Có lẽ tất cả mọi người đều biết về cuộc đàn áp Pháp Luân Công do Giang Trạch Dân phát động. Cuộc trấn áp đối với những người tu luyện Pháp Luân Công, về thực chất là một cuộc bức hại đối với lương tâm của tất cả mọi người. Pháp Luân Công là gì? Vì sao cuộc đàn áp này lại xảy ra? Những tội ác nào đã diễn ra trong cuộc đàn áp? Các học viên Pháp Luân Công đã làm gì để phản kháng lại cuộc đàn áp?

7. Hệ thống chỉ huy phi pháp của Giang Trạch Dân – Phòng 610

Vào ngày 20 tháng 4 năm 2000, Wall Street Journal đã đăng một bài báo có tiêu đề “Cho đến ngày cuối đời, bà Trần vẫn nói tu luyện Pháp Luân Công là một quyền”, trong đó tiết lộ quá trình nữ học viên Pháp Luân Công Trần Tử Tú bị tra tấn đến chết. Nhà báo Ian Johnson nhờ bài viết này mà đã đạt được giải thưởng báo chí Pulitzer. [1]

Bà Trần Tử Tú là một công nhân đã về hưu, nhà ở làng Từ Gia, Bắc Quan, quận Duy Thành, thành phố Duy Phường, tỉnh Sơn Đông. Cuộc đời bà Trần nhiều sóng gió, ở tuổi 37, cuộc hôn nhân mới trải qua 14 năm thì chồng bà được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan giai đoạn cuối. Không lâu sau khi chồng mất, người mẹ sống cùng với họ cũng qua đời, để lại hai đứa con 13 và 11 tuổi. Vào ngày 16 tháng 2 năm 2000, bà Trần Tử Tú đang đi trên phố thì bị người phụ trách cuộc đàn áp Pháp Luân Công ở địa phương bắt giữ và bị tạm giam ở đồn cảnh sát Bắc Quan. Chiều hôm sau, bà bị đưa đến văn phòng thành lập tạm thời của Trung tâm giám sát chuyển hoá Pháp Luân Công ở phố Thành Quan. Các quan viên chính phủ đã dùng gậy cao su, dùi cui điện đánh vào đùi, chân, phía dưới lưng của bà. Họ còn dùng cả roi chăn trâu đánh vào đầu và cổ bà. Những người bị giam cùng với bà nói rằng cả đêm có thể nghe thấy tiếng kêu thê lương của bà Trần truyền đến từ phòng tra tấn. Những người kia không ngừng quát lớn muốn bà Trần từ bỏ Pháp Luân Công. Mỗi lần như vậy bà Trần đều cự tuyệt. Một ngày trước khi bà Trần Tử Tú qua đời, những người bắt giữ bà lại một lần nữa yêu cầu bà từ bỏ đức tin của mình đối với Pháp Luân Đại Pháp. Sau một loạt đòn roi, với tình trạng gần như bất tỉnh, người phụ nữ 58 tuổi vẫn kiên định lắc đầu. Sáng ngày 20, Trần Tử Tú, người đang hấp hối, bị ép phải bò bằng chân trần trên tuyết. Hai ngày bị tra tấn đã khiến chân của bà bị bầm tím nghiêm trọng, mái tóc đen của bà bê bết máu mủ. Bà nôn mửa, ngã quỵ rồi ngất xỉu và không bao giờ tỉnh lại nữa.

Một trường hợp khác. Toàn bộ gia đình cụ Trần Vận Xuyên ở làng Tàm Phòng Doanh, thị trấn Bắc Tân Bảo, huyện Hoài Lai, thành phố Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc đều tu luyện Pháp Luân Công. Nhưng vì kiên định tín ngưỡng Chân Thiện Nhẫn nên cả nhà có 7 người thì 4 người bị Trung cộng bức hại đến chết, một người cho đến nay vẫn còn bị giam giữ phi pháp, một cô cháu ngoại vị thành niên hiện không rõ tung tích. Người con trai cả Trần Ái Trung từng bị sốc điện tàn nhẫn bởi dùi cui điện có hiệu điện thế cao áp lên đến 300000 vôn, khiến cho cả tay và chân bị tàn phế. Vào ngày 20 tháng 9 năm 2001, ông bị bức thực tại trại lao động cưỡng bức Hà Hoa Khanh thành phố Đường Sơn, bị tra tấn đến chết khi mới 33 tuổi. Người con thứ hai, Trần Ái Lập, đã từng bị giam giữ bất hợp pháp trong nhà tù Ký Đông thành phố Đường Sơn. Ông bị tra tấn đến mức cơ thể chỉ còn nặng hơn 25 cân, chịu tra tấn tàn khốc nhiều không kể xiết. Sau đó ông lại bị giam giữ trong trung tâm tẩy não. Ông đã qua đời vào ngày 5 tháng 11 năm 2004 do bị bức hại nghiêm trọng về thể chất. Người con gái út Trần Hồng Bình bị bắt đến trại lao động cưỡng bức Cao Dương một cách phi pháp, bị vài chục người luân phiên tẩy não suốt ngày đêm, không những bị đánh đập mà còn bị tiêm thuốc không rõ nguồn gốc. Bà bị bức hại đến chết vào ngày 5 tháng 3 năm 2003. Mẹ là Vương Liên Vinh cũng từng bị bắt, bị đánh và bị đưa đến lớp tẩy não. Để tránh bị bắt cóc lần nữa, bà Vương đã đi lưu lạc khắp nơi. Sau khi trải qua 7 năm ma nạn, bà Vương Liên Vinh đã hàm oan qua đời vào ngày 4 tháng 8 năm 2006 tại nước ngoài. Cha là Trần Vận Xuyên đã qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi không rõ nguyên nhân vào ngày 11 tháng 1 năm 2009, người gây tai nạn đã lái xe bỏ trốn. Gia đình 7 người chỉ còn lại Trần Thục Lan, người vẫn đang bị giam giữ và bức hại bất hợp pháp tại nhà tù nữ Thiên Đường Hà ở Bắc Kinh và con gái cô, Lý Dĩnh, hiện vẫn chưa rõ tung tích và tình trạng sống chết. Trường hợp bức hại xảy ra với gia đình họ đã thu hút sự chú ý của Liên hợp quốc. Và đó cũng là hình ảnh thu nhỏ của cuộc bức hại của Trung cộng đối với hàng nghìn vạn đệ tử Đại Pháp kiên trì tín ngưỡng Chân Thiện Nhẫn ở Trung Quốc.

Một trường hợp khác. Liễu Chí Mai, sinh tại làng Tam Thanh, thị trấn Đoàn Vượng, thành phố Lai Dương, tỉnh Sơn Đông, là sinh viên hệ 97 khoa Kỹ thuật hoá học của trường đại học Thanh Hoa. Năm ấy Liễu Chí Mai 17 tuổi, sau một lần kiểm tra tuyển chọn, đã được cử đi học ở Đại học Thanh Hoa với thành tích đứng đầu tỉnh Sơn Đông. Sau khi cuộc đàn áp bắt đầu, bà bị đuổi khỏi đại học Thanh Hoa. Năm 2001, bà bị kết án bất hợp pháp 12 năm tù, bị đưa đến nhà tù nữ tỉnh Sơn Đông. Năm đó bà mới 21 tuổi. Do bị tra tấn tàn khốc trong thời gian dài và bị cưỡng chế tiêm các loại thuốc không rõ nguồn gốc gây phá huỷ hệ thần kinh, nên có thời gian tinh thần Liễu Chí Mai trở nên bất thường. Tệ hơn nữa, trước khi ra tù vào tháng 11 năm 2008, bà đã bị nhà tù tiêm thuốc độc. Sau ba ngày trở về nhà, Liễu Chí Mai đột nhiên bị tâm thần, bệnh càng ngày càng nặng, bắt đầu nói năng lộn xộn và mất trí nhớ. Rốt cuộc bà ấy đã phải chịu đựng những ma nạn nào trong tù? Một Liễu Chí Mai bị mất trí nhớ đã không cách nào nói rõ được nữa.

Những trường hợp bức hại này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Từ một vài số liệu được Minh Huệ net công bố, chúng ta có thể thấy số trường hợp được xác nhận bị bức hại đến chết tính đến tháng 5 năm 2012 là 3537 người. Đây chỉ là một số ít trường hợp rất khó mới truyền được ra ngoài dưới sự phong tỏa nghiêm mật. Hơn 100000 người đã bị giam giữ bất hợp pháp trong các trại lao động. “Báo cáo tự do tôn giáo” năm 2008 của chính phủ Mỹ đã đề cập rằng hơn một nửa số người trong các trại lao động của Trung Quốc là học viên Pháp Luân Công. Cũng có nhiều học viên Pháp Luân Công bị giam trong bệnh viện tâm thần và bị tiêm các loại thuốc không rõ nguồn gốc. Vô số học viên bị bắt đến “lớp tẩy não” và phải trải qua sự cưỡng chế tẩy não đáng sợ. Vì không từ bỏ tín ngưỡng của mình mà các học viên Pháp Luân Công đã bị đối xử bất công ở nhiều phương diện như xin việc, nghỉ việc, học lên cao, xuất ngoại, thăng chức, cung cấp nhà ở, v.v.. Nó đã trở thành chuyện thường nhật đối với các học viên Pháp Luân Công.

Bức hại có hệ thống

Khi các học viên Pháp Luân Công bị tra tấn, họ thường nghe thấy các cảnh sát côn đồ nhắc lại mệnh lệnh rõ ràng của Giang Trạch Dân đối với Pháp Luân Công là “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính và huỷ hoại thân thể”. Tất cả các chính sách bức hại này được thực thi bởi Phòng 610, một tổ chức Gestapo do Giang Trạch Dân thành lập. Chúng ta nói cuộc bức hại này có “tính hệ thống, tính phổ biến, và bị che đậy”. Trong đó “tính hệ thống” chính là dựa vào việc thực thi cụ thể của Phòng 610 này. Phòng 610 là một tổ chức đặt ngoài vòng pháp luật, đứng trên cả luật pháp, giống như “Tổ cách mạng văn hoá trung ương”.

Trên thực tế, luật pháp Trung Quốc căn bản là không có điều khoản nào có thể áp dụng đối với Pháp Luân Công, mà bản chất của cuộc bức hại chính là việc thực thi vận động chính trị một cách phi pháp, phải lấy phương thức vận động chính trị mà tiến hành. Ngày 7 tháng 6 năm 1999, tại cuộc họp Bộ Chính trị, Giang Trạch Dân đã tuyên bố thành lập một tổ lãnh đạo mới thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc để xử lý vấn đề Pháp Luân Công. Thành lập một văn phòng dưới quyền của tổ lãnh đạo này để xử lý các sự vụ thường nhật.

Văn phòng này được gọi là Phòng 610 vì nó được thành lập vào ngày 10 tháng 6 năm 1999. Hầu hết mọi chi bộ của đảng, từ cấp tỉnh đến các quận, huyện đều thành lập Phòng 610. Quyền lực của Phòng 610 không đến từ nhà nước. Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Quốc vụ viện đều không có quyền điều hành Phòng 610, mặc dù sau này một tấm biển đã được treo ở Quốc vụ viện để che mắt công chúng. Trên thực tế, quyền lực của Phòng 610 đến từ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mỗi Phòng 610 đều nhận lệnh từ Phòng 610 cấp trên, tầng tầng như thế cho đến Phòng 610 trung ương. Phòng 610 ở mỗi cấp cũng đặt dưới sự chỉ đạo của đảng uỷ cùng cấp. Vẫn còn hàng nghìn Phòng 610 hoạt động ở Trung Quốc đến ngày nay. [2]

Từ kinh nghiệm của Lưu Kinh, người phụ trách Phòng 610 trung ương trong 10 năm, có thể có cái nhìn sơ lược về tổ chức bí mật này. Cả đời Lưu Kinh đã đi theo con đường “người kế tục chủ nghĩa cộng sản” kinh điển. Cha dượng của ông ta là một quan chức cấp cao của ĐCSTQ, nên ông ta thuộc về một nhóm người mà hiện nay được gọi là thái tử đảng. Ông ta gia nhập đảng khi còn học tại Đại học Công nghiệp Bắc Kinh. Khi Cách mạng văn hoá bắt đầu vào năm 1966, tổ công tác do Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình cử đến đã đóng tại Đại học Công nghiệp Bắc Kinh. Sau đó, vẫn là Lưu Kinh với vai trò là chủ nhiệm của Uỷ ban Cách mạng văn hoá trường đã chống lại những người bị chụp mũ là bọn “xã hội đen”, đánh giáo sư và chỉnh lý hồ sơ đen của giáo viên và sinh viên phản đối tổ công tác. Vào tháng 7, sau khi Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình thất thế, Lưu Kinh cần tìm một cơ hội mới. Vào ngày 12 tháng 8, Lưu Kinh và Đàm Lực Phu cùng đưa ra một tấm áp phích cỡ lớn có tiêu đề “Thảo luận từ câu đối”, kiến nghị với Mao Trạch Đông và Trung ương Trung Cộng rằng cần đem “Huyết thống luận” tinh chỉnh thành chính sách, thành nội dung của các sách báo trong tương lai. Ít nhất hàng chục nghìn người trên khắp cả nước đã bị đánh đập và sát hại trong “cuộc khủng bố đỏ” dưới sự chỉ đạo của “Huyết thống luận”. Gần Bắc Kinh, 1772 người đã bị đánh chết trong “Tháng 8 đỏ” trong cao trào “Huyết thống luận”.

Sau cách mạng văn hoá, thái tử đảng bắt đầu kinh doanh. Lưu Kinh gia nhập công ty Khang Hoa của Đặng Phác Phương, con trai Đặng Tiểu Bình. Sau này Lưu lại là phó chủ tịch hội đồng điều hành của Liên đoàn Người khuyết tật Trung Quốc, nơi Đặng Phác Phương là chủ tịch. Sau sự kiện Lục Tứ, các quan chức quan trọng của hệ thống Khang Hoa lần lượt được bổ nhiệm vào giới chính trị. Ví như Du Chính Thanh từng là bí thư Thành uỷ Thanh Đảo (hiện nay là bí thư Thành uỷ Thượng Hải), Lưu Kinh là bí thư Thành Uỷ Côn Minh. Vì kinh nghiệm này, sau này trong cuộc tranh đoạt quyền lực, khi Giang Trạch Dân lật đổ người nắm quân quyền là Dương Thượng Côn, đại tổng quản Tăng Khánh Hồng của Giang đã lợi dụng Lưu Kinh, cũng là thái tử đảng, và Du Chính Thanh, người cũng có kinh nghiệm tương tự thông qua Đặng Phác Phương mà thuyết phục Đặng Tiểu Bình cuối cùng phải vứt bỏ người huynh đệ Dương Thượng Côn của mình.

Tháng 6 năm 1999, khi Giang Trạch Dân muốn thành lập Phòng 610, một tổ chức bí mật bức hại Pháp Luân Công ngoài vòng pháp luật, ông ta cần một người trung thành với mình và có tiểu sử có thể chứng minh là một kẻ độc ác. Người này không ai khác chính là Lưu Kinh.

Cơ cấu của Phòng 610 Trung ương Trung cộng giống như cơ cấu của bộ phận cấp trên của nó – Tổ lãnh đạo xử lý các vấn đề của Pháp Luân Công của Trung ương Trung Cộng. Khi mới thành lập, tổ trưởng của tổ lãnh đạo là Lý Lam Thanh, tổ phó là La Cán và Đinh Quan Căn. Lý Lam Thanh là uỷ viên của Uỷ ban Thường vụ Bộ Chính trị vào thời điểm đó, nói rằng vị trí của tổ này trong nội bộ đảng là hạch tâm lãnh đạo tối cao. Một tổ phó là bí thư Uỷ ban Chính trị và Pháp luật Trung ương Trung cộng, người còn lại là bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trung ương Trung cộng. Họ lần lượt đại diện cho nòng súng (công cụ trấn áp) và ngòi bút (công cụ tuyên truyền) của Trung cộng. Khi đó, giám đốc Phòng 610 Trung ương là Vương Mậu Lâm, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Nam, cũng biểu đạt ra rằng cấp bậc của nó là cấp tỉnh, cấp bộ. Một phó giám đốc là Lưu Kinh, thứ trưởng Bộ Công an, đại biểu cho việc trấn áp bạo lực. Một phó giám đốc khác là Lý Đông Sinh, khi đó ông ta là phó giám đốc CCTV, đại diện cho ngòi bút tuyên truyền. Hai năm sau, thuận theo việc Lý Lam Thanh và Vương Mậu Lâm nghỉ hưu, vị trí của họ được thay thế bởi La Cán và Lưu Kinh, đại biểu cho hệ thống Chính trị và Pháp luật. Kể từ đó, do đàn áp kéo dài vài năm vẫn không thể áp đảo được Pháp Luân Công, hiệu quả của cuộc đàn áp chính trị kia bị phần lớn xã hội hoài nghi. Trung cộng đã chuyển sang che đậy cuộc đàn áp, hệ thống tuyên truyền dần dần mai một. Đến nỗi vào năm 2009, khi Lý Đông Sinh, người đã giữ chức thứ trưởng Bộ Tuyên truyền Trung ương, kế nhiệm Lưu Kinh đang bị bệnh, làm giám đốc Phòng 610 Trung ương. Ông ta đã được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Công an và phó bí thư đảng uỷ dưới hình thức bổ nhiệm xuyên bộ rất hiếm thấy.

“Chuyển hoá”: Bạo lực, tuyên truyền áp lực cao và “tẩy não”

Đúng như một quan chức cấp cao Trung Quốc nói với tờ The Washington Post, trấn áp thời kỳ đầu đã không thành công, mãi đến năm 2001 mới hình thành “phương pháp” hữu hiệu. Phương pháp hữu hiệu này bao gồm ba phương diện: bạo lực, tuyên truyền áp lực cao và tẩy não. Cả ba đều không thể thiếu và tẩy não là chìa khoá[3]. Trong tuyên truyền công khai, Trung cộng đã đặt cho sự kết hợp của bạo lực, tuyên truyền áp lực cao và tẩy não một danh xưng chuyên môn khiến ngoại giới mê hoặc, gọi là “chuyển hoá”.

Các phương tiện truyền thông của Trung cộng vu khống Pháp Luân Công là đối nghịch với toàn xã hội, nhằm kích động lòng thù hận để có thể tiến hành cuộc bức hại. Mà cụ thể đối với các học viên Pháp Luân Công chính là chính sách bức hại dựa trên “chuyển hoá”, cưỡng bức các học viên Pháp Luân Công ký giấy cam đoan từ bỏ tu luyện. Từ đó, có một chỉ tiêu mới gọi là “tỷ lệ chuyển hoá”, cũng giống như chỉ tiêu GDP của một địa phương. Tỷ lệ chuyển hoá được dùng để liên kết với hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, với chiếc mũ ô sa của lãnh đạo đơn vị và quan viên các cấp. Thậm chí còn liên quan đến việc đánh giá trại lao động, nhà tù, nghiệp vụ của cảnh sát có liên quan. Hậu quả mang đến khi truy cầu GDP cao rõ như ban ngày, cũng như vậy, bức hại để truy cầu “tỷ lệ chuyển hoá” cao đối với các học viên Pháp Luân Công còn gây sốc hơn.

Việc “chuyển hoá” chính là bức ép các học viên Pháp Luân Công ký vào cái gọi là “tam thư”, “ngũ thư” (hối quá thư, bảo chứng thư, quyết liệt thư, yết phê thư, quyết tâm thư, v.v..). “Bảo chứng thư” có nghĩa là khiến học viên Pháp Luân Công viết ra văn bản có nội dung mà Trung cộng chỉ định rồi ký tên lên đó. Nội dung bao gồm: công khai bôi nhọ những lợi ích to lớn của việc tu luyện Pháp Luân Công đối với thể chất và tinh thần của một người; “nhận sai”, “nhận tội” với Trung cộng; biểu thị “cảm ân” đối với hoạt động tẩy não chuyển hoá của Trung cộng; hùa theo Trung cộng phỉ báng Pháp Luân Công; cam đoan không lại tu luyện Pháp Luân Công nữa; cam đoan không lại vì Pháp Luân Công mà kiến nghị nữa; v.v.. “Bảo chứng thư” là tài liệu văn bản lấy được bằng thủ đoạn bạo lực, khi các học viên Pháp Luân Công bị mất tự do về thể xác, tinh thần và thân thể chịu sự bức hại nghiêm trọng.

Phòng 610 các nơi đã tổ chức các lớp tẩy não để chuyển hoá các học viên Pháp Luân Công. Một việc quan trọng mà các trại lao động và nhà tù, nơi giam giữ phi pháp một lượng lớn các học viên Pháp Luân Công, chính là chuyển hoá học viên, ký “tam thư”, “ngũ thư”. Ngoài các trại lao động và nhà tù, Phòng 610 còn chuyên môn thiết lập nhiều loại lớp tẩy não khác nhau để chuyển hoá học viên Pháp Luân Công.

Sau khi cuộc đàn áp Pháp Luân Công bắt đầu, trong tin tức vạch trần lớp tẩy não trên Minghui.org (còn gọi là Minh Huệ net, một cổng thông tin của học viên Pháp Luân Công thường xuyên đăng tải thông tin đàn áp bên trong Trung Quốc) thường đề cập đến một nơi gọi là “Trung tâm đào tạo pháp chế”. Người bình thường nghĩ rằng đây là một đơn vị đào tạo phổ biến pháp luật nào đó và chỉ là thuận tiện dùng nó làm “lớp chuyển hoá” tẩy não học viên Pháp Luân Công. Kỳ thực hoàn toàn không phải vậy. Trong “Nhiệm vụ của Trung tâm đào tạo pháp chế thành phố” được công bố trên trang web của Uỷ ban pháp luật thành phố Thanh Châu, Sơn Đông đã nói minh xác rằng đây là một “cơ sở chuyên phụ trách công tác giáo dục và chuyển hoá học viên Pháp Luân Công”. [4]

Những năm gần đây, thuận theo sự hủ bại của chốn quan trường, mâu thuẫn xã hội càng ngày càng nhiều, người dân kêu oan ngày càng nhiều. Thế là “Trung tâm đào tạo pháp chế” dùng để tẩy não học viên Pháp Luân Công lại bị lợi dụng làm nơi giam giữ phi pháp những người dân thỉnh nguyện. Vào ngày 15 tháng 7 năm 2011, phương tiện truyền thông ở Trung Quốc đại lục công bố một việc là Trung tâm đào tạo pháp chế Thành Cố, Thiểm Tây đã giam giữ người thỉnh nguyện đến chết đói. Ngày 18 tháng 3 năm 2010, Tư Linh Quân, một cựu chiến binh tàn tật hạng ba bị giam 9 tháng 4 ngày đến mức chỉ còn da bọc xương, đã đột tử tại Trung tâm đào tạo pháp chế. Đa số báo chí đã vạch trần hành vi xấu của rất nhiều Trung tâm đào tạo pháp chế. Báo cáo cho biết, để ngăn cản dân oan đi thỉnh nguyện tại Bắc Kinh, huyện Thành Cố, tỉnh Thiểm Tây đã đưa những “kẻ kêu oan dai dẳng” được trả về từ Bắc Kinh vào Trung tâm đào tạo này. Trung tâm đào tạo pháp chế tra tấn người thỉnh nguyện bằng các thủ đoạn tàn khốc không chịu chế ước và thuận tiện nhất như bỏ đói, v.v. khiến cho họ chịu khổ nạn cự đại và sau cùng không thỉnh nguyện nữa. Vì chịu tra tấn thể xác thời gian dài và bị bỏ đói, hầu hết những người “được đào tạo” gầy đến giơ xương, có người thậm chí mất mạng.

Từ cảnh ngộ của những người thỉnh nguyện trong Trung tâm đào tạo pháp chế, người ta có thể hình dung ra hoàn cảnh khốc liệt của các học viên Pháp Luân Công, những người bị Giang Trạch Dân và Trung cộng coi là kẻ thù lớn nhất, tại nơi đó. “Cấm học viên ngủ” được Trung cộng quảng bá rộng rãi như một trong những cách hiệu quả nhất để chuyển hoá các học viên Pháp Luân Công. Buộc các học viên Pháp Luân Công xem video phỉ báng Pháp Luân Công trong hoàn cảnh bị phong bế, cưỡng chế tẩy não, lạm dụng cực hình, đều là các thủ đoạn bạo lực cần thiết để chuyển hoá.

Cực hình

Một ngày cuối tuần giữa tháng 8 năm 2004, trên đường phố Manhattan, New York, nơi các học viên Pháp Luân Công đang giảng chân tướng cuộc bức hại, những người qua đường thỉnh thoảng dừng trước một bảng triển lãm. Trong ánh mắt chăm chú của họ chứa đầy sự bi phẫn và chấn động.

Đó là một câu chuyện về một khuôn mặt xinh đẹp bị huỷ hoại, sự đối lập của các bức ảnh chụp khuôn mặt trước và sau khi bị huỷ hoại khiến người khác đau lòng.

Chủ nhân của câu chuyện là Cao Dung Dung, một nhân viên Phòng Tài chính của Học viện Mỹ thuật Lỗ Tấn, Thẩm Dương. Do không từ bỏ việc tu luyện Pháp Luân Công nên bà bị giam giữ phi pháp tại Trại Lao động cưỡng bức Long Sơn, Thẩm Dương. Vào ngày 7 tháng 5 năm 2004, Cao Dung Dung đã bị đội phó Đại đội 2 Đường Ngọc Bảo và đội trưởng Khương Triệu Hoa của Trại lao động cưỡng bức Long Sơn sốc điện trong 6 giờ liên tục từ 3 giờ chiều đến hơn 9 giờ tối, khiến cho mặt của bà bị biến dạng nghiêm trọng. Sau này Cao Dung Dung đã bị bức hại đến chết. (Xem bài: Khuôn mặt Cao Dung Dung và mặt thật của một cuộc bức hại tại TQ)

……

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-3-2-cuoc-buc-hai-the-ky.html