lợi ích của một số rất ít người, thủ đoạn của nó bất chấp công lý cơ bản của xã hội, bất chấp lợi ích lâu dài của con cháu, tiêu hao tài nguyên Trung Quốc một cách phá hoại. Trong việc theo đuổi lợi ích vật chất đã từ bỏ nhân tính và lương tri cơ bản nhất, vì sự phồn vinh bề ngoài ngắn hạn mà phá hủy nền tảng đạo đức xã hội. Đến khi Hồ Cẩm Đào lên nắm quyền, mô hình phát triển không bền vững và đầy rủi ro này biểu hiện thành các cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội bùng phát khắp nơi, buộc chính phủ kế nhiệm phải bận rộn đối phó bị động với khủng hoảng mà không đủ sức thay đổi hiện trạng. Cho đến sau này, kinh tế Trung Quốc vẫn bất lực kế thừa cái khung sườn để lại từ thời Giang.

‌1. Chính sách “bảo bát” (giữ mức tăng trưởng 8%)

Năm 2008, dưới tác động của khủng hoảng tài chính, ngày 5/11, ĐCSTQ đưa ra kế hoạch kích thích tài chính và tiền tệ trị giá 4 nghìn tỷ nhân dân tệ, đồng thời bắt đầu nhanh chóng thực hiện quy hoạch chấn hưng mười ngành công nghiệp: thép, ô tô, đóng tàu, hóa dầu, dệt may, công nghiệp nhẹ, kim loại màu, chế tạo thiết bị, điện tử thông tin và logistics.

Ở phương Tây, do biểu hiện “xuất sắc” của kinh tế Trung Quốc năm 2009, một thời lời khen ngợi tràn ngập; thậm chí có người phương Tây còn nảy sinh sự ngưỡng mộ đối với chế độ chuyên chế toàn trị của ĐCSTQ. Tờ Sydney Morning Herald của Úc ngày 16/11/2010 đăng bài viết tựa đề “Mô hình Trung Quốc mới nổi vừa có lợi vừa có hại đối với các nước khác” viết:

“Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã đạt được thắng lợi huy hoàng đến mức giờ đây bị thử thách không phải là thể chế của Bắc Kinh, mà là thể chế của chúng ta. Trung Quốc trở thành mô hình thay thế mạnh mẽ và một thách thức, thậm chí khiến các nước phương Tây cùng quan niệm tự mãn của chúng ta về dân chủ tự do trở nên lu mờ.”

Nhưng, sự tăng trưởng đổi lấy từ kế hoạch kích thích tài chính và tiền tệ khổng lồ lại có cái giá phải trả cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Cuối năm 2008, chính phủ Trung Quốc đưa ra kế hoạch kích thích 4 nghìn tỷ nhân dân tệ trong hai năm, đi kèm là việc hạ lãi suất tần suất cao và tăng thanh khoản hệ thống ngân hàng. Năm 2009 các khoản vay mới đạt 9,59 nghìn tỷ nhân dân tệ, năm 2010 các khoản vay mới đạt 7,58 nghìn tỷ nhân dân tệ. Đồng thời, do bất động sản có hiệu ứng kéo và lan tỏa đối với phát triển kinh tế, cuối năm 2008 Quốc vụ viện ĐCSTQ lại nhấn mạnh ngành bất động sản là ngành trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Trước khi khủng hoảng tài chính xảy ra, kinh tế Trung Quốc vốn đã tồn tại vấn đề dư thừa năng lực sản xuất, phần lớn lượng vốn khổng lồ này đã theo lẽ tự nhiên thông qua doanh nghiệp nhà nước đổ vào ngành bất động sản, liên tục có doanh nghiệp nhà nước lên báo trở thành “địa vương” (vua đất), gây ra bong bóng bất động sản ngày càng phình to.

Đồng thời, do ngân sách tài chính và vốn tín dụng chủ yếu chảy vào chính quyền các cấp và các doanh nghiệp nhà nước lớn, cùng các doanh nghiệp có dự án nhà nước, các công trình hạ tầng đường sắt, đường bộ, sân bay vốn đã dư thừa năng lực trở thành hướng đầu tư chủ yếu. Số vốn này rất có thể trở thành mối nguy nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng quốc doanh. Đồng thời, do không có tổ chức tài chính dân gian hợp pháp tồn tại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp bất động sản tư nhân chỉ có thể vay vốn qua các “tiệm tiền ngầm” với lãi suất cắt cổ, thậm chí lợi dụng đủ loại hiệp nghị đầu tư trá hình để vay nặng lãi từ các doanh nghiệp nhà nước lớn dư dả vốn, mức lãi suất năm cao tới 30%, 40% thậm chí 100%. Mà số vốn này hoàn toàn không nằm trong hệ thống ngân hàng bình thường, không thể thực hiện giám sát tài chính hiệu quả, khiến năng lực điều tiết vĩ mô của chính phủ trung ương mất hiệu lực; quản lý rủi ro cho vay của hệ thống ngân hàng bị rối loạn, rủi ro nợ xấu tăng mạnh. Trong khi đó, khủng hoảng lạm phát do phát hành tiền tệ quá mức mang lại một lần nữa trở thành thanh kiếm Damocles treo lơ lửng.

Nỗi sợ về tính chính đáng của chính quyền

Khi đưa ra kế hoạch kích thích tài chính – tiền tệ, chính phủ Trung Quốc chưa hẳn không thấy được tổn hại mà nó sẽ gây ra cho hệ thống kinh tế Trung Quốc. Việc không tiếc cái giá phải trả, dùng lượng vốn khổng lồ để kích thích kinh tế phản ánh một tâm lý sợ hãi cực độ trước nguy cơ kinh tế suy thoái.

Để hiểu tâm lý sợ hãi này, để hiểu nguồn gốc chính sách “bảo bát” của ĐCSTQ, không thể không nói đến vấn đề tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ.

Gần ba mươi năm hành xử ngược đời sau năm 1949 đã khiến ĐCSTQ phá sản về ý thức hệ, kinh tế quốc dân đứng bên bờ vực sụp đổ, và mất đi tính chính đáng cầm quyền. Đặng Tiểu Bình từng nói với ông Chu Truyền Củ, người Mỹ gốc Hoa, năm 1980 rằng: “Đảng Cộng sản chúng ta đã phạm tội với nhân dân!” “Chúng ta phải trả nợ cho nhân dân Trung Quốc”. Tuy nhiên, sau khi ý thức hệ phá sản, ĐCSTQ với tội nghiệp quá sâu nặng không thể có được dũng khí đạo đức để thực sự thay đổi đường lối, mà chỉ trong khi vẫn kiên trì áp lực chính trị để duy trì quyền lực chuyên chế, sau Cách mạng Văn hóa đã bắt đầu một loạt cải lương về chính trị, kinh tế, pháp chế để tự cứu mình, cố gắng dùng cách phát triển kinh tế để đổi lấy sự phục tùng chính trị của dân chúng, từ đó duy trì chế độ độc đảng. Đây chính là điều người ta gọi là chiến lược “chính đáng bằng thành tích” của ĐCSTQ.

Năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 của ĐCSTQ chính thức tuyên bố phương châm cải cách mở cửa, bắt đầu cải cách thể chế kinh tế, dùng phương pháp quá độ ở mức độ nhất định sang thể chế kinh tế thị trường để cởi trói cho nền kinh tế Trung Quốc vốn bị bóp méo bởi thể chế kinh tế kế hoạch. Nhưng cùng với việc Giang Trạch Dân lên nắm quyền năm 1989, công cuộc tự cứu của ĐCSTQ đã bị ông ta chôn vùi hoàn toàn. Cải cách thể chế kinh tế hoàn toàn dừng lại, cải cách chính trị chưa kịp khởi động cũng biến mất tăm từ đó.

Vòng luẩn quẩn trong bế tắc cầm quyền

Giang Trạch Dân lên nắm quyền vội vã, không có nền tảng quyền lực, đã lấy việc thả lỏng tham nhũng làm chiến lược, dùng “phạm tội chung” để xây dựng và ràng buộc nền tảng quyền lực của mình: biến cải cách kinh tế thị trường “phát triển là đạo lý cứng” thành mô hình kinh tế “quan thương chủ nghĩa” (quan chức làm thương nhân), dùng cách biến quan thành thương để nhanh chóng hình thành các tập đoàn lợi ích nhằm được nhóm quan tham ủng hộ, mà quan chức các cấp cũng đều thiếu lý tưởng, không còn công lý gì để nói, nhanh chóng tạo ra “kỳ quan” phình to về quyền lực và bùng nổ về tiền bạc của thể chế tham nhũng họ Giang. Cứ như vậy, khối u tham nhũng này ngày càng trầm trọng, nhanh chóng lan tràn khắp mọi ngóc ngách xã hội Trung Quốc.

Đồng thời, sự sinh ra và lan tràn của thể chế tham nhũng họ Giang tất yếu càng làm sâu sắc thêm cuộc khủng hoảng tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ; không muốn và không thể sửa sai mà lại muốn chuyên chế độc tài, kiên trì áp lực chính trị, ổn định cực đoan, cũng trở thành lựa chọn tự nhiên trong vòng luẩn quẩn; “ổn định lấn át tất cả” của Đặng Tiểu Bình cũng bị thay thế bằng “dập tắt mọi nhân tố bất ổn chính trị từ trong trứng nước” của Giang Trạch Dân. Trong quá trình này, mọi bất đồng chính kiến (bao gồm các nhóm và cá nhân bị Giang Trạch Dân và ĐCSTQ cho là có khả năng trở thành lực lượng thách thức trong tương lai) đều bị bức hại tàn khốc vô tình, thể chế chính trị bị bóp méo dị dạng, sự tôn nghiêm của pháp luật bị chà đạp không thương tiếc, quyền lực chuyên chế không bị kiểm soát không ngừng mở rộng, còn tiêu hao một lượng lớn không cần thiết quốc lực.

Cứ như vậy, tăng trưởng kinh tế cao liên tục của Trung Quốc không chỉ trở thành con bài duy nhất cho tính chính đáng cầm quyền của ĐCSTQ, mà còn trở thành nền tảng vật chất của thể chế tham nhũng họ Giang. Chỉ có tăng trưởng kinh tế liên tục mới có thể tạo điều kiện, tạo thuận lợi cho tham nhũng thể chế tiếp diễn; chỉ có tăng trưởng kinh tế liên tục mới có thể cung cấp vốn cũng như cái cớ cho việc ổn định cực đoan. Hơn nữa, phương thức vận hành “qua sông rút cầu, gặp gì vặt nấy” của các tập đoàn lợi ích lấy quyền lực tham nhũng làm trung tâm, cùng với gánh nặng kinh tế của việc ổn định cực đoan, đã tạo ra yêu cầu cứng nhắc đối với kinh tế Trung Quốc; một khi tăng trưởng kinh tế không duy trì được trên 8%, đầu tiên chịu tác động là kinh tế thực, kinh tế suy thoái nghiêm trọng, thất nghiệp tăng vọt, tính chính đáng cầm quyền không được bảo đảm. Đây chính là nguồn gốc thực sự của chính sách “bảo bát” cứng nhắc.

“Tăng trưởng nhân tạo” không còn đường lui

Nhìn từ thực tế, từ ví dụ ĐCSTQ ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 có thể thấy, tăng trưởng cao của kinh tế Trung Quốc không phải là hiện tượng tự phát dưới sự điều tiết thị trường do giải phóng bản tính con người trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập quyền trung ương sang kinh tế thị trường, mà là “tăng trưởng nhân tạo” do lực lượng hành chính chính phủ điều khiển trong một nền kinh tế vẫn tập trung cao độ quyền lực kinh tế.

“Tăng trưởng nhân tạo” như vậy trong lịch sử cũng không phải không có tiền lệ, tăng trưởng cao sau chiến tranh của Liên Xô cũ khá tương tự. Từ 1950-1984, thu nhập quốc dân và tổng giá trị sản lượng công nghiệp của Liên Xô cũ tăng lần lượt 9,9 lần và 14 lần, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn các nước tư bản phát triển. Từ 1951-1980, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thu nhập quốc dân và tổng giá trị sản lượng công nghiệp Liên Xô cũ lần lượt là 7,4% và 8,7%, rõ ràng cao hơn tốc độ phát triển 4,0% và 4,6% của các nước tư bản phát triển cùng thời kỳ. Đến năm 1985 tổng giá trị sản lượng công nghiệp Liên Xô đã đạt 80% của Mỹ. Về thực lực kinh tế, lúc này Liên Xô đã từ vị trí thứ năm thế giới, thứ tư châu Âu khi mới giành chính quyền, vươn lên vị trí thứ hai thế giới, thứ nhất châu Âu, trở thành siêu cường chỉ sau Mỹ. Thời Brezhnev, mức sống người dân được nâng cao đáng kể. Về cơ bản không có thất nghiệp, chính phủ cung cấp y tế và giáo dục miễn phí. Tiền thuê nhà rất rẻ, mỗi tháng chỉ vài rúp, đã bao gồm cả phí sưởi, điện thoại và nước. Rất nhiều người có thể đi nghỉ. Giá cả nói chung thấp. Nhưng tất cả những điều đó đều là ảo ảnh xây dựng trên nền tảng cưỡng chế chính trị, tích lũy siêu cao và tiêu hao tài nguyên cao độ.

Khác với Liên Xô cũ, chính phủ ĐCSTQ đã mở cửa thị trường hàng hóa, đồng thời đưa vào nhiều công cụ kinh tế thị trường như thị trường chứng khoán, cho phép ở mức độ nhất định kinh tế tư nhân, điều này thường tạo ra ảo giác cho các nhà quan sát phương Tây. Nhưng còn tệ hơn Liên Xô cũ là sau khi thả lỏng tham nhũng, kinh tế bị ép buộc phải vận hành ở tốc độ cao, điều này càng khiến hành vi của chính phủ mang tính ngắn hạn hơn.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nhiều chính phủ các nước đều thông qua chính sách tài khóa hoặc tiền tệ để điều tiết kinh tế, giảm thiểu tác động của suy thoái. Nhưng việc sử dụng các chính sách này đều có giới hạn nhất định, vì nhiều chính sách trong ngắn hạn có thể kích thích tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời sẽ có tác dụng phụ tiêu cực lâu dài. Ví dụ phát hành lượng lớn tiền tệ, tuy có thể tạm thời tăng đầu tư và tiêu dùng, khiến kinh tế trong ngắn hạn không suy giảm, nhưng sẽ sinh ra thâm hụt chính phủ gia tăng, lạm phát và các vấn đề khó kiểm soát khác. Là phản ứng đợt đầu đối phó khủng hoảng, 4 nghìn tỷ nhân dân tệ của ĐCSTQ tháng 11/2008 và gần 800 tỷ USD tiền cứu trợ mà chính phủ Obama Mỹ ký ban hành tháng 2/2009 tương đương nhau về quy mô, nhưng tổng lượng kinh tế Trung Quốc chưa bằng một nửa Mỹ, mà Mỹ còn là nơi phát sinh khủng hoảng. Tính theo tỷ lệ tổng lượng kinh tế, cách làm này rõ ràng là uống thuốc độc giải khát, bất chấp sức khỏe của hệ thống kinh tế nước mình, nhưng dưới nhu cầu tham nhũng và ổn định, phản ứng như vậy lại có thể hiểu được.

Nói một cách nghiêm khắc, kiểu tăng trưởng cao cứng nhắc này không phải là tư duy cầm quyền nhất quán của ĐCSTQ. Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách mở cửa cũng chỉ là dùng tăng trưởng kinh tế đổi lấy tính chính đáng cầm quyền theo nghĩa thông thường, chưa đi đến mức cực đoan phải duy trì tăng trưởng cao hàng năm. Chính Giang Trạch Dân lên nắm quyền, một lần nữa phá vỡ giới hạn đạo đức, mở cửa xả van tham nhũng để đổi lấy sự ủng hộ của quan chức, từ đó đẩy kinh tế Trung Quốc vào thế không còn đường lui.

Và trong quá trình gọi là “phát triển” này, chính quyền họ Giang vì theo đuổi lợi ích vật chất mà bất chấp nhân tính và lương tri cơ bản nhất, vì sự phồn vinh bề ngoài ngắn hạn mà phá hủy nền tảng vật chất và nhân văn của xã hội, phô diễn mô hình “phát triển” man rợ trong thời đại văn minh.

2. Nhà máy bóc lột sức lao động

Tăng trưởng kinh tế cao sau khi Giang lên nắm quyền chủ yếu dựa vào việc biến Trung Quốc thành công xưởng thế giới, bán phá giá sản phẩm sang thị trường Âu Mỹ.

Nhân công giá rẻ

Đáng tiếc, việc biến Trung Quốc thành công xưởng thế giới không dựa vào công nghệ và hiệu suất hàng đầu thế giới như nước Anh thời Cách mạng Công nghiệp hay Nhật Bản hiện đại, mà dựa vào nhân công giá rẻ. Trong tình huống này, cái gọi là “hướng về xuất khẩu” thực chất là lấy nhân công trong nước làm nguồn tài nguyên chủ yếu nhất để đổi lấy ngoại tệ mạnh trên thị trường quốc tế. Công xưởng thế giới này xuất khẩu sản phẩm trông có vẻ là giày dép, quần áo, đồ chơi, kể cả cái gọi là sản phẩm công nghệ, nhưng thực chất xuất khẩu là sức lao động Trung Quốc, dù công nhân vẫn ở tại Trung Quốc.

Tháng 2/2009, Ủy ban Lao động Quốc gia Mỹ công bố báo cáo dài 60 trang, phanh phui một “nhà máy bóc lột sức lao động” ở Đông Quản, Trung Quốc. Nhà máy này tên Meitai, sản xuất bàn phím và linh kiện khác cho các công ty như Microsoft, Lenovo, Dell, IBM và HP. Báo cáo mô tả cảnh ngộ của hai nghìn nữ công nhân trẻ tại nhà máy như sau: [1]

  • Trước dây chuyền lắp ráp mỗi giờ chạy qua 500 bàn phím máy tính, công nhân ngồi trên ghế cứng 12 tiếng mỗi ngày, làm việc 7 ngày một tuần, mỗi tháng chỉ được nghỉ hai ngày. Mỗi 1,1 giây công nhân phải lắp một phím lên bàn phím, động tác này phải lặp lại 3.250 lần mỗi giờ, 35.750 lần mỗi ngày, 250.250 lần mỗi tuần, hơn 1 triệu lần mỗi tuần.
  • Mỗi lần lắp một phím, thu nhập công nhân nhận được là 0,0002 đô la Mỹ.
  • Công nhân không được nói chuyện, nghe nhạc, thậm chí ngẩng đầu lên. Họ phải “cắt móng tay định kỳ”, nếu không sẽ bị phạt tiền.
  • Công nhân phải chờ đến giờ nghỉ mới được đi vệ sinh. Bảo vệ nhà máy giám sát công nhân, công nhân không được để tay trong túi, khi rời nhà máy phải chịu khám xét thân thể.
  • Làm thêm giờ là bắt buộc, công nhân phải ở trong nhà máy 87 tiếng một tuần. Trong tiền lương theo giờ của công nhân có 19% bị nhà máy ăn chặn, tiền lương thực nhận trong tay chỉ là 0,41 đô la Mỹ mỗi giờ.
  • Mười đến mười hai công nhân chen chúc trong một phòng ký túc xá, ngủ giường tầng sắt, chỉ có một tấm vải che chắn riêng tư. Công nhân tắm bằng xô nhựa nhỏ, muốn có nước nóng phải đi mấy tầng lầu.
  • Công nhân một tuần có bốn ngày không được rời nhà máy, thậm chí không được ra ngoài đi dạo.

Trung Quốc cung cấp lượng lớn trợ cấp xuất khẩu. Năm 2008, thâm hụt thương mại sản phẩm công nghệ cao giữa Mỹ và Trung Quốc đạt 74 tỷ USD. Do lương thấp và chèn ép quyền lợi lao động ở Trung Quốc, 14 triệu cơ hội việc làm lắp ráp sản phẩm điện tử đã rời khỏi nước Mỹ, các công việc này có mức lương theo giờ từ 12,72 đến 14,41 USD.

Một công nhân của Meitai nói về cảm giác trong nhà máy:

“Tôi cảm thấy mình như đang thụ án trong tù… Nhà máy luôn đè đầu chúng tôi, không cho phép sai sót dù nhỏ nhất. Chúng tôi phải làm việc liên tục không ngừng, ăn cơm với tốc độ chớp nhoáng… Bảo vệ giám sát chúng tôi như cảnh sát canh tù nhân. Chúng tôi đơn giản là súc vật, không thể gọi là công nhân.”

Ông Charles Kernaghan, giám đốc Ủy ban Lao động Quốc gia Mỹ nói:

“Cầu Chúa giúp chúng ta, quan hệ lao động ở Trung Quốc đã trở thành tiêu chuẩn thấp nhất mới trên toàn thế giới. Chiếc máy tính cá nhân giá 200 đô la và bàn phím giá 22,99 đô la trông có vẻ là món hời, nhưng cái giá phải trả của chúng cực kỳ khủng khiếp. Lương thấp và thiếu bảo vệ quyền công nhân của Trung Quốc khiến nước này bị ép xuống đáy trong cuộc đua kinh tế bóc lột sức lao động toàn cầu, nơi không có ai thắng cuộc.”

Hồ sơ về các nhà máy bóc lột sức lao động của các tập đoàn đa quốc gia tại Trung Quốc không hiếm gặp: Tháng 4/2008, tổ chức phi lợi nhuận nước ngoài Policy Matters Ohio phanh phui việc nhà máy liên doanh Tongshida của General Electric ở Hạ Môn “bị nghi sử dụng lao động trái pháp luật”, tiết lộ sự thật về nhà máy bóc lột lao động của General Electric, từng gây chấn động dư luận rộng rãi; tháng 11/2007, một đoàn điều tra gồm 7 trường đại học Hong Kong phanh phui nhà máy gia công của Dell vi phạm luật lao động, công nhân làm việc 16 tiếng mỗi ngày; trung tuần tháng 6/2006, tờ Mail on Sunday của Anh đưa tin iPod của Apple được sản xuất từ “nhà máy bóc lột sức lao động”, nhà máy gia công được nhắc đến là công ty Foxconn thuộc tập đoàn Hon Hai, đại gia gia công Đài Loan.

Sản phẩm lao động cưỡng bức

Nghiêm trọng hơn nữa là việc xuất khẩu sản phẩm lao động sản xuất trong nhà tù và trại lao động cải tạo.

…………………..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-7-gdp-cua-giang-trach-dan.html