Luật sư nhân quyền nổi tiếng Cao Trí Thịnh từng viết trong một bức thư gửi nhà cầm quyền Trung Cộng như sau:

“Là một công dân không ngừng nộp thuế, tôi một lần nữa yêu cầu chính phủ Trung Quốc trả lời câu hỏi của một công dân: các người có thừa nhận thể chế này hoàn toàn phi đạo đức hay không? Có thừa nhận rằng thể chế của chúng ta đã không còn thành ý và năng lực để đối mặt và giải quyết vấn đề này hay không? Các người có đạo đức và dũng khí để bảo đảm với toàn dân tộc rằng: tội ác như thế này sẽ lập tức chấm dứt và vĩnh viễn không bao giờ tái diễn hay không? Cần biết rằng, nhân dân chỉ đơn thuần yêu cầu chính phủ lập tức chấm dứt phạm tội!”

“Tôi muốn đặc biệt nhắc tới ở đây: chúng tôi tìm cách nói ra sự thật rằng dân tộc này liên tục bị bức hại đẫm máu, đặc biệt vào thời khắc này, cũng là để nhắc nhở toàn thể dân tộc chúng ta về tính nghiêm trọng và cấp bách của vấn đề mà dân tộc chúng ta đang đối mặt. Dân tộc chúng ta, mỗi cá nhân chúng ta, đã đến lúc phải nghiêm túc đối diện với vấn đề mà chúng ta đang gặp phải! Bất kỳ lý do nào, bất kỳ phương pháp truyền thống nào và bất kỳ sự trì hoãn nào, đều sẽ là tội ác đối với giá trị của toàn dân tộc chúng ta!… Qua hơn mười ngày điều tra, tôi lại một lần nữa nhìn thấy sự thật khiến tôi đau đớn tận xương tủy. ‘Phòng 610’, ít nhất có thể gọi nó như vậy là một tổ chức xã hội đen nằm trong và cao hơn cả chính quyền quốc gia, nó là tổ chức xã hội đen có thể thao túng, điều động mọi nguồn lực chính quyền. Một tổ chức không hề có trong hiến pháp quốc gia và trong cơ cấu quyền lực nhà nước, lại ‘thực thi’ quyền lực mà đáng lẽ chỉ cơ quan nhà nước mới được thực thi, và cả những ‘quyền lực’ mà ngay cả cơ quan nhà nước cũng căn bản không thể thực thi. Nó ‘thực thi’ loại quyền lực mà trên hành tinh này, kể từ khi nhân loại có nền văn minh quốc gia, chưa từng một quốc gia nào từng sở hữu…” [1]

Ủy ban Chính trị Pháp luật và “Phòng 610” đứng trên cả pháp luật, mô hình quyền lực của “610” chính là phương thức vận hành bộ máy nhà nước mà sau này Trung Cộng dùng để áp bức tất cả người dân Trung Quốc. Sở dĩ như vậy, phải bắt đầu từ hình thức tổ chức cơ cấu của Trung Cộng.

“Tiểu tổ lãnh đạo Văn Cách Trung ương” năm xưa đã đập tan hệ thống “công an – kiểm sát – tòa án” (công kiểm pháp), gán tội danh cho nhân viên hệ thống công kiểm pháp cũ rồi trực tiếp đánh đổ, gạt sang một bên. Nhìn chung, phần lớn những người trong hệ thống công kiểm pháp trước đây là nạn nhân, chứ không phải là kẻ gây tội ác. Bản thân những người này không có tội, một khi quyết định khôi phục hệ thống pháp chế, chỉ cần để những người này trở lại chức vụ cũ là được. Nhưng việc mà “610” còn hơn thế. “Ủy ban Chính trị Pháp luật” của Trung Cộng lãnh đạo “610” quản lý toàn bộ “công kiểm pháp tư”, khiến “610” có thể điều động toàn bộ hệ thống “công kiểm pháp tư” trực tiếp tham gia bức hại Pháp Luân Công. Bản thân hệ thống “công kiểm pháp tư” đã trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc bức hại này, người thực thi pháp luật trực tiếp biến thành kẻ dẫn đầu vi phạm pháp luật, biến “công kiểm pháp tư” thành những kẻ mang tội (tất nhiên là cá nhân, thì luôn có người còn lương tri), từ đó mở rộng tội ác này ra ngoài phạm vi học viên Pháp Luân Công, khiến những người dân khác cũng trở thành nạn nhân của thể chế tư pháp thoái hóa này. Làm sao để khôi phục pháp chế? Đây mới chính là sự phá hủy triệt để đối với hệ thống pháp luật quốc gia. So sánh mà nói, sự phá hoại của “610” đối với tiến trình pháp chế còn vượt qua cả thời Cách mạng Văn hóa.

1. “Phòng 610” đứng trên pháp luật

Cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc Trung ương Trung Cộng

Các cơ quan trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được chia theo chức năng thành: bộ phận công tác trực thuộc (như Ủy ban Chính trị Pháp luật, Ban Tổ chức, Ban Tuyên truyền), cơ quan sự vụ trực thuộc (như Phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương, Cục Lưu trữ Trung ương), đơn vị sự nghiệp trực thuộc (như Trường Đảng Trung ương, Báo Nhân Dân), cơ quan phái xuất trực thuộc (như Ủy ban Công tác các Cơ quan Trực thuộc Trung ương), và cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc (như Tiểu tổ Lãnh đạo Tài chính Kinh tế Trung ương, Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương). Việc thành lập, bãi bỏ hoặc sáp nhập các cơ quan trực thuộc này của Trung ương Trung Cộng do Ủy ban Biên chế Cơ cấu Trung ương đề xuất phương án, báo cáo Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng quyết định.

“Cơ quan điều phối nghị sự” là cơ quan được thành lập ngoài “cơ quan công tác theo quy định pháp định”, chịu trách nhiệm điều phối những sự vụ trọng đại liên quan đến nhiều bộ phận hoặc nhiều khu vực trong thời gian dài. Đơn vị thành viên thường bao gồm nhiều bộ phận của Trung ương Trung Cộng và Quốc vụ viện. Cả Trung ương Trung Cộng và Quốc vụ viện đều có thể thành lập cơ quan điều phối nghị sự của riêng mình (tương tự, các đảng ủy địa phương và chính quyền địa phương cũng có thể thành lập cơ quan điều phối nghị sự cấp địa phương). Cơ quan điều phối nghị sự thường được gọi là “Tiểu tổ Lãnh đạo XX”, “Bộ Chỉ huy XX”, “Ủy ban XX”, v.v. Cấp bậc của “cơ quan điều phối nghị sự” này thường khá cao. “Cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc” của Trung ương, thường do Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Trung Cộng, hoặc Ủy viên Bộ Chính trị, đảm nhiệm người phụ trách cơ quan điều phối nghị sự, người phụ trách các ban ngành liên quan đảm nhiệm thành viên lãnh đạo, thường còn có văn phòng liên quan làm cơ quan sự vụ cụ thể.

Ngày 10/6/1999, Trung Cộng đã thành lập một “cơ quan điều phối nghị sự trực thuộc” đặc biệt là “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương Trung Cộng”. Cơ quan sự vụ cụ thể trực thuộc tiểu tổ lãnh đạo này chính là “Văn phòng Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương Trung Cộng”, vì được thành lập vào ngày 10/6 nên văn phòng này được gọi tắt là “Phòng 610 Trung ương”.

Các đơn vị thành viên của “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương” của Trung Cộng chuyên trách bức hại Pháp Luân Công rất nhiều, ngoài Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương giữ vai trò chủ đạo, các đơn vị thành viên của “tiểu tổ” này còn bao gồm: Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp, Tổng cục Phát thanh Truyền hình Điện ảnh Quốc gia, Tổng cục Thể thao Quốc gia, Văn phòng Pháp chế Quốc vụ viện, Văn phòng Ngoại sự Trung ương, Văn phòng Thông tin Quốc vụ viện, Tổng cục Quản lý Hành chính Công thương Quốc gia, Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin, Tổng cục Xuất bản Báo chí Quốc gia, Cục Bưu chính Quốc gia, Tổng Công hội Toàn quốc Trung Quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Liên hiệp Phụ nữ Toàn quốc Trung Quốc, Hội Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc, và lực lượng Vũ cảnh. Từ cấp bậc của người phụ trách cơ quan điều phối nghị sự “Tiểu tổ Lãnh đạo Xử lý Vấn đề Pháp Luân Công Trung ương” và số lượng, phạm vi rộng lớn của các đơn vị thành viên tham gia, có thể thấy được mức độ và quy mô quyền lực công của nhà nước mà Giang Trạch Dân đã huy động để bức hại Pháp Luân Công khi đó, hoàn toàn là dốc toàn lực quốc gia, động viên toàn xã hội để bức hại Pháp Luân Công. Cũng chính vì tính chất của loại cơ quan điều phối nghị sự này, đã giải thích vì sao “Phòng 610” có thể trở thành một siêu cơ quan tà ác kiểu Gestapo, có thể đứng trên cả pháp luật.

Quốc bảo

Trong các bản tin về việc Trung Cộng bức hại Pháp Luân Công và những người bất đồng chính kiến, tù nhân lương tâm khác nhau, từ “Quốc bảo” xuất hiện rất thường xuyên. “Quốc bảo” chỉ cảnh sát thuộc bộ phận “Bảo vệ An ninh Nội địa”. Ở Bộ Công an gọi là “Tổng cục Bảo vệ An ninh Nội địa”, gọi tắt là “Cục Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, khu tự trị gọi là “Tổng đội Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp thành phố trực thuộc tỉnh gọi là “Chi đội Quốc bảo”; ở Sở Công an cấp thành phố trực thuộc huyện gọi là “Đại đội Quốc bảo”. “Phòng Bảo vệ An ninh Nội địa” ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc biên chế cục cấp hai.

Sau khi Trung Cộng giành chính quyền vào năm 1949, chính quyền đầu tiên trên thực tế là Ủy ban Quân quản. Chức năng của Ủy ban Quân quản là quân đội trực tiếp cử người ở lại, thành lập ủy ban quản chế quân sự. Ủy ban Quân quản lúc đầu đại diện cho chức năng chính phủ, chức năng chủ yếu nhất khi đó là trấn áp “phản cách mạng”, trấn áp những nhân viên lưu lại của Quốc Dân Đảng. Cùng với sự thành lập ban đầu của chính quyền Trung Cộng, cơ quan trị an trong Ủy ban Quân quản cũng đổi tên thành Sở Công an các địa phương. Ở chính phủ trung ương, thì thành lập Bộ Công an.

Nhiệm vụ thanh trừng “phần tử phản gián thù địch” và bảo vệ nội bộ của Ủy ban Quân quản trước đây, trở thành nhiệm vụ chính của Bộ Công an, đó là “trinh sát tình báo địch”, gọi là “địch trinh”, sau đổi gọi là “bảo vệ chính trị”, tức là “chính bảo”, luôn được xếp ở vị trí đầu tiên trong tất cả các bộ phận, ở Bộ Công an gọi là “Cục 1”, tức Cục Chính bảo; ở Sở Công an gọi là “Phòng 1”, tức Phòng Chính bảo; đến cấp quận huyện, gọi là “Khoa 1”, tức Khoa Chính bảo. Bên trong Chính bảo lại chia thành bộ phận phụ trách an ninh trong nước và an ninh nước ngoài. Năm 1983, Trung Cộng quyết định thành lập Bộ An ninh Quốc gia, phần Chính bảo phụ trách nước ngoài đã sáp nhập với Bộ Điều tra Trung ương, tổ chức thành Bộ An ninh Quốc gia. Nhưng, Sở (Cục) Công an các địa phương vẫn giữ lại biên chế Phòng Chính bảo cũ, số người còn lại của bộ phận này không còn nhiều, nhưng vẫn được xếp ở vị trí đầu tiên. Do đó chúng ta có thể thấy, chức năng của “Chính bảo” Trung Cộng chính là đả kích cái gọi là “kẻ thù giai cấp”.

Theo giới thiệu của ông Chung Quế Xuân, nguyên khoa trưởng Chính bảo Bắc Kinh,

“Trong thời đại Trung Cộng ra sức phát động ‘vận động chính trị’, nghề ‘Chính bảo’ với nhiệm vụ đả kích ‘kẻ thù giai cấp’ rất được ưa chuộng, rất được Trung Cộng coi trọng, địa vị cũng rất cao. Nhưng, cùng với cải cách mở cửa, phát triển kinh tế trở thành chủ lưu, địa vị của Chính bảo không còn mạnh như trước. Thêm vào đó cùng với sự nâng cao địa vị của Cục An ninh, và sự phát triển của các loại hình công an khác nhau, Chính bảo của công an bị mờ nhạt đi, không còn quan trọng nữa. Có người đã đề xuất, muốn cắt bỏ mảng Chính bảo công an này, sáp nhập nó vào Cục An ninh Quốc gia. Nếu sáp nhập qua đó, đãi ngộ, địa vị đều sẽ giảm xuống, vì vậy người của Chính bảo cứ khăng khăng muốn giữ lấy tấm biển Chính bảo này. Nếu muốn giữ được địa vị của nó, giữ được tấm biển này, thì phải tạo ra vụ án, tạo ra những vụ án thật cứng để chứng minh sự cần thiết tồn tại của nó. Vì vậy, người của Chính bảo ngày ngày tìm kiếm cơ hội như vậy, tìm kiếm cơ hội để giữ được tấm biển Chính bảo. Thế là, nó phải sinh sự vô cớ, cố ý tạo ra một số sự việc, phải tìm kiếm cái gọi là kẻ thù trong quần chúng, tạo ra cái gọi là tổ chức bất hợp pháp, tạo ra cái gọi là ‘vụ án lớn’ về việc ai đó muốn lật đổ chính phủ, lật đổ chính quyền. Trước khi Giang Trạch Dân bắt đầu bức hại Pháp Luân Công năm 1999, sự quấy nhiễu của bộ phận công an đối với quần chúng luyện công Pháp Luân Công chính là xảy ra trong bối cảnh này. Trong hệ thống Chính bảo, nó đã bắt đầu tham gia điều tra ngầm, tịch thu, phạt tiền đối với các ấn phẩm của Pháp Luân Công từ năm 1996, sau đó là nghe lén, theo dõi, phái đặc vụ trà trộn vào quần chúng luyện công để dò xét ‘tình báo’, nhằm tạo ra kẻ thù, tìm cớ cho việc đàn áp.”

Đến năm 1999 khi Giang Trạch Dân coi Pháp Luân Công là “kẻ thù số một” của Trung Cộng để bức hại đẫm máu, thì tác dụng tà ác của Chính bảo Trung Cộng đã được phát huy mạnh mẽ, tầm quan trọng đối với Trung Cộng lại được thể hiện rõ. Theo người trong cuộc cho biết, nếu không phải vì bức hại Pháp Luân Công, “Chính bảo” (“Cục 1”, “Phòng 1”, “Khoa 1”) có lẽ đã bị bãi bỏ. Để kiếm chác tư bản chính trị thông qua việc bức hại Pháp Luân Công, “Chính bảo” vốn giỏi hại người, hoàn toàn không có lương tri, đã đặc biệt liều mạng trong việc bức hại Pháp Luân Công. Sau khi lấy được lòng kẻ cầm quyền, “Chính bảo” đã thay đổi hoàn toàn cảnh ngộ bị lạnh nhạt trong những năm chú trọng phát triển kinh tế trước đây, bắt đầu hoạt động sôi nổi trở lại, “chiêu binh mãi mã” bổ sung trang thiết bị tiên tiến, có hệ thống theo dõi, nghe lén điện thoại, bắt cóc, lục soát nhà, tra tấn ép cung và thu thập biên soạn cái gọi là “chứng cứ” để đưa đi lao giáo, kết án đối với học viên Pháp Luân Công trên toàn quốc. Kết quả của sự phát triển này là, đã liên lụy đến toàn thể nhân dân cả nước. Mọi người đều bị đặt vào phạm vi giám sát của Chính bảo.

Khoảng năm 2000-2001, để đánh lừa mọi người, Trung Cộng đã đổi tên “Chính bảo” thành “Bảo vệ An ninh Nội địa”, chính là cái tên “Quốc bảo” hiện nay. Cơ cấu nội bộ của Quốc bảo thường có các bộ phận trinh sát cơ động, chống lật đổ, chống tà giáo. Quốc bảo là cơ quan chủ yếu của Trung Cộng trong việc trấn áp, giám sát những người bất đồng chính kiến, người bảo vệ nhân quyền trong nước, là một trong những công cụ bạo lực chủ yếu của Trung Cộng để bức hại Pháp Luân Công.

Theo tài liệu của “Tổ chức Quốc tế Điều tra Bức hại Pháp Luân Công”, vào khoảng cuối năm 2000, Giang Trạch Dân đã đề xuất trong một cuộc họp rằng, hiệu quả vận hành của “610” ban đầu không lý tưởng, Sảnh An ninh Quốc gia, Sở Công an, Sở Công an các địa phương phải trực tiếp thành lập “Phòng 610”. Kể từ đó, đội trưởng hoặc phó đội trưởng “Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa” thường kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở (Cục) Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ví dụ, nguyên tổng đội trưởng Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa thành phố Bắc Kinh Trương Hiến Lâm kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở Công an thành phố Bắc Kinh; nguyên phó tổng đội trưởng Tổng đội Bảo vệ An ninh Nội địa Sở Công an tỉnh Tứ Xuyên Lý Khắc Lực kiêm nhiệm chủ nhiệm “Phòng 610” của Sở Công an tỉnh Tứ Xuyên.

2. Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung Cộng

Ở Trung Quốc, hệ thống tư pháp chưa bao giờ độc lập, nó chịu sự khống chế nghiêm trọng của Đảng Cộng sản. Ủy ban Chính trị Pháp luật với tư cách là cơ quan của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thường xuyên được dùng để can thiệp vào cơ quan pháp luật. Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương tuyên bố: “Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương là bộ phận chức năng của Trung ương Đảng lãnh đạo và quản lý công tác chính trị pháp luật.” Ở cấp trung ương, Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương thao túng phía sau hậu trường đối với Tòa án Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia và Bộ Tư pháp. Ở các cấp chính quyền Trung Quốc cũng có cách bố trí tương tự, mỗi cấp Ủy ban Chính trị Pháp luật thao túng các bộ phận liên quan cùng cấp. Phần lớn “Phòng 610” được đặt trong Ủy ban Chính trị Pháp luật, điều này khiến cho công việc giam giữ và bỏ tù của “Phòng 610” dễ dàng thực hiện hơn.

Đầu thập niên 1960, Trung ương Trung Cộng đã thành lập “Tiểu tổ Lãnh đạo Công tác Chính trị Pháp luật Trung ương”. Cùng với sự bắt đầu của “Đại Cách mạng Văn hóa”, tiểu tổ này bị bãi bỏ. Đầu thập niên 1980, Trung ương Trung Cộng lại quyết định thành lập Ủy ban Chính trị Pháp luật. Sau Đại hội 13 của Trung Cộng năm 1987, từng quyết định bãi bỏ Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, cơ quan can thiệp trắng trợn vào sự độc lập tư pháp này.

Nhưng sau khi Giang Trạch Dân lên nắm quyền, để tăng cường quyền lực độc tài của mình, việc tách Đảng khỏi chính quyền không còn được nhắc tới nữa, sự công bằng tư pháp cũng không còn được đề cập nữa. Đầu năm 1990, Trung Cộng ban hành “Thông báo về việc Duy trì Ổn định Xã hội, Tăng cường Công tác Chính trị Pháp luật”, “quyết định khôi phục Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương”. Tháng 6/1995, Văn phòng Trung ương Trung Cộng ban hành “Thông báo về việc Chuyển phát ‘Thông báo của Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương Trung Cộng về việc Tăng cường Công tác của Ủy ban Chính trị Pháp luật các cấp Đảng ủy’” (Văn kiện số [1995] 28), yêu cầu rõ ràng rằng “Ủy ban Chính trị Pháp luật của đảng ủy các cấp là bộ phận chức năng của đảng lãnh đạo công tác chính trị pháp luật”. Tháng 4/1999, Trung Cộng ban hành văn kiện Trung phát [1999] số 6 mang tên “Quyết định về việc Tiếp tục Tăng cường Xây dựng Đội ngũ Cán bộ Chính trị Pháp luật”, tuyên bố “Ủy ban Chính trị Pháp luật là bộ phận chức năng của đảng ủy các cấp lãnh đạo, quản lý công tác chính trị pháp luật”. Bộ trưởng Công an, Viện trưởng Viện Kiểm sát Tối cao, Chánh án Tòa án Tối cao đều là ủy viên của Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, đều phải báo cáo công tác với Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật. Ủy ban Chính trị Pháp luật của Trung Cộng còn cùng Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật chỉ huy chung bộ phận giám sát của chính phủ, cùng Quân ủy chỉ huy chung lực lượng Vũ cảnh. Ủy ban Chính trị Pháp luật với tư cách là cơ quan chính thức của Trung ương Trung Cộng, đã trở thành tổ chức điển hình của việc đảng can thiệp vào chính quyền, phá hoại sự độc lập tư pháp.

Nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc Lữ Cảnh Tùng từng viết bài trên tạp chí “Bắc Kinh Xuân Thu”, dẫn chứng sự thật lịch sử, luận chứng pháp lý và ý kiến học giả cho rằng, Ủy ban Chính trị Pháp luật là tổ chức đặc vụ lớn nhất Trung Quốc, sự tồn tại của Ủy ban Chính trị Pháp luật tự nó đã vi phạm Điều 126 Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: “Tòa án Nhân dân thực hiện quyền xét xử độc lập theo quy định pháp luật, không chịu sự can thiệp của cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội và cá nhân.” [2] Do đó Ủy ban Chính trị Pháp luật là một tổ chức vi hiến thiếu căn cứ pháp luật, phá hoại sự độc lập tư pháp. Ở Trung Quốc, Chánh án Tòa án Tối cao lại phải báo cáo công tác với Bộ trưởng Công an, có thể nói là nỗi bi ai của tư pháp Trung Quốc. Khi Chu Vĩnh Khang giữ chức Bộ trưởng Công an, Chu là Phó Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, còn Chánh án Tòa án Tối cao khi đó là Tiêu Dương chỉ là ủy viên Ủy ban Chính trị Pháp luật, vì vậy, Bộ trưởng Công an vẫn là cấp trên trực tiếp của Chánh án Tòa án. Hiện tượng tư pháp kỳ quái này trong hệ thống của Trung Cộng lại là chuyện thường tình, rất nhiều nơi Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật đều kiêm nhiệm Sở trưởng (Cục trưởng) Công an. Ví dụ, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc, Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trương Việt, đồng thời là Bí thư Đảng ủy, Sở trưởng Sở Công an tỉnh, và Chính ủy thứ nhất, Bí thư Đảng ủy thứ nhất của Tổng đội Vũ cảnh tỉnh Hà Bắc.

Theo nguyên tắc độc lập tư pháp hiện đại, ba cơ quan công an, kiểm sát, tòa án phải độc lập với nhau, nhưng Ủy ban Chính trị Pháp luật lại cứ nhất định trộn ba cơ quan này lại với nhau, hơn nữa còn đứng trên cả ba cơ quan này, thực hiện “phối hợp xử lý vụ án”. Sự khống chế của Ủy ban Chính trị Pháp luật đối với hệ thống công an, kiểm sát, tòa án, tư pháp, an ninh, khiến cho sự độc lập tư pháp dưới sự thống trị của Trung Cộng hoàn toàn trở thành ảo tưởng hão huyền. Hậu quả của việc làm này là, cảnh sát thu thập chứng cứ theo nhu cầu khởi tố của viện kiểm sát; viện kiểm sát lại khởi tố theo nhu cầu tuyên án của tòa án. Dù những năm gần đây trong “cải cách” tư pháp của Trung Cộng cũng luôn tuyên bố muốn tăng cường sự độc lập tư pháp, nhưng, trong phong trào đàn áp chính trị trên toàn quốc mà Trung Cộng phát động, sự độc lập tư pháp đã hoàn toàn không còn tồn tại, mọi thứ đều xoay quanh ý chí của Trung Cộng để tiến hành. Điều này thể hiện đặc biệt rõ ràng trong phong trào chính trị bức hại Pháp Luân Công do “Phòng 610” thao túng.

3. Pháp trị thụt lùi

…..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-5-lay-cai-ac-tri-quoc.html