Ca Huế là loại nhạc cổ truyền được phát sinh và phát triển lâu đời. Tuy nhiên, tìm hiểu nguồn gốc và thời điểm phát sinh thì có nhiều ý kiến khác nhau.

Trước khi trình bày luận điểm của mình, chúng tôi xin trình bày ý kiến của những người đi trước:

Văn Lang trong “Ca Huế và ca kịch Huế” nêu ý kiến về nguồn gốc và thời điểm phát sinh ca Huế:

“Nếu xác định rằng dưới triều Lý, hát tuồng đang trên đường hình thành mà nhạc tuồng là xuất phát từ nhạc cung đình, thì chúng ta có thể nói nhạc cung đình phải hình thành trước đó, ít nhất cũng từ thế kỷ X. Do vậy cho phép chúng tôi được nói ca nhạc Huế (tức ca nhạc cổ truyền) cũng bắt nguồn từ đấy (…)

Cứ thế, ca nhạc cổ truyền được phát triển qua nhiều triều đại với nhiều thế kỷ, và cuối cùng quy tụ lại trên mảnh đất Thuận Hóa. Thời điểm quy tụ có thể căn cứ vào hai sự kiện lịch sử dưới đây mà nhiều người đã từng nói đến.

1. Nguyễn Hoàng, con trai Nguyễn Kim – phải vận động xin vào trấn thủ Thuận Hóa (năm 1558) và kiêm trấn thủ Quảng Nam (năm 1570).

2. Từ thế kỷ XVII họ Nguyễn ở Đàng Trong đã đẩy mạnh công cuộc khai hoang (…) với điều kiện kinh tế ở Thuận Hóa ngày càng được phát triển, đồng thời gặp mảnh đất giàu có về thơ ca đầy chất trữ tình, ca nhạc cổ sau khi quy tụ ở đây càng có điều kiện phát triển phong phú, dần dần được hình thành rõ nét và trở nên hoàn chỉnh”. (1)

Ưng Bình Thúc Giạ Thị đoán định:

“Duy điệu ca khởi điểm từ đời nào, khi nào, sử thơ không truyền lại, chỉ thấy thời đại yêu chuộng nghề văn mà đoán, thời khởi điểm từ đời Hiếu Minh” (2) (Chúa Nguyễn Phúc Chu – TTB chú).

Thái Văn Kiểm trong “Cố đô Huế” nhất trí với cụ Ưng Bình:

“Còn như các điệu ca Huế thì có lẽ như mới sản xuất từ đời Chúa Minh Tộ Quốc công Nguyễn Phúc Chu, tức là Hiển Tông Hiếu Minh Hoàng đế (1691 – 1725)” (3).

Lê Văn Hảo lại cho rằng:

“Thời kỳ hình thành và bước đầu phát triển của ca nhạc Huế là vào khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII.

Giữa thế kỷ XVIII, ca múa nhạc đã phát triển phong phú tại đô thành Phú Xuân”. (4)

Văn Thanh, trong thay lời tựa sách “Tìm hiểu ca Huế và dân ca Bình Trị Thiên” khẳng định:

“Được hình thành từ thế kỷ XIX, nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ XX, ca Huế mới thực sự hoàn chỉnh và thời gian cực thịnh của ca Huế là vào khoảng những năm của thập niên 20 cho đến khi thế chiến thứ hai bùng nổ”.

Giáo sư Trần Văn Khê cũng bàn về thời điểm hình thành ca Huế:

“Không có sử liệu nào nói rõ lối ca Huế có từ bao giờ, chỉ biết rằng ca Huế không phải là loại nhạc dân gian, vì nó chỉ được giới quyền quý hoặc trong cung đình sử dụng. Vậy có thể nói rằng đây là loại quan nhạc chứ không phải là loại dân nhạc”.(6)

Qua các ý kiến trên, chúng ta nhận thấy chỉ có Văn Lang và giáo sư Trần Văn Khê đề cập đến nguồn gốc ca Huế là nhạc cung đình. Các ý kiến của Ưng Bình Thúc Dạ Thị, Lê Văn Hảo, Thái Văn Kiểm, và Văn Thanh lại đề cập đến sự hình thành của ca Huế với những giả thiết khác nhau. Đa số thống nhất ca Huế hình thành vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, dưới thời đại chúa Nguyễn Phúc Chu cầm quyền (1691 – 1725). Riêng Văn Thanh lại cho ca Huế hình thành từ thế kỷ XIX. Chúng tôi sẽ bàn định về những ý kiến này:

Về nguồn gốc sâu xa của ca Huế, Văn Lang dựa vào nguồn gốc nhạc tuồng là nhạc cung đình mà cho rằng ca Huế (tức nhạc cổ truyền) cũng phát xuất từ đấy.

Ý kiến này tuy có cơ sở khi căn cứ trên lịch trình tiến triển của ca Huế, nhưng chúng tôi nghĩ rằng còn có thể bổ sung thêm. Ngọn nguồn sâu xa của âm nhạc dân tộc bao giờ cũng có nguồn từ dòng âm nhạc của dân tộc đó. Ca nhạc Huế không ra ngoài quy luật ấy.

Ngọn nguồn của nó là dòng âm nhạc chuyên nghiệp của cư dân Việt, vốn manh nha trong các thời Lý, Trần, Lê, đã vào xứ Huế qua các cuộc di dân của người Việt ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa và miền đồng bằng Bắc Bộ. Ngọn nguồn thứ hai ẩn sâu hơn, nó không trực tiếp và mạnh mẽ tác động vào ca nhạc Huế, nhưng thấm đậm sâu sắc, hồn nhiên đó là dòng âm nhạc dân gian ngàn đời của dân tộc. Có lẽ do ngọn nguồn này mà sau một thời kỳ phát triển mạnh mẽ ở cung đình trong các sinh hoạt ca hát vui chơi của tầng lớp thống trị, ca Huế lại trở thành phổ biến ở dân gian. Nó trở về với dân gian do tự bản thân đã chan hòa tình cảm lắng đọng và tràn đầy dân tộc tính.

Kiến giải của giáo sư Trần Văn Khê liên quan đến cơ sở phát sinh của ca Huế. Các chúa Nguyễn ở Đàng Trong tiếp nối truyền thống thưởng thức âm nhạc ở Đàng Ngoài mà cho tổ chức các buổi ca nhạc có lời ca ở cung đình. Thú thưởng ngoạn này lúc đầu chỉ giới hạn ở phủ chúa hoặc các bậc vương công, mãi sau này mới lan ra quần chúng.

Như vậy, tuy không trực tiếp xác định thời điểm và nguồn gốc phát sinh, nhưng giáo sư đã gián tiếp cho rằng ca Huế phát sinh vào thời điểm các chúa Nguyễn tại vị ở Huế, đó là bộ môn nghệ thuật được sản sinh ở cung đình.

Đây là đầu mối cho chúng ta tìm sợi dây thời điểm hình thành ca Huế.

Chúng ta cũng cần nhận định rằng, ca Huế là ca nhạc thính phòng, người ca, người đàn cùng người thưởng thức là những khách tri âm. Đây là một thứ nghệ thuật tao nhã của tầng lớp tao nhân mặc khách ở chốn cung đình có cuộc sống phong lưu, tâm hồn khoáng đạt tài năng thiên phú. Xét âm nhạc các bài ca Huế, ta thấy rõ là các giai điệu hoàn chỉnh. Ca Huế vừa là thanh nhạc vừa là khí nhạc kết hợp với nhau trong một hệ thống những bài bản cấu trúc chặt chẽ nghiêm ngặt.

Ca Huế là loại ca nhạc cổ điển, nó có cơ hội hình thành ở một vùng đất có điều kiện kinh tế văn hoá phát triển, giàu có về thơ ca, đầy tính chất trữ tình. Xét về những điều kiện ấy, Thuận Hóa quả là địa điểm thích hợp nhất hội đủ các yếu tố để ca Huế sống được và phát triển.

Tuy nhiên, xét về thời điểm hình thành ta lại phải thấy thời điểm đó phải là thời điểm thuận lợi. Để ấn định được điều này, cần phải trở lại lịch sử của dân tộc.

Thuận Hóa hình thành từ thế kỷ XIV, sau sự kiện Chế Mân dâng hai châu Ô Lý làm sính lễ cưới Huyền Trân Công Chúa. Nhưng ở giai đoạn này, di dân từ Nghệ Tĩnh vào cần ổn định chỗ ở và sinh cơ lập nghiệp. Tâm trí và sức lực của họ dồn vào việc bảo vệ lãnh thổ đất đai, chống đỡ sự xâm lấn của tàn quân Chămpa trở lại quấy rối. Vị trí của Thuận Hóa lúc đó ngang tầm một châu. Dân cư phần lớn là lớp di dân, trình độ văn hoá thấp nên phần văn nghệ phát triển chỉ có thể là văn nghệ dân gian. Thời điểm kế tiếp là cuộc di dân từ Thanh Hóa vào do Nguyễn Hoàng dẫn đầu vào thế kỷ XVI (1558). Giai đoạn đầu cũng lo bảo vệ lãnh thổ, chống đỡ sự xâm lấn của quân Mạc, quân Trịnh. Thì giờ rảnh rỗi không nhiều, dinh Chúa lại không ổn định. Từ Ái Tử (thuộc huyện Đằng Xương gần tỉnh lỵ Quảng Trị) 13 năm sau (1570) lại dời vào Trà Bát ở huyện ấy tức là Cát Dinh. Đến năm Bính Dần (1626) chúa Sãi sắp chống nhau với chúa Trịnh mới dời dinh vào làng Phúc An (huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên). Năm Bính Tý (1636) chúa Thượng lại rời phủ vào Kim Long (Hương Trà, Thừa Thiên). Năm Đinh Mão (1687) chúa Nghĩa đem phủ vào làng Phú Xuân, là đất kinh thành bây giờ gọi là chính dinh.

Trong các giai đoạn ấy, thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 – 1635) lại bắt đầu chống quân Trịnh. Kế tiếp các chúa về sau như Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648), Nguyễn Phúc Tần (1648 – 1687) là những năm chống nhau với Trịnh ác liệt. Chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài 45 năm (1627 – 1672) khó có điều kiện để an hưởng thú nghệ thuật tao nhã ở cung đình. Khi chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691) dời phủ từ Kim Long về Phú Xuân năm 1687, chúa chỉ ở ngôi được 4 năm thì mất. Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) kế vị, là vị chúa mộ đạo, có tài văn chương, ham mê nghệ thuật lại ở ngôi 34 năm nên có đủ thì giờ và điều kiện để nuôi dưỡng và phát triển ca Huế. Giả thuyết cho rằng ca Huế hình thành dưới đời chúa Nguyễn Phúc Chu là có cơ sở.

Lịch sử nghệ thuật Đàng Trong cũng từng ghi nhận chúa Nguyễn Phúc Chu là một người có tài và ham mê trình diễn tuồng. Thích Đại Sán, nhà sư Trung Quốc được chúa mời sang Việt Nam để hoằng dương đạo pháp đã ghi lại trong “Hải ngoại ký sự” (7) chính chúa tự mình đánh trống chầu cho đội tuồng trong cung diễn tuồng. Ý kiến cho rằng chúa là tác giả bài “Ai Giang Nam” (Nam Ai) không phải là không có căn cứ.

Như vậy, có thể xét: ca Huế có nguồn gốc từ lối ca nhạc ở chốn cung đình và đậm đà chất dân gian từ ngọn nguồn dân tộc, đến đời chúa Nguyễn Phúc Chu thì đã hình thành rõ nét là một bộ môn nghệ thuật của tầng lớp tao nhân mặc khách, lúc đầu ở dinh thự, phủ chúa, sau mới lan ra ngoài dân gian.

Cũng cần bàn thêm một ý nữa. Về sinh hoạt ca Huế, chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng với ca trù: cũng chung một nguồn gốc là bắt nguồn từ những lối ca vũ trong cung vua chúa thời xưa. Lối hát Ả Đào có từ đời Lý, thuở ấy những người đi hát gọi là con hát, chữ Hán là xướng nhi hoặc ca nữ. “Năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) vua Lý Thái Tổ đặt chức Quản giáp cho giới con hát” (8). Thể thức cùng cách thưởng ngoạn ca trù cũng như ca Huế, ca nhi ngồi mà hát, nhạc công đàn. Số khách thưởng ngoạn không nhiều chỉ một số bạn hữu, tao nhân, trí thức, lại tổ chức hát trong nhà. Những cách thức hát ấy chẳng khác gì ca Huế. Các chúa Nguyễn muốn chứng tỏ tinh thần độc lập ở một vùng văn hoá khác biệt với chúa Trịnh ở miền Bắc nên hết lòng cổ xúy cho nghệ thuật ca Huế, một thú thưởng ngoạn tao nhã ở chốn kinh kỳ của tầng lớp thống trị. Về sau, ca Huế ngày càng thịnh đạt, lại ảnh hưởng lan ra Bắc, vào Nam. Dòng nhạc cổ điển này đã ảnh hưởng đến dân ca quan họ Bắc Ninh và nghệ thuật sân khấu chèo ở Bắc Bộ. Ca nhạc Huế là nguồn làm nảy sinh hai hình thức âm nhạc cổ điển được nhân dân địa phương rất ưa thích, đó là đàn Quảng phổ biến ở vùng Nam Trung Bộ và nhạc tài tử (hay đờn tài tử) phổ biến ở Nam kỳ.

Lòng văn tế tổ ngành cổ nhạc ở Huế có ghi tên tổ sư Bạch Hoa công cháu, vốn là tổ cô đầu của hát ả đào ở Bắc. Hẳn đó không phải là điều ngẫu nhiên mà do ý thức “Uống nước nhớ nguồn” của những người hoạt động nghệ thuật ở Huế. Cùng thờ chung một vị tổ sư, đó là điều trùng hợp giữa ca trù và ca Huế, gợi cho chúng ta một sự liên tưởng về những điểm tương đồng trong hai bộ môn nhà thơ đầy dân tộc tính này.

Đánh giá về ca Huế, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước viện trưởng viện Âm nhạc đã khẳng định:

“Trong toàn bộ vốn ca nhạc cổ truyền của dân tộc, một kho tàng quý báu vô giá là nền nghệ thuật ca nhạc Huế của chúng ta (…)

Nghệ thuật ca nhạc Huế là một cột mốc lớn đánh dấu một giai đoạn phát triển của văn hoá dân tộc” (9)

Chúng tôi rất trân trọng sự đánh giá cao về ca Huế của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước cùng những công lao tìm về nguồn gốc về sự hình thành ca Huế của những tác giả đi trước.

1. Giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu của ca Huế

Có thể là từ cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII tại Phú Xuân, nơi đặt thủ phủ của cháu Nguyễn, thuộc phía Nam kinh thành Huế hiện nay. Chính trong giai đoạn này các điệu ca Huế lần hồi xuất hiện. Các điệu nổi tiếng như: Cổ bản, Phú lục, Nam ai, Nam bình đã lưu hành rộng rãi trong dinh phủ chúa. Ca Huế là một bộ môn nghệ thuật độc đáo bởi lẽ không phải ai ca cũng đúng giọng điệu mà cần phải là người sinh ra trên vùng đất Trị Thiên mới ca khỏi trại bẹ. Trị Thiên là vùng ngữ âm đặc biệt, có âm vực cạn hẹp nhất nước. Cụ Ưng Bình đã từng nhận xét:

“Ca mà gọi là ca Huế vì thanh âm người Huế hiệp với điệu ca này, mà phía Bắc xứ Huế như người Quảng Trị với Quảng Bình cũng ca được. Còn từ Linh Giang dĩ Bắc, Hải Vân Quan dĩ Nam, dầu có người ca mà ca giỏi thế nào cũng có hơi trại bẹ. Đó là câu chuyện ai cũng biết rồi” (10).

Xét về mặt âm nhạc, người Huế ca hay hò theo ngũ cung hơi nam giọng ai (đô, rê non, fa già, sol, la non). Đây cũng là ngũ cung phát sinh do sự phối hợp giữa ngũ cung đúng (đô, rê, fa, sol, la) của người Champa, do sự giao lưu văn hoá. Để giải thích hệ quả này, có giả thuyết cho rằng: Cư dân ở Huế, vốn có gốc là Thanh Nghệ, di dân lập ấp ở Phú Xuân cùng chung sống với cư dân bản địa Champa quyến rũ, nên mới sáng tác các làn điệu mang hơi hưởng pha trộn Việt – Chăm. Ưng Bình Thúc Giạ Thị cho ta biết đặc điểm của ca Huế như sau:

“Điệu ca Chiêm Thành rất ai oán, trong sử đã nói ca Huế là khúc ca Nam, thời Nam Bình. Nam Ai quả là phổ theo thanh điệu Chiêm Thành mà làm ra, không nghi nữa” (11).

Ở thời kỳ này, trong âm nhạc truyền thống của ta đã có điệu Bắc và điệu Nam, mà đó là hai hình thức chính của ca Huế. Các nhạc khí cơ bản của ca Huế như đàn tranh, đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tỳ bà, đàn tam, sáo và sênh đều có mặt.

Vào giữa thế kỷ XVIII, Luân Quốc Công Nguyễn Phúc Tứ – em của Nguyễn Phúc Khoát, một người rất sành về âm nhạc truyền thống, đã nghiên cứu từ ba cây đàn cầm, đàn sắt và đàn tỳ bà, mà chế ra một cây đàn mới gọi là đàn nam cầm 8 giây, thùng dày và vuông, cầm dài 120cm để nhấn nhịp cho đúng với các điệu nam. Ở thế kỷ XIX, đàn nam cầm sẽ là một nhạc khí quan trọng trong ca nhạc Huế”(12).

Cũng có truyền thuyết cho rằng, nam cầm (có lẽ là đàn bầu, vì trong Nam người ta truyền rằng đàn bầu có từ thời chúa Nguyễn) là do Nguyễn Phúc Dục, con trai trưởng của Nguyễn Phúc Tứ chế ra trước (13). Chúng tôi xin ghi lại đây cả hai ý kiến về tác giả nam cầm để tiện bề tham khảo.

“Vào cuối thế kỷ XVIII một số nhạc sỹ, nhạc công Việt Nam đã nghiên cứu từ cây đàn nguyệt cầm của Trung Quốc và Mông Cổ để chế ra cây đàn nguyệt Việt Nam mà họ đặt tên là cây đàn song vận lúc đầu có 4 dây, về sau còn lại 2 dây như đàn nguyệt hiện đang thông dụng ngày nay. Cùng với đàn nhị, đàn tranh và đàn tỳ bà, đàn nguyệt là một trong những nhạc khí tiêu biểu trong dàn nhạc của ca nhạc Huế; âm thanh, âm sắc của nó rất phù hợp với ca nhạc Huế. Có thể xem đàn nguyệt là một trong những cây đàn “Huế” nhất trong các nhạc khí Việt Nam truyền thống”(14).

Như vậy, có thể nói trong giai đoạn hình thành và phát triển ban đầu này, ca Huế đã có những bài ca cơ bản về điệu thức Bắc và Nam, đàn Huế và đàn dân tộc đã khá đầy đủ để đệm hơi cho các nàng ca kỹ; báo hiệu cho giai đoạn phát triển và thịnh đạt của ca Huế vào thế kỷ kế tiếp.

2. Giai đoạn phát triển và thịnh đạt

Đó là thời kỳ từ khoảng đầu thế kỷ XIX đến trước ngày thất thủ kinh đô (1885).

Lúc bấy giờ, ngoài dân gian cũng như chốn cung đình, ca Huế đã phổ biến rộng rãi. Trong cung đình có một số bài ca Huế có lời bằng chữ Hán (ví dụ mười bài ngự trong ca nhạc Huế vừa có lời chữ Hán thông dụng trong cung đình, vừa có lời Nôm thông dụng trong dân gian). Mười bài ngự (mười bài liên hoàn) do nhạc công trong ban ngự nhạc của triều đình nhà Nguyễn tấu lên trong những dịp xe vua ra vào cung điện, nhưng mười bài ngự đó là những bài bản vay mượn từ ca nhạc Huế và bị cung đình hóa.

Đến năm 1863, một tác giả vô danh đã ghi một tập bài bản ca nhạc Huế (15) khá hoàn chỉnh gồm 25 tác phẩm: 10 bản có kèm theo lời ca và 15 bản không có lời ca. Tên của một số bài bản đó là: Lưu Thủy, Kim Tiền, Xuân Phong, Hồ Quảng, Nam Xuân… là những bài bản giống tên với những bài bản còn thông dụng trong ca nhạc Huế. Bên cạnh đó những bài bản ngày nay đã thất truyền như: Trường thán, Tự trào, Tư mã tương như, Tiên nữ tống Lưu Nguyễn, Bá Nha khấp Tử Kỳ v.v…

Đáng chú ý là trong 10 bản có lời ca thì 9 bài có lời bằng chữ Hán, chỉ có bài Trường thán là có chữ Nôm.

Giai đoạn này có nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong dân gian như Đẩu Nương, một ca nhi ở An Cựu, các nhạc công Biện Nhân, Trần Quang Phổ, Tống Văn Đạt.

Trong cung đình, một số ông hoàng bà chúa con của Minh Mạng (1820-1840) có tài sáng tác, hay tổ chức các buổi sinh hoạt ca nhạc thính phòng như các ông hoàng Trấn Biên, Lãng Biên, các công chúa Ngọc Am, Lại Đức (tức Mai Am) đều có sáng tác lời cho bài bản nhạc Huế. Công chúa Huệ Phố vừa là nhà thơ, vừa giỏi đàn ca, có tập họp một ban nữ nhạc do chính bà huấn luyện.

Ông hoàng Nam Sách đàn nguyệt rất hay, đã soạn cuốn Nguyệt cầm phổ vào năm 1859. Cũng trong khoảng thời gian ấy, ông hoàng Miên Thẩm (nhà thơ Tùng Thiện Vương) soạn cuốn Nam cầm phổ. Ông hoàng Miên Bửu (nhà thơ Tương An quận vương) nổi danh về đàn tỳ bà và đã đặt lời cho nhiều bài bản ca nhạc Huế.

Năm 1850 ông hoàng Miên Trinh (nhà thơ Tuy Lý Vương) đã sáng tác một bài ca Huế dài hơn nhan đề là Nam cầm khúc để tiễn bạn là Nguyễn Văn Siêu về Bắc. Khúc nam cầm này được ca nhi nổi tiếng là Đẩu Nương ca và tự đệm bằng cây nam cầm. Sau khi Đẩu Nương mất (vào khoảng cuối thế kỷ XIX) đàn Nam cũng thất truyền.

……..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/nguon-goc-su-hinh-thanh-va-cac-giai-doan-bien-chuyen-ca-hue.html