Có lẽ tất cả mọi người đều biết về cuộc đàn áp Pháp Luân Công do Giang Trạch Dân phát động. Cuộc trấn áp đối với những người tu luyện Pháp Luân Công, về thực chất là một cuộc bức hại đối với lương tâm của tất cả mọi người. Pháp Luân Công là gì? Vì sao cuộc đàn áp này lại xảy ra?
- Tiếp theo kỳ trước
Ngày 13/5/1992, Đại sư Lý Hồng Chí đã công khai truyền ra Pháp Luân Đại Pháp – một pháp môn tu luyện cả tâm tính và thân thể (tính mệnh song tu) thuộc hàng thượng thừa của Phật gia, lấy “Chân, Thiện, Nhẫn” làm nguyên tắc tối cao. Pháp Luân Công được truyền từ người này sang người khác, từ tâm truyền tâm, chỉ trong vài năm đã có tới hàng chục triệu người tu luyện ở Trung Quốc. Sự thức tỉnh về đạo đức bắt nguồn từ trong dân gian đã trao cho dân tộc này thêm một cơ hội nữa.
Các học viên Pháp Luân Công tu tâm dưỡng tính, rèn luyện sức khỏe, nâng cao đạo đức – điều này đối với xã hội chỉ có trăm điều lợi mà không một điều hại, hơn nữa còn là một lực lượng tích cực góp phần ổn định xã hội. Vậy ai được lợi? Ai đang cầm quyền? Điều không may là, những người cầm quyền lại chọn đứng ở phía sai của lịch sử. Những gì xảy ra sau đó đã ứng nghiệm với hai câu nói: “Tiểu nhân đắc chí thì càn rỡ”, “Chỉ có kẻ nhu nhược mới là tàn bạo nhất”.
Những gì người ta nhìn thấy ngày nay là sự tràn lan của thực phẩm độc hại; là sự tàn nhẫn của những cuộc cưỡng chế giải tỏa bằng vũ lực; là sự chất vấn giới hạn cuối cùng của lương tâm qua sự kiện bé Duyệt Duyệt (đã nhắc tới kỳ trước); là nỗi bi thương từ kiểu lạm dụng chấp pháp như vụ Tôn Chí Cương (nhận hối lộ hơn 114 triệu USD đã nói ở kỳ trước); là sự bất lực khi những luật sư nhân quyền nổi tiếng như Cao Trí Thịnh, Trần Quang Thành… vì bảo vệ quyền lợi cho các nhóm người yếu thế mà bản thân lại rơi vào cảnh yếu thế; là sự điên cuồng khi chi phí duy trì ổn định liên tục tăng vượt tốc độ tăng của chi phí quân sự; là sự tuyệt vọng của xã hội đến từ sự suy thoái đạo đức toàn diện và cuộc khủng hoảng chữ tín…
Rốt cuộc là ai đang bóp nghẹt tín ngưỡng? Là ai đang làm bại hoại đạo đức? Là ai đã biến các cơ quan chức năng như công an, kiểm sát, tòa án, tư pháp, tuyên truyền… thành những cỗ máy chuyên nghiệp coi thường sinh mạng con người và chà đạp lên pháp luật?
Thật khó có thể tưởng tượng rằng: chương trình “Tiêu Điểm Phỏng Vấn” – vốn có thể bịa đặt đủ loại lời dối trá để bôi nhọ, công kích Pháp Luân Công – lại có thể thực sự giữ vững lương tâm đạo nghĩa của một người làm truyền thông khi đưa tin về những việc khác trong xã hội; thật khó có thể tưởng tượng rằng những cảnh sát có thể tùy tiện đánh chết, đánh tàn tật các học viên Pháp Luân Công, lại có thể nhân từ, nhẹ tay với những người khác; thật khó có thể tưởng tượng rằng một hệ thống tư pháp có thể không cho luật sư bào chữa cho các học viên Pháp Luân Công, hoặc khiến chính các luật sư bào chữa đó cũng trở thành đối tượng bị đàn áp, lại có thể mang đến sự bảo vệ pháp lý công bằng cho các nhóm người khác; thật khó có thể tưởng tượng rằng một xã hội coi “Chân, Thiện, Nhẫn” là từ ngữ bị chặn trên mạng, lại có thể cho người ta thấy hy vọng về việc xây dựng lại đạo đức dân tộc.
Tất cả những điều này xảy ra đều không thể tách rời khỏi cuộc bức hại khiến người ta phẫn nộ, đã kéo dài hơn chục năm, bị che đậy hết sức nghiêm ngặt, nhằm vào các học viên Pháp Luân Công – những người tin theo “Chân, Thiện, Nhẫn”.
1. Pháp Luân Công được truyền ra
Ông Lý Hồng Chí bắt đầu công khai giảng dạy từ ngày 13/5/1992, chính thức truyền xuất Pháp Luân Đại Pháp. Trong các buổi giảng, ông Lý Hồng Chí đã nói thẳng ngay từ đầu với các học viên rằng Pháp Luân Đại Pháp là đại pháp tu luyện của Phật gia. Đây là lần đầu tiên kể từ khi Trung Cộng thành lập chính quyền có người công khai đề xướng việc tu luyện, đồng thời nối lại cho người Trung Quốc nền văn hóa tu luyện đã bị Trung Cộng cắt đứt.
Tu luyện là một lĩnh vực có nguồn gốc lâu đời, ẩn chứa vô vàn điều huyền diệu trong nền văn minh nhân loại, thông thường bao gồm hai phần: tâm pháp (còn gọi là nguyên lý) và công pháp, nội hàm của nó vượt xa phạm vi của triết học và việc rèn luyện sức khỏe. Công pháp nói chung là chỉ phần dùng để tu luyện thân thể, còn tâm pháp chính là điểm mấu chốt dạy người tu tâm, khiến cảnh giới của con người được đề cao. Mặc dù từ xưa đến nay, tinh túy của tu luyện chưa từng được đem ra thảo luận sâu và phổ cập rộng rãi trong xã hội, nhưng bởi nó có khả năng tiết lộ những bí ẩn về các không gian khác nhau của tồn tại vật chất, về sinh mệnh và vũ trụ, nên nó vẫn để lại vô số dấu tích, thần tích trong cả văn hóa Trung Hoa và văn minh phương Tây. Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Bát Quái của Trung Quốc cổ đại, Yoga cổ của Ấn Độ, cùng một số phương pháp tĩnh tu của phương Tây, đều ẩn chứa những điều huyền bí của tu luyện, nhưng theo dòng chảy của lịch sử và việc tâm pháp bị thất truyền, người hiện đại đã rất khó có thể chạm đến được ý nghĩa sâu xa nguyên bản của những phương pháp tu luyện đó.
Pháp Luân Đại Pháp còn được gọi là Pháp Luân Công, là công pháp tu luyện cả tâm tính và thân thể (tính mệnh song tu), lấy “Chân, Thiện, Nhẫn” làm chỉ đạo, tu luyện theo nguyên lý diễn hóa của vũ trụ. Hai chữ “tu luyện” đồng thời bao hàm hai phương diện: Tu – tức là tu tâm; Luyện – tức là luyện công. Tu tâm thì cần phải có pháp lý tương ứng làm chỉ đạo. Trong “Chuyển Pháp Luân” – trứ tác quan trọng nhất của Pháp Luân Đại Pháp, đã bao hàm toàn bộ pháp lý cần thiết, từ khi mới bước vào tu luyện cho đến khi tu luyện viên mãn. Là một công pháp tính mệnh song tu, dĩ nhiên cũng cần phải luyện công. Pháp Luân Đại Pháp có năm bài công pháp, gồm bốn bài động công và một bài tĩnh công ngồi thiền (đả tọa).
Trong vô số các công pháp rèn luyện sức khỏe, Pháp Luân Công phát triển nhanh nhất, có ảnh hưởng lớn nhất trong quần chúng, thu hút được sự quan tâm của giới y học và sự chú ý của chính quyền. Năm 1998, để phối hợp với công tác điều tra và đăng ký các môn phái khí công của Ủy ban Thể dục Thể thao Quốc gia, giới y học địa phương tại Bắc Kinh, Vũ Hán, khu vực Đại Liên, tỉnh Quảng Đông và một số khu vực khác (như Nam Xương, Quảng Tây, An Huy…) đã tổ chức các cuộc điều tra y học sơ bộ đối với các học viên Pháp Luân Công tại các điểm luyện công ở địa phương. Theo các báo cáo điều tra hiện có từ Bắc Kinh (hai lần), Vũ Hán, khu vực Đại Liên và tỉnh Quảng Đông, năm lần điều tra nói trên đã thu về gần 35.000 phiếu điều tra. Tuy chỉ là sơ bộ, nhưng đây đã là “cuộc điều tra vĩ mô về mặt y học cơ bản” mang tính hệ thống và toàn diện nhất từ trước đến nay đối với hiệu quả chữa bệnh, khỏe người của Pháp Luân Công. Nhóm người tu luyện Pháp Luân Công được điều tra đến từ mọi tầng lớp xã hội, có trình độ học vấn khác nhau, trong đó nữ giới chiếm 72,9%, người trên 50 tuổi chiếm 62,1%, số người mắc từ một loại bệnh trở lên trước khi tu luyện chiếm trên 90%, có thể nói rằng phần lớn học viên bắt đầu tu luyện Pháp Luân Công là vì mong muốn thông qua luyện công để đạt được việc chữa bệnh, khỏe người. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ hiệu quả chung của việc chữa bệnh, khỏe người đạt trên 98%.[1] Người ta cảm kích vì Pháp Luân Công đã cho họ một cuộc sống thứ hai, hoặc đã cứu được người thân trong gia đình họ.
Ngoài hiệu quả chữa bệnh, khỏe người rõ rệt, những lời giáo huấn đầy mới mẻ của Pháp Luân Công về đạo đức còn đánh thức rất nhiều người khỏi sự sa đọa. “Con người phải phản bổn quy chân, đó mới là mục đích chân chính để làm người” (Bài giảng thứ nhất – Chuyển Pháp Luân) Lời của ông Lý Hồng Chí đã khiến khát vọng sâu thẳm trong lòng người ta được hồi sinh. Nhờ tu luyện, họ trải nghiệm được một cuộc sống mang nội hàm hoàn toàn mới, họ cảm nhận được sự bình yên phát ra từ đáy lòng, họ từ bỏ những oán hận chất chứa mà không cảm thấy mất mát gì, họ buông bỏ sự truy cầu của cải vật chất và không còn lo sợ bị thiệt thòi. Các quan chức chính quyền cự tuyệt tham nhũng, từ chối hối lộ; các thương nhân bỏ đi những thủ đoạn lừa gạt để bắt đầu kinh doanh một cách trung thực; thậm chí cả những thành viên băng đảng, những kẻ nghiện ngập, những tên trộm cắp cũng gột rửa tâm hồn, cải tà quy chính, bắt đầu cuộc sống mới. Đạo đức cao thượng mà các học viên Pháp Luân Công thể hiện đã có tác dụng tích cực đối với xã hội, điều này đã được rất nhiều người – bao gồm cả các quan chức Trung Cộng ở nhiều cấp bậc khác nhau – nhận thức được. Lấy một ví dụ, ở Trung Quốc, quy trình chuẩn tại các trạm thu mua lương thực là dùng sàng lọc rồi cân lại một lần nữa số lương thực mà nông dân nộp lên; tuy nhiên tại huyện Giám Lợi, tỉnh Hồ Bắc, quy trình này lại được miễn trừ đối với những nông dân tu luyện Pháp Luân Công. Nhiều công ty thậm chí còn ưu tiên tuyển dụng các học viên Pháp Luân Công, vì Pháp Luân Công lấy “Chân, Thiện, Nhẫn” làm chuẩn mực đã trở thành đồng nghĩa với sự trung thực, đáng tin cậy.
Pháp Luân Đại Pháp (Pháp Luân Công) mà ông Lý Hồng Chí truyền ra, lấy “Chân, Thiện, Nhẫn” làm chuẩn mực tu luyện, mang tính tu thiện và hòa bình; mọi hoạt động đều công khai, tự nguyện, miễn phí, không có danh sách ghi danh, đến đi tự do. Không phân biệt nam nữ già trẻ, từ những đứa trẻ vài tuổi cho đến những cụ già chín mươi tuổi, mỗi người tu luyện đều là một thành viên trong xã hội. Đối với cá nhân, tu luyện Pháp Luân Công không những có thể chữa bệnh, khỏe người, khiến con người trở nên trung thực, lương thiện, khoan dung, hòa ái, mà còn có thể khai mở trí huệ, dần dần đạt đến cảnh giới tự tại thấu hiểu những điều huyền bí của đời người và vũ trụ; đối với xã hội, tu luyện Pháp Luân Công có thể làm tăng thêm sự ổn định, khoan dung và an hòa cho xã hội, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần chung của con người. Vì vậy, chỉ nhờ vào việc truyền từ người này sang người khác, tâm truyền tâm, mà số người tu luyện ngày càng đông; từ khi được truyền ra vào năm 1992 cho đến năm 1999, Pháp Luân Công tại Trung Quốc đại lục đã có từ 70 triệu đến 100 triệu học viên. Ngày nay, Pháp Luân Công đã truyền rộng khắp Trung Quốc và hơn 100 quốc gia, khu vực trên thế giới; người tu luyện có mặt ở khắp các dân tộc, chủng tộc trên toàn cầu, nhận được rất nhiều sự khen ngợi và ủng hộ từ chính quyền, đoàn thể các nước.
2. Sóng ngầm cuồn cuộn
Mặc dù những tác động tích cực mà Pháp Luân Công mang lại cho xã hội là điều ai cũng thấy rõ, nhưng một số quan chức trong nội bộ Trung Cộng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa vô thần làm chuẩn mực lại vô cùng bất mãn trước mức độ được yêu thích ngày càng tăng của Pháp Luân Công. Họ không thể chấp nhận được việc sau 40 năm bị nhồi nhét, tẩy não bằng chủ nghĩa Mác, vẫn còn có nhiều người như vậy, bao gồm cả các đảng viên Đảng Cộng sản, quay sang tìm kiếm những lời giáo huấn về tinh thần và đạo đức trong một pháp môn tu luyện cổ xưa rõ ràng mang tính hữu thần. Đồng thời, một số quan chức trong các bộ phận tình báo, an ninh và công an của Trung Cộng lại vừa đúng lúc nhận thấy có thể lợi dụng việc giám sát, đàn áp Pháp Luân Công để mở rộng quyền lực, thu vén vốn liếng chính trị cho mình. Hai bộ phận thế lực chính trị này vì vậy đã bắt tay đồng lõa, áp dụng một loạt các biện pháp để đàn áp Pháp Luân Công.
Sự sách nhiễu của công an
Từ năm 1994, các nhân viên công an của Trung Cộng đã cho người trà trộn nằm vùng vào Pháp Luân Công, nhưng không phát hiện được vấn đề gì, thậm chí nhiều nhân viên nằm vùng còn bắt đầu luyện tập Pháp Luân Công. Năm 1996, “Quang Minh Nhật Báo” đã vi phạm chính sách “ba không” đối với khí công là “không tuyên truyền, không can thiệp, không đánh gậy”, đăng bài viết vô căn cứ phê phán Pháp Luân Công trên lĩnh vực tư tưởng, tiếp đó Ban Tuyên truyền Trung ương đã cấm xuất bản các sách của Pháp Luân Công. Sau đó, sự sách nhiễu đối với Pháp Luân Công từ phía công an và những chính khách đội lốt danh hiệu “nhà khoa học” cứ liên tục không ngừng. Đầu năm 1997, La Cán – Bí thư Ủy ban Chính pháp Trung ương Trung Cộng lúc đó – đã lợi dụng quyền hạn của mình, chỉ đạo ngầm cho các cơ quan công an tiến hành một cuộc điều tra trên toàn quốc đối với Pháp Luân Công, với ý đồ dựng chuyện gán tội để cấm đoán Pháp Luân Công. Sau khi các địa phương đều đưa ra kết luận là “chưa phát hiện được vấn đề gì”, đến tháng 7/1998 La Cán lại thông qua Cục 1 của Bộ Công an Trung Quốc (còn gọi là Cục Bảo vệ Chính trị, gọi tắt là Cục Chính bảo) phát ra “Thông tri về việc triển khai điều tra đối với Pháp Luân Công” số Công Chính [1998] 555, trước tiên quy kết Pháp Luân Công là “tà giáo”, sau đó để công an các địa phương trên toàn quốc tiến hành “điều tra nằm vùng” một cách có hệ thống, thu thập chứng cứ. Kết quả điều tra vẫn không thu được gì. Nhưng sự sách nhiễu đối với các hoạt động tu luyện bình thường của học viên Pháp Luân Công ở một số địa phương vẫn tiếp tục diễn ra. Năm 1998, các cục công an ở Tân Cương, Hắc Long Giang, Hà Bắc, Phúc Kiến, Giang Tô, Liêu Ninh, Sơn Đông… đã lấy danh nghĩa “tụ tập bất hợp pháp” để cưỡng chế giải tán những người dân luyện công ngoài trời, lục soát tịch thu tài sản riêng của các học viên Pháp Luân Công, bắt giữ thẩm vấn, giam cầm, đánh mắng các học viên Pháp Luân Công.
Ở đây cần phải nhắc đến “Cục Chính bảo”. Trong thời đại Trung Cộng ra sức phát động các “phong trào chính trị”, nghề “chính bảo” – chuyên dùng để đánh vào “kẻ thù giai cấp” – là một nghề rất được ưa chuộng. Nhưng cùng với việc cải cách mở cửa, phát triển kinh tế trở thành dòng chảy chủ đạo, địa vị của “chính bảo” không còn ngang ngược như trước đây nữa. Những người làm chính bảo, để giữ vững và nâng cao địa vị của mình, đã tìm mọi cách để khai quật ra trong xã hội một tổ chức bất hợp pháp nào đó có ý đồ lật đổ chính quyền, dựng lên một số vụ án lớn, án trọng điểm, để chứng minh sự cần thiết cho sự tồn tại của mình. Trước tháng 7/1999, sự sách nhiễu của các cơ quan công an đối với những người dân luyện Pháp Luân Công chính là xảy ra trong bối cảnh như vậy.
Các học viên Pháp Luân Công không hề bị dọa sợ, từ những trải nghiệm tự thân trong tu luyện, họ biết rõ những lời cáo buộc bôi nhọ đó hoàn toàn là chuyện bịa đặt không có thật, họ đều đang làm người tốt, không có bất cứ điều gì có thể bị chỉ trích hay vu khống. Đồng thời, đối mặt với sự đàn áp vô căn cứ này, họ đã nhiều lần âm thầm chịu đựng bằng tấm lòng đại thiện đại nhẫn, tạo cơ hội cho những kẻ đàn áp đó hiểu được tu luyện là gì, người tu luyện là những người như thế nào. Rất nhiều học viên đã bất chấp nguy cơ mất việc, thậm chí bị bỏ tù, để viết thư gửi cho các lãnh đạo trung ương, dùng chính trải nghiệm bản thân để minh chứng rằng Pháp Luân Công có ích cho xã hội, không hề gây ra bất cứ mối đe dọa nào đối với những người đang cầm quyền.
Trước những xáo động trong xã hội do sự đàn áp Pháp Luân Công từ các bộ phận công an và tuyên truyền của Trung Cộng gây ra, Tổng cục Thể dục Thể thao Quốc gia từng cử một đoàn nghiên cứu đến Trường Xuân và Cáp Nhĩ Tân vào năm 1998 để tiến hành nghiên cứu về Pháp Luân Công, kết luận rằng: “Chúng tôi cho rằng công pháp và hiệu quả của Pháp Luân Công đều rất tốt, đối với sự ổn định của xã hội, đối với việc xây dựng văn minh tinh thần, hiệu quả là rất rõ rệt, điều này cần phải được khẳng định đầy đủ.”[2] Nửa cuối năm 1998, một số cán bộ lão thành đã nghỉ hưu của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, do Kiều Thạch dẫn đầu, đã tiến hành điều tra, nghiên cứu chi tiết về Pháp Luân Công trong một thời gian, rút ra kết luận “Pháp Luân Công đối với quốc gia và nhân dân có trăm điều lợi mà không một điều hại”, và vào cuối năm đã đệ trình báo cáo điều tra này lên Bộ Chính trị do Giang Trạch Dân đứng đầu. Vì lòng đố kỵ, oán hận đối với Kiều Thạch, Giang Trạch Dân đã rất bất mãn với báo cáo này, phê rằng: “Viết mơ hồ huyền hoặc, tôi không hiểu được.” Và đem báo cáo đó giao cho La Cán – người vẫn luôn giữ thái độ đàn áp đối với Pháp Luân Công – để xử lý. La Cán hiểu ý ngay, càng gia tăng các hành động đàn áp Pháp Luân Công. La Cán, người nắm trong tay hệ thống công an, đã lợi dụng một số kẻ lưu manh đội lốt khoa học có ác cảm với Pháp Luân Công để bắt đầu âm mưu một kế hoạch lớn hơn.
Lưu manh khoa học
Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc Hà Tộ Hưu chính là một tên tiểu tốt tiên phong như vậy. Năm 1951, khi tốt nghiệp khoa Vật lý của Đại học Thanh Hoa, do đã công bố luận điểm “khoa học tự nhiên có tính giai cấp”, Hà được Ban Tuyên truyền Trung ương Trung Cộng để mắt tới, phân công về công tác tại Ban Tuyên truyền Trung ương. Về sau Hà mới bắt đầu nghiên cứu vật lý lý thuyết, nhưng trọng điểm vẫn là dùng triết học Mác-xít để nghiên cứu vật lý. Thành quả nghiên cứu học thuật lớn nhất của Hà Tộ Hưu là đưa ra cái gọi là “mô hình tằng tử” (hạt lớp) của các hạt cơ bản, và đã công bố một bài luận văn với tiêu đề “Dùng tư tưởng Mao Trạch Đông để chỉ đạo nghiên cứu hạt cơ bản”, cho rằng “tằng tử” cũng có thể phân chia được, có thể phân ra thành “vô tử”, “mao tử”… và những hạt nhỏ hơn khác. Việc đặt tên “vô tử”, “mao tử” ngầm ý chỉ “con của giai cấp vô sản”, “con của Chủ tịch Mao”. Hà Tộ Hưu ở Viện Khoa học Trung Quốc là một nhân vật rất gây tranh cãi, đội chiếc mũ “nhà khoa học” nhưng trên thực tế lại là một chính khách luôn bám sát theo tình hình của Trung Cộng, được mệnh danh là kẻ “lưu manh khoa học”.
Ví dụ, vào đầu thế kỷ trước, Kekulé đã phát hiện ra cấu trúc vòng của benzen, sau đó trong suốt hàng chục năm các nhà hóa học vẫn chỉ biết đến hiện tượng đó mà không hiểu được nguyên do; sau này, Pauling – người đoạt giải Nobel Hóa học – đã đưa ra khái niệm “lý thuyết cộng hưởng”, giải thích một cách hợp lý cho mô hình Kekulé, đây chính là sự khởi đầu của cơ học lượng tử trong lĩnh vực hóa học cấu trúc. Nhưng Hà Tộ Hưu và những người khác lại lên án mô hình Kekulé – vốn đã được chứng minh – là “sự phản ánh của thuyết điều hòa giai cấp trong giới khoa học”, khiến một số lượng lớn các chuyên gia hóa học cấu trúc của Trung Quốc bị liên lụy, bị kiểm tra về “lập trường giai cấp tư sản”, dẫn đến việc nghiên cứu cơ học lượng tử của Trung Quốc bị ảnh hưởng nghiêm trọng và bị đình trệ trong một thời gian dài.
Hà Tộ Hưu – người luôn bám chặt không rời chủ nghĩa vô thần của Mác-xít – có sẵn mối ác cảm bẩm sinh đối với khí công mang truyền thống tu luyện của Trung Quốc. Trong một lần trả lời phỏng vấn của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc, Hà đã vô tình để lộ ra một câu nói thật lòng, rằng lòng can đảm để công kích Pháp Luân Công của ông ta hóa ra là bởi vì “phía sau tôi có Đảng Cộng sản”.
………….
Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-3-1-cuoc-buc-hai-the-ky.html



Bình luận