Lê Văn Duyệt (1764-1832) có ảnh hưởng đến miền Nam như thế nào và mặc dù là tướng cầm quân và là người nghiêm khắc nhưng ông lại được nhiều người trong vùng đất Gia Định (tức toàn vùng Nam bộ) nhớ ơn và kính trọng. Không những chỉ là người Việt lưu dân mà cả người Hoa, người sắc tộc bản xứ (Mạ và Stieng), người Chăm và Khmer đều kính trọng tưởng nhớ đến vị tổng trấn Gia Định thành trên vùng đất mà tất cả họ cư ngụ sinh sống. Những lý do gì mà nhiều người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn qua nhiều đời cho đến ngày nay vào dịp giỗ ông hay vào dịp những ngày Tết đều cất công đến lăng ông ở Bà Chiểu để cúng, tưởng nhớ đến vị tổng trấn mà họ ngưỡng mộ và nhớ ơn?
Bài này có mục đích phân tích những lý do trong đó vai trò lãnh đạo và tầm nhìn của Lê Văn Duyệt về kiến tạo một xã hội dung dưỡng đa văn hóa để phát triển vùng đất mới, tạo ra con người với cá tính mới, cởi mở đón nhận ý tưởng khác lạ miễn là thực dụng trong cuộc sống của một xã hội, dần kết tinh hình thành một nền văn hóa mới. Một văn hóa Nam bộ với tinh thần khai phóng trong đó con người chấp nhận sự khác nhau. Đó là tâm hồn người Nam bộ mà Lê Văn Duyệt một phần đã gầy dựng và tạo ra.
Tóm lược thân thế và con người
Tổ tiên Lê Văn Duyệt, gốc người Quảng Ngãi (huyện Chương Nghĩa). Ông nội Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu với con trai là Lê Văn Thoại đi vào Gia Định, đến làng Hòa Khánh, gần vàm sông Tòa-Lọt, hạt Định Tường (Mỹ Tho) lập nghiệp (Cao Hải Đề, 1924). Sau khi ông Hiếu mất, Lê Văn Toại (hoặc Thoại) sau đó rời hạt Định Tường đến định cư ở Rạch Gầm (Kim Sơn, làng Long Hưng) lập nghiệp mới. Lê Văn Toại sinh ra 4 người con trai mà ông Lê Văn Duyệt là lớn nhất, vóc vác ông lùn nhỏ nhưng mạnh mẽ và có tài lực. Theo sách về tiểu sử Lê Văn Duyệt in năm 1924 của Cao Hải Đề, người đã đi về quê Lê Văn Duyệt ở Rạch Gầm tìm hiểu, gặp người già cả kể chuyện lại, thì ông Lê Văn Toại chỉ có hai con trai Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong. Nhân khi chúa Nguyễn Ánh đang trốn quân Tây Sơn lùng bắt, đến ẩn trú tại nhà ông Lê Văn Toại, Lê Văn Duyệt được theo hầu chúa làm Thái giám thời gian đầu (Cao Hải Đề 1924).
Năm 1788, Nguyễn Ánh chia quân đội mình thành các dinh (hay quân) gọi là Tiền quân, Hậu quân, Trung quân, Tả quân và Hữu quân. Trung quân chủ yếu là thủy quân trong khi Tả quân là quân đoàn bộ binh lớn. Ông theo Nguyễn Ánh bắt đầu từ chức nhỏ trong Tả quân, lập nhiều chiến công từ Qui Nhơn (Bình Định), Diên Khánh (Khánh Hòa) đến Phú Xuân (Huế) và Bắc Hà. Năm 1802, trước khi Nguyễn Ánh mang quân ra Bắc Hà thống nhất đất nước, Lê Văn Duyệt được phong Chưởng Tả quân cầm đâu quân đoàn quan trọng nhất trong lực lượng của Nguyễn Ánh (Cao Tự Thanh, 2008). Lê Văn Duyệt được gọi là Tả quân Lê Văn Duyệt, và sau này khi giữ chức tổng trấn Gia Định thành thời Gia Long và Minh Mạng, ông cũng được gọi tổng trấn Lê Văn Duyệt. Tên chức vụ đầy đủ chính thức của ông là Vọng Các Công Thần, Chưởng Tả Quân Bình Tây Tướng-Quân Quận-Công Gia Định Thành Tổng Trấn.
Đối với thuộc hạ và binh lính dưới quyền, Lê Văn Duyệt rất nghiêm nhưng cũng thấu hiểu tình cảnh của họ. Năm 1803, năm Gia Long thứ hai, nhà vua ra lệnh đem các quân ra kinh đô Huế xây đắp kinh thành. Duyệt tâu rằng (Đặng Thúc Liêng, 1934):
“Trước vua ở Gia-Định có tuyên dụ với tướng sĩ rằng nếu lấy được kinh thành rồi thời lập tức cho chúng trở về nghỉ ngơi. Nay kinh thành thâu phục được rồi, Bắc-hà cũng đã định xong, mà kẻ thời lại lưu thú, kẻ thời đi đấp sửa thành trì, hết năm nầy, tới năm khác, chừng nào mới tới kỳ được về mà nghỉ? Vậy thời linh triều đình thủ tín ra sao? Và lòng người Gia Định trông đợi ra sao?”
Vua xuống dụ dạy rằng: “Các tướng sĩ khó nhọc rất lâu, trẩm cũng nhớ vậy. Nhưng, kinh thành là chỗ cần bổn trọng yếu cần phải nhọc nhằn một lần cho xong mới để được về sau cái nền an dật lâu dài.”
Vua dụ như vậy, nhưng Duyệt vẫn cố chấp, can vua nghĩ vậy không nên. Vua phải hiểu dụ tới đôi ba lần mới thôi.
Lê Văn Duyệt nổi tiếng nghiêm minh và công tâm, trọng công lý mà cho đến gần đây, người dân Sài-Gòn – Chợ Lớn – Gia Định thường nói thách nhau “vô lăng ông Bà Chiểu mà thề” khi có chuyện rắc rối, xích mích, lời qua tiếng lại, hoặc uất ức (Cao Hải Đề 1924).

Hình 1 – Đền thờ Lê Văn Duyệt (lăng ông ở Bà Chiểu, quận Bình Thạnh) (Ảnh tác giả, 2018)
Tổng trấn Lê Văn Duyệt và người bản xứ
Như ta đã biết, vùng đất Sài-Gòn, Biên Hòa, Đồng Nai, Tây Ninh chạy đến Cần Giờ Bà-Rịa là nơi cư trú lâu đời của người bản địa, Mạ và Stieng trước khi lưu dân người Việt và Hoa đến định cư. Sau cuộc khởi nghĩa Tây Sơn 1772, chúa Nguyễn Ánh chạy vào Gia Định-Đồng Nai Saigon 1774. Năm 1789, sau khi chiếm lại Saigon, Gia Long xây thành bát quái với sự trợ giúp của người Pháp M. Ollivier, đá lấy từ Biên Hòa. Về phía đông bắc Saigon (Biên Hòa) và bắc (Thủ dầu một, Bình Dương, Tây Ninh) lúc này là đất của người Mạ và người Stieng vẫn còn cư ngụ rất đông (người Việt và sau này người Pháp gọi họ là mọi). Ở Saigon cũng có một đường người Pháp gọi là “rue des Moïs” (đường người Mọi, nay là đường Nguyễn Đình Chiểu). Sở dĩ gọi tên đường là đường người Mọi vì vẫn còn cư dân người Mạ ở đây mà John Crawfurd đã cho ta biết khi ông gặp tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt đã đối xử rất tốt và kính trọng họ vì chính họ là người chủ của vùng đất mới mà tổng trấn đang cai quản.
Trong năm 1823, theo John Crawfurd khi ông đến Saigon thì vào ngày 31/10/1823, sau khi hội kiến với tổng trấn Gia Định trước khi tổng trấn ra Huế trình với vua về việc đoàn sứ giả Anh cầm đầu bởi Crawfurd đến Saigon, một buổi trình diễn giải trí sau đó được tổ chức trong nguyên ngày với nhiều triễn lãm. Trong số khán giả đến dự, Crawfurd thấy có 8 người ít ăn mặc và diện mạo hoàn toàn khác với những người chung quanh. Vị tổng trấn cho họ mỗi người một bộ quần áo và nói cho Crawfurd biết là những người này mới chính là những thổ dân đích thực của miền Nam trước khi người Việt đến thống trị và dân họ đông hơn người Việt. Lê Văn Duyệt đối xử tốt với họ và không hề có thái độ khinh biệt, ông mời họ tham dự các buổi lễ và tiếp họ niềm nở.
Đầu thế kỷ 20 cho đến thập niên 1940, gần Sài-Gòn như Bình Dương (Thủ Dầu Một, Tân Uyên), Đồng Nai (Biên Hoà, Trị An, Chứa Chan) vẫn còn người Châu Mạ sinh sống. Họ là người bản địa sinh sống lâu đời ở lưu vực sông Sài-Gòn, sông Đồng Nai trước khi lưu dân người Việt đến định cư. Nhà văn Bình Nguyên Lộc sinh trưởng ở Đồng Nai, hồi còn nhỏ đã có tiếp xúc và học hỏi ngôn ngữ và văn hoá người Mạ. Sau này ông viết quyển sách nghiên cứu giá trị “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam”. Các ảnh dưới đây từ thời Pháp cho thấy cách đây gần 100 năm, chung quanh Sài-Gòn còn hoang sơ và rừng nhiều và là địa bàn sinh sống của người Mạ.

Hình 2 – Người Mạ ở Biên Hòa, vùng núi Chứa Chan và Thủ Dầu Một (Nguồn: delcampe.net)
Lê Văn Duyệt và người phương Tây
Đối với người Tây phương đến thông thương buôn bán, ông cho phép tự do buôn bán và đối xử tử tế. Tàu Mỹ đầu tiên đến Gia Định do thuyền trưởng John White điều khiển đã viết nhiều về con người và tầm nhìn của Lê Văn Duyệt với thế giới bên ngoài, cho ta thấy rõ nét hơn về vị tổng trấn Gia Định có trình độ nhất hơn hẳn những người đương thời. Tư liệu của John White cho ta thấy về cuộc sống, con người và xã hội đầu thế kỷ 19 ở Gia Định rất chi tiết. Đặc biệt về con người Lê Văn Duyệt mà ông gặp nhiều lần.
John White sửa soạn đến Quảng Đông lấy hàng thay vì lấy ở Manila trên đường về Mỹ thì xảy ra một sự kiện may mắn hi hữu và không ngờ đã làm ý nghĩ viếng Đàng Trong của ông quay trở lại. Số là khi tàu ông được coi là tàu Mỹ đầu tiên đến Cần Giờ, mong đi ngược dòng sông Đồng Nai viếng Saigon nhưng đã phải ra đi Đà Nẵng, thì một tàu Mỹ khác vài ngày sau tình cờ cũng đến với cùng mục đích. Tàu này là tàu Marmion từ cảng Boston, một cảng gần Salem, do thuyền trưởng Oliver Blanchard điều khiển. Lúc bấy giờ, vị phó vương (tổng trấn Lê Văn Duyệt) nhận được tin truyền đến tai ông là tàu của John White đã có mặt ở sông, nên ông đã gởi một người thông dịch bản xứ, biết nói tiếng Bồ Đào Nha, đến Cần Giờ với mục đích là truyền thông bắt liên lạc được với bất cứ tàu nào của người phương tây sau đó đến.
Trước đó ở Manilla thuyền trưởng John White tàu Franklin cùng thuyền trưởng tàu Marmion bàn tính cùng đi trở lại Saigon. Sau vài ngày chờ đợi cuối cùng, John White được phép cho vào cảng buôn bán nhưng với điều kiện là ngoài tiền thuế phải trả do vua chỉ định, phải có tặng phẩm như là thông lệ bắt buộc (gọi là quà triều cống) cho ngài phó vương và các quan lại. Mặc dầu chấp nhận nhưng White muốn gợi lên vấn đề triều cống khi gặp phó vương vì ông không nghĩ là thông lệ tốt cho buôn bán có lợi cho hai bên.
Sau bao nhiêu thăng trầm tàu Franklin và Marmion cũng vào đến cảng Saigon. John White và đoàn tùy tùng lên bờ đi qua chợ giữa sự tò mò, bu quanh của dân cư, ồn ào đủ loại chó chạy rông vào thành qua cửa nam diện kiến vị phó tổng trấn (lúc đó là Huỳnh Công Lý, vì Lê Văn Duyệt phải ra Huế). Thành Saigon – Thành Quy (Gia Định thành) được xây dựng với sự giúp sức của một số sĩ quan Pháp theo giúp vua Gia Long trong đó có Jean-Marie Dayot (tên Việt là Đồng Nai) và người em Felix Dayot, Jean-Baptiste Chaigneau, Olliver de Puymaniel, Phillipe Vannier (Lê Văn Lang), Victor Ollivier (Ông Tín).
Đi qua cửa vào dinh tổng trấn, trong dinh, trên bục gỗ quí, giống như gỗ hoàng dương bóng loáng như gương là vị phó tổng trấn. John White không có ấn tượng gì về con người tầm thường Huỳnh Công Lý khi ông viết:
“Trên bệ cao này, vị phó tổng trấn ngồi chân xếp hai bên kiểu người Á, và vuốt râu trắng lưa thưa; ông là một người già ốm, da nhăn rất thận trọng mà điệu bộ, mặc dù có nở nụ cười không đáng tin cậy, không cho ta thấy một điều gì công chính và thành thật. Trên các bục hai bên là các quan, lãnh binh đủ chức tước được ngồi xa hay gần nhân vật oai phong đại diện đất nước tùy theo chức hạng.”
Cuôi cùng sau khi tổng trấn Lê Văn Duyệt hoàn thành công tác ở Huế (năm sau 1820 thì vua Gia Long mất) trở về Saigon, John White cũng được diện kiến với Lê Văn Duyệt trong dịp bá quan văn võ nghênh đón ông tổng trấn và ngày hôm sau tại dinh thự ngài trong bữa tiếp chuyện và khoản đãi riêng cho đoàn ông John White. Ấn tượng của John White với tổng trấn Lê Văn Duyệt (John White gọi là phó vương) thật là khác hoàn toàn so với với Huỳnh Công Lý (phó tổng trấn).
“…Đúng thời điểm hẹn, chúng tôi đến dinh phó vương, ngài phó vương đã có chủ đích trong dịp này không tiếp khách bản xứ, chỉ có những nhân viên thân cận giúp việc trong dinh ông, độ khoảng 40 người và 4 thông dịch viên của chính quyền là Antonio, Mariano, Joseph và Vicente, họ là người bản xứ theo đạo. Chúng tôi được tiếp đón rất thân tình và chi li. Ngài phó vương lúc này đã bỏ qua tất cả những “hãnh diện, nghi lễ, nghi thức” của chức vụ ngài, ngài nói chuyện thoải mái tự do với chúng tôi; và sự háo hức tò mò của ngài, sự chọn lựa sáng suốt đúng đắn các đề tài trong sự tìm hiểu thẩm tra, chứng tỏ ông có một đầu óc mở rộng, thúc đẩy bởi một sự khao khát không nguôi về tri thức và thông tin; và những lời bình chính chắn của ông trong nhiều đề tài đã thuyết phục chúng tôi về khả năng thiên tư cao độ của ông. Chiến tranh, chính trị, tôn giáo, phong tục cách xử sự của các nước Âu châu là những đề tài mà ông rất chú trọng; và khi nghe là tôi từng phục vụ trong hải quân ở nước tôi, ông đặc biệt tập trung tìm hiểu hỏi tôi về các chiến thuật hải quân và chiến trận hàng hải. Khi sự tò mò của ông đã được thỏa mãn về các chi tiết này, ông vui vẻ khen ngợi sự thông minh, kỹ năng và năng lực của người “Olan” (Tây dương), và, với một cảm xúc buồn tủi, ông lấy làm tiếc phàn nàn về tình trạng còn thiếu văn minh của nước ông.
Sau hai giờ đàm đạo rất thích thú, ông thông báo chúng tôi là có một buổi tiệc giải lao đãi chúng tôi theo kiểu Âu, dưới sự điều hành của Antonio, thông dịch viên trước đây đã ở Macao. Trên một bàn nhỏ ở giữa sảnh đường có đầy các đĩa chén chứa đủ loại thức ăn Á châu, gà, vịt luộc, cơm, khoai, khoai lang, heo nướng, các bánh và cá giầm muối… Antonio đã tìm được ở đâu đó, có thể từ Pasqual, hai dao và nĩa cũ, để chúng tôi chia nhau dùng cắt thịt, và dùng các lông nhím (?) để cắm bỏ vào miệng.
Ngay lúc đầu buổi tiệc, ngài phó vương đã thân tình chăm sóc chúng tôi, cầm chai rượu mà chúng tôi đã tặng ngài trong một tay còn tay kia cầm một ly, ông mời chúng tôi uống không ngưng nghỉ cho đến khi chúng tôi van xin được tha, lúc đó ông mới cho phép chúng tôi nghỉ mệt khỏi sự hiếu khách nhiệt thành, nhưng cản trở của ông. Tuy nhiên, vì sự băn khoăn muốn cho chúng tôi được tận hưởng tất cả những cao lương thú vui trước mắt chúng tôi, ông đã tiếp tục ép chúng tôi ăn uống, và ông đã tự tay cầm đưa vào miệng chúng tôi đủ loại thức ăn, cá, gà, cơm, cơm chiên, cà ri, thịt heo, khoai, kẹo bi, v.v… không cần thứ tự, cho đến khi mắt chúng tôi bắt đầu lồi ra khỏi tròng, và nước mắt chảy liên tục xuống má chúng tôi.”
Sự hiếu khách, luôn mong học hỏi, phát triển hiện đại đất nước của Lê Văn Duyệt lại là tương phản với hầu hết những quan lại, nhân viên viên chính quyền dưới quyền ông ở Gia Định. John White đã kể lại các chi tiết về hành xử của quan lại, nhân viên, cũng không khác như tình hình ngày nay là bao. John White than về chi phí tặng phẩm cho quan lại vua chúa, quà cáp cho đủ loại nhân viên từ thuế vụ đến lãnh binh. Riêng thuế lên đến 2700 dollars chỉ riêng tàu Franklin. Vào 9 giờ sáng, trước khi đo để trả thuế, nhân viên thuế đòi phải có rượu uống trước. Sau khi thâu thuế, nhân viên thuế vụ đòi hỏi được đãi ăn, nhậu. Đến 12 giờ trưa, sau khi đã say sưa họ ra về, để lại cho thủy thủ đoàn lau rửa dọn dẹp, mà khó rửa nhất là các bãi nước trầu đỏ ghê tởm mà họ phun từ miệng xuống đầy sàn tàu.
Những người đầu tiên muốn tiếp xúc và buôn bán hàng hóa với ông là những thương gia phụ nữ, ông gặp họ khi ông đến nhà của một người Tagal (gốc Phi Luật Tân, đảo Luzon) nói tiếng Tây ban Nha tên là Pasqual định cư ở Saigon khi lấy một người Việt. Pasqual trước đó đã lên tàu Franklin mời đoàn của ông John White đến thăm nhà. John White cho biết đa số các thương gia môi giới hàng là phụ nữ và họ giỏi hơn đàn ông.
Trong hồi ký của John White viết về vị tổng trấn (Lê Văn Duyệt) và phó tổng trấn (Huỳnh Công Lý), ta thấy rõ đặc tính, tư cách và tầm nhìn của hai người hoàn toàn khác nhau như một trời một vực. Về chức vụ, Lê Văn Duyệt là tổng trấn và là quan võ, trong khi Huỳnh Công Lý là phó tổng trấn và là quan văn. Lê Văn Duyệt rất chính trực, cai trị nghiêm minh đôi lúc có phần độc đoán thì Huỳnh Công Lý rất tham ô, ươn lẹo và hèn nhát. Lê Văn Duyệt hiểu rõ tình hình trong và ngoài nước (ông biết rõ diễn biến tình hình của Napoleon và chính trị ở Âu châu đương thời, hàng hải, khoa học kỹ thuật hiện đại… và thường đàm đạo với những người nước ngoài), mong muốn phát triển và khuyến khích thương mại, thường than phiền về sự yếu kém, suy nghĩ thấp và thiển cận nhưng vẫn tự mãn của người Việt trong khi Huỳnh Công Lý thì lại hoàn toàn ngược lại. Không lạ gì mà sau này Lê Văn Duyệt đã xử tử Huỳnh Công Lý, dù lúc đó Huỳnh Công Lý là cha vợ của vua Minh Mạng.
John White kể lại ngày cuối ở Saigon trước khi hai tàu Franklin và Marmion nhổ neo ra đi. Qua những gì ông viết trong nhật ký, ta thấy tình cảm quí trọng của ông cho vị tổng trấn Gia Định thành, Lê Văn Duyệt sau nhiều tháng sống ở đây, chứng kiến bao nhiêu thăng trầm và kinh nghiệm với nhiều tầng lớp trong xã hội:
...
Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn.co/van-hoa/le-van-duyet-su-hinh-thanh-ca-tinh-nam-bo.html



Bình luận