Theo ước đoán năm 1960 tộc người Hoa ở Đông Nam Á vào khoảng 12 triệu người[1]. Phần lớn những người Trung Quốc này di cư đến Đông Nam Á vào khoảng giữa năm 1880 và 1930, khi các công ty châu Âu ở đó đòi hỏi thêm lao động và chính phủ thực dân châu Âu thi hành chính sách nhập cư tự do. Bất chấp dòng chảy đột ngột của họ vào các thị trường địa phương, người Trung Quốc vẫn nổi trội và quan trọng hàng đầu ở Đông Nam Á bởi ưu thế của họ trong lĩnh vực thương mại. Từ buôn bán nhỏ lẻ địa phương tới thương mại quốc tế, người Trung Quốc là những người năng động nhất trong số các dân tộc ở Đông Nam Á.
Trên thực tế, người Trung Quốc đã từng hoạt động tích cực trong lĩnh vực kinh tế biển của Đông Nam Á trong nhiều thế kỉ. Năm 1511 người Bồ Đào Nha chiếm đóng Malacca, nơi họ tìm thấy 5 chiếc thuyền buôn của người Trung Quốc[2]. Năm 1571 khi người Tây Ban Nha chộp lấy Manila, họ đã gặp 150 thương nhân Trung Quốc cư trú ở đó[3]. Năm 1619 khi người Hà Lan chiếm Batavia, ở đó đã có hẳn một cộng đồng người Trung Quốc với quy mô ấn tượng, chủ yếu bao gồm các thương nhân và thợ thủ công[4]. Bất cứ chỗ nào khi người châu Âu tới Đông Nam Á họ đều gặp người Trung Quốc, nhiều người trong số họ đã hiển nhiên định cư ở đó một thời gian dài trước khi người châu Âu đến. Đã có sự hưng thịnh của thương nhân Trung Quốc trước khi Đông Nam Á có mối liên hệ với người châu Âu và điều đó sẽ được nhấn mạnh ở đây.
Phần đầu của bài báo này sẽ tóm tắt các “sự thực” phần lớn là dựa theo nguồn tư liệu tiếng Trung, phần thứ hai sẽ bàn về các nhân tố có thể đã tạo ra cộng đồng thương nhân người Trung Quốc. Về mặt địa lý, sự bàn luận sẽ giới hạn ở các quốc gia biển nằm trên các hòn đảo và các quốc gia Đông Nam Á lục địa. Tuy nhiên, An Nam sẽ bị loại ra bởi vì quốc gia này đã bị nhà Minh biến thành thuộc địa từ năm 1407 đến năm 1427 và do đó hầu như bản thân nó đã trở thành một phần của Trung Quốc.
Sự nổi lên của cộng đồng thương nhân Trung Quốc
Cộng đồng thương nhân Trung Quốc nổi lên ở Đông Nam Á lần đầu tiên khi nào? Không thể có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Các nguồn tư liệu lịch sử ít ỏi và tản mát vì thế nó chỉ đem lại những ý kiến mơ hồ về các hoạt động trên biển của người Trung Quốc trước thế kỉ 15. Người ta tin rằng trong thời kì Nam Tống (1127-1279) và Nguyên (1271-1368) là thời kì hoàng kim của thương mại biển Trung Quốc. Thời kì này chứng kiến sự tham dự tích cực vào thương mại biển của cả triều đình Trung Quốc và cá nhân người dân. Ngoại thương nở rộ và kĩ nghệ đi biển đã phát triển đạt tới mức độ tuyệt vời có lẽ là vô địch ở thế giới đương thời. Cho dù có được những thành tựu như vậy nhưng không có sự định cư nào của người Trung Quốc được ghi lại tồn tại ở Đông Nam Á cho tới thế kỉ 14.
Các ghi chép rời rạc chỉ nói lên rằng một vài người đã sống ở Đông Nam Á trong thế kỉ 14. Chou Ta-kuan, người đã ở Cam-pu-chia trong một năm với tư cách là sứ giả của Trung Quốc đã viết một cuốn sách về những trải nghiệm ở nước ngoài của ông ta trong năm 1310 có liên quan đến những cuộc hôn nhân của người Trung Quốc với phụ nữ Cam-pu-chia và việc buôn bán của các thương nhân người Trung Quốc ở quốc gia đó[5]. Trong những năm 1340, Ibn Batuta, người đã đi tới Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc nói cho chúng ta biết về các con thuyền của người Trung Quốc rất ấn tượng nhưng không hề ghi chép gì về sự cư trú của những người Trung Quốc ở Đông Nam Á[6]. Tuy nhiên, Wang Ta-yuan, bạn đồng nghiệp của Ibn Batuta đã để lại cho chúng ta một cuốn sách ở đó ông đã đưa ra những dấu hiệu về sự có mặt của người Trung Quốc ở Cam-pu-chia[7]. Ngoài những ghi chép của Chou và Wang có liên quan đến những cư dân người Trung Quốc ở quốc gia đó không hề có sự miêu tả bằng văn bản chi tiết nào khác về sự di cư của người Trung Quốc tới Đông Nam Á trước khi nhà Minh thành lập (1368-1644).
Các nguồn tư liệu của nhà Minh soi sáng hơn sự cư trú của người Trung Quốc ở nước ngoài mặc dù vẫn còn cách rất xa sự mong muốn của chúng ta. Chúng diễn tả rằng một vài người Trung Quốc đi ra nước ngoài vào cuối thế kỉ 14 và có nhiều người đi ra nước ngoài hơn vào thế kỉ tiếp theo. Vào năm 1407 một thủ lĩnh cướp biển người Trung Quốc tên là Ch’en Tsu-I (Trần Tổ Nghị), một người Quảng Đông đã bị bắt giữ trong chuyến hành trình vĩ đại của Trịnh Hòa tại Palembang ở Sumatra và ông ta đã bị xử tử ở Nam Kinh sau đó không lâu. Ch’en, một người Quảng Đông, đã dẫn toàn bộ gia đình mình trốn khỏi Trung Quốc tới Palembang dưới thời vua Hồng Vũ (1368-1398). Ở đó ông ta đã tập hợp hàng trăm đệ tử người Trung Quốc để cướp bóc các thương nhân buôn bán trên biển dọc theo miền duyên hải[8]. Năm 1411, một viên chức người Lưu Cầu (Ryukyu – nay là Okinawa của Nhật, chú thích của người dịch) là Ch’eng Fu đã thỉnh cầu triều Minh cho ở lại Trung Quốc khi ông ta đến đó trong đoàn triều cống. Trước đấy, ông ta đã dời Trung Quốc và phục vụ vương quốc của người Lưu Cầu trong 40 năm và giờ đây ở tuổi 81 ông ta muốn nghỉ ngơi ở quê nhà Quảng Tây. Thỉnh cầu này của ông ta được chấp nhận[9]. Các ví dụ như vậy nói lên rằng vào cuối thế kỉ 14 có thể đã có một số lượng lớn người Trung Quốc cư trú ở nước ngoài.
Mặc dù chúng ta có thể phỏng đoán sự tồn tại của những người Trung Quốc ở nước ngoài và sự cư trú của họ ở khu vực Đông Nam Á vào thế kỉ 14 nhưng chúng ta không chắc chắn liệu họ có đủ đông đúc và trải rộng để tạo ra một cộng đồng người Trung Quốc tha hương ấn tượng hay không. Tuy nhiên, vào các thập kỉ đầu của thế kỉ 15, hồ sơ về cộng đồng người này và mạng lưới thương mại bận rộn của người Trung Quốc đã nổi lên rõ ràng hơn. Chính cộng đồng này đã phát triển và tồn tại cho đến tận ngày hôm nay.
Các nguồn tư liệu lịch sử của thế kỉ 15 hầu như là nghèo nàn giống như ở các thế kỉ trước nhưng chúng cũng có ghi chép nhiều hơn về các hoạt động của người Trung Quốc ở nước ngoài. Trong khi ba tư liệu cá nhân về bảy chuyến đi của Trịnh Hòa đã cung cấp rất nhiều các thông tin hữu ích[10]. Những tài liệu làm bằng chứng trong MSL (Minh thực lục – Người dịch chú) duy trì một nguồn thông tin lớn nhất cho chúng ta tìm kiếm. Một tác phẩm chính thức khác là Li-tai-pao-an, liên quan đến những người Trung Quốc được chính phủ Lưu Cầu thuê mướn làm việc trong các công ty biển của Lưu Cầu do đó nó soi sáng thêm các hoạt động thương mại ở Đông Nam Á một cách gián tiếp[11]. Cuối cùng là một số lượng các tác phẩm tư nhân đầu thế kỉ 16 ghi chép các hoạt động thương mại biển của Trung Quốc ở các thế kỉ trước đó[12]. Tuy nhiên ngoại trừ các trường hợp không có chủ định còn lại nguồn tư liệu được liệt kê cuối cùng này đơn giản chỉ là sự sao chép lại những gì được ghi lại trong 3 tài liệu ở thế kỉ 15 có liên quan tới các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa. Vì thế chúng không mấy hữu ích. Các nguồn tư liệu lịch sử khác thậm chí còn ít có liên quan hơn nữa tới cuộc tìm kiếm của chúng tôi.
Dựa trên các nguồn tư liệu được đề cập bên trên, có thể nói rằng người Trung Quốc sống ở Đông Ấn Độ và bán đảo Đông Dương có thể được chia thành ba nhóm: nhóm thứ nhất cư trú vĩnh viễn ở nước ngoài và không hề trở lại Trung Quốc, nhóm thứ hai sống ở nước ngoài trong một thời gian, đôi khi là trong một thời gian rất dài nhưng cuối cùng thì trở lại Trung Quốc, nhóm cuối cùng đơn giản là các thương nhân những người đến và đi trên những chiếc thuyền buôn sống ở các cảng biển trong một vài tháng hay cùng lắm là vài năm. Ba nhóm này đã tạo ra cộng đồng người Trung Quốc tha hương ở Đông Nam Á. Mặc dù không thể xác định chính xác được có bao nhiêu người Trung Quốc trong cộng đồng này ở từng thời điểm. Tuy nhiên, chúng tôi có thể chắc chắn một sự thực là cộng đồng này đã thay thế cho những người thương nhân Tây Á và Ấn Độ, những người đã rất tích cực trong khu vực này ở các thế kỉ trước đó và người Trung Quốc đã thống trị thương mại biển của biển Đông Á trong thế kỉ 15. Sự vượt trội của người Trung Quốc ở nhiều vùng trong thương mại ở Đông Á là vững chắc và tiếp tục cho tới tận cuối thể kỉ 18 bất chấp sự xâm nhập của người châu Âu vào khu vực này từ thế kỉ 16 và ngày càng tăng lên. Hơn nữa, trong một thời gian dài sự có mặt của người châu Âu là hữu ích hơn là có hại đối với sự lớn mạnh của cộng đồng người Trung Quốc tha hương và đối với việc liên kết sức mạnh của nó trong kinh tế biển như điều sẽ được miêu tả dưới đây. Bức tranh về cộng đồng người Trung Quốc tha thương trong thế kỉ 15 có thể được tái dựng từ các nguồn tư liệu giống như là sự chắp nhặt từ nhiều mảnh vụn, thứ cung cấp cho ta một cái nhìn thoáng qua về các thời điểm và nơi chốn khác nhau. Bởi vậy bức tranh này không phải là bức chân dung hoàn hảo về cộng đồng nói trên nhưng nó cũng chỉ ra các đặc điểm của nó tương đối rõ.
Trong bức tranh này các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa (1405-1433) là điểm xuất phát thuận lợi. Trong quá trình tiến hành các cuộc viễn chinh thuyền của người Trung Quốc đã dong buồm tới tận Hồng Hải và bờ biển Đông Phi. Sau năm 1433 các thuyền của Trung Quốc hiếm khi thám hiểm xa hơn eo Malacca. Malacca và Aceh ở vùng tây bắc Sumatra đã trở thành các cảng đầu chót dành cho các thủy thủ Trung Quốc, thế giới ở phía kia eo biển là thuộc về tây Á. Kết quả là Malacca nổi lên như là một nơi buôn bán chính nơi người Trung Quốc, người Phương Tây và Đông Nam Á gặp nhau và nó đã phát đạt trong suốt thể kỉ 15.
Bên trong thế giới biển Đông Nam Á nhiều trung tâm thương mại khác đã xuất hiện trong cách thức tương tự và phần lớn thường là kết quả từ các hoạt động thương mại của người Trung Quốc. Điều này đúng với Xiêm (Ayuthya), Patani, Java (Sunda), Malacca, Sumatra (Aced), Palembang, Brunei, Sulu, Champa (Cha Ban) và những nơi khác và tất cả những nơi này đều được ghi nhận là nơi phát đạt về thương mại trong thế kỉ 15. Thậm chí một vài nơi còn có sự phát triển khá ổn định và kéo dài tới tận thế kỉ 16, những nơi khác nổi lên rồi suy sụp giữa các khoảng thời gian xen kẽ nhau. Chính tại những trung tâm thương mại này người ta nhận ra rằng người Trung Quốc đã tập họp ở đây và với vai trò là cư dân hay người lưu động họ đã có cuộc sống chủ yếu dựa vào buôn bán.
Trong một vài nơi như thế sự cư trú của người Trung Quốc có quy mô rất ấn tượng và nó đã tồn tại vào khoảng đầu thế kỉ 15. Ví dụ như cộng đồng người Trung Quốc tại Palembang, sau vụ Trịnh Hòa bắt giữ Chen Tsu-I năm 1407, đã được coi như là cộng đồng có tới hàng ngàn người đặt dưới sự lãnh đạo của Shih Chin-ching. Dòng họ Shih duy trì lòng trung thành đối với nhà Minh và gửi nhiều đoàn sứ thần triều cống tới Trung Quốc cho tới tận năm 1425[13]. Sau đó Palembang không còn được nhắc đến trong các hồ sơ tài liệu tiếng Trung trong thế kỉ 15 nữa. Có lẽ cộng đồng người Trung Quốc đã phân tán đi nơi khác do sự suy sụp của cảng này.
Aceh ở tây bắc Sumatra cũng hấp dẫn các thương nhân đầu thế kỉ 15. Mặc dù các tư liệu không nói đến các cư dân Trung Quốc ở đây nhưng các du khách người Trung Quốc chắc chắn đã duy trì vị trí của mình ở Aceh. Đây là bằng chứng từ sự thực rằng năm 1439 một người Trung Quốc có tên Sung Yun đã được vua Sumatra phái đi với tư cách như là sứ giả của sứ đoàn triều cống tới Trung Quốc. Ông ta về sau bị người Java giết chết và vợ ông ta đã thỉnh cầu triều Minh cứu giúp và ở lại Quảng Đông cho tới năm 1446[14]. Vợ của Sung là người Sumatra bản xứ, điều này gợi ý chúng ta rằng Sung Yun đã sống ở đó trong một thời gian dài – dài đủ để kết hôn với một người phụ nữ bản xứ và có được một vị trí có giá dưới ngai vua. Cũng cần chú ý rằng các đơn vị đo lường Trung Quốc dường như đã thịnh hành ở các khu chợ ở Sumatra với đơn vị catty gồm 16 Ao-xơ (1 Ao-xơ tương đương với 28, 35 g – chú thích của người dịch)[15]. Các thương nhân người Trung Quốc ở Aceh phải có số lượng lớn và có thế lực thực sự để có khả năng chuyển tải phong tục buôn bán của họ tới nơi này.
Đầu thế kỉ 15 Java cũng đã có các cộng đồng người Trung Quốc. Năm 1410 triều Minh yêu cầu sứ đoàn triều cống Java giúp gửi những người nhập cư Trung Quốc trở lại Trung Quốc[16]. Người ta nói rằng ở Tuban và Majapahit nhiều người Trung Quốc đã cư trú ở đó cùng với những người Java bản xứ và những thương nhân Hồi giáo. Gresik hầu như bao gồm người Trung Quốc với tổng số hơn 1000 dòng họ và sau đó nó được đổi tên thành Hsin-tsun (Tân Thôn) trong tiếng Trung Quốc và trưởng thôn là một người Quảng Đông. Ở tất cả các nơi này, tiền đồng Trung Quốc được lưu hành như là phương tiện trung gian trao đổi và các đơn vị đo lường Trung Quốc được sử dụng trong việc buôn bán[17]. Các cư dân người Trung Quốc thường được dùng trong các sứ đoàn do vua Java phái tới Trung Quốc và nhớ đó ông ta có được những mối lợi trong thương mại. Trong suốt thế kỉ 15, các sứ đoàn triều cống người Java thường được phái đi và tổng số sứ đoàn của nó chỉ đứng sau số lượng sứ đoàn được phái đi từ Xiêm và Champa. Một vài người Trung Quốc – những người đã chạy tới Java đã trở lại Trung Quốc cùng với các sứ đoàn này. Ví như sứ giả năm 1436 nói rằng ông ta đã bị cướp biển bắt và bị đưa tới Java và do đó đã được yêu cầu trở lại quê hương ở Lung-hsi thuộc tỉnh Phúc Kiến[18]. Năm 1438 sứ giả cùng hai phiên dịch viên, tất cả đều là người Lung-hsi, muốn trở về với gia đình để xây dựng từ đường và nơi thờ cúng của gia đình. Một người trong số họ đã quyết định ở lại vĩnh viễn[19]. Trong năm 1444 có 55 người buôn lậu từ Ch’ao-chou (Triều Châu) thuộc tỉnh Kwangtung (Quảng Đông) được ghi nhận có buôn bán với Java trong số họ có 22 người ở lại Java[20]. Năm 1465 sứ giả Java, vốn hoàn toàn thuộc dòng dõi người Quảng Đông, đã gặp nhiều người Quảng Đông quen biết tham gia buôn lậu. Ông ta được dẫn tới Triều Châu để buôn bán, nơi ông ta đã phải chịu đựng nhiều tổn thất do sự hăm dọa tống tiền của các viên chức địa phương[21]. Năm 1500 vài người Trung Quốc những người đã buôn bán với Java thậm chí đã giả vờ là các sứ giả triều cống người Java để kiếm lấy giấy phép vào Trung Quốc. Họ bị phát giác và bị trừng phạt[22]. Tất cả những sự kiện này chỉ ra nhập cư liên tục của người Trung Quốc vào Java. Cho dù một vài người trong số họ đã trở lại Trung Quốc sau đó, phần lớn họ vẫn còn ở lại Java.
Malacca đã nổi lên như là một kho hàng giữa Đông Á và Tây Á vào khoảng năm 1400 và thịnh vượng cho tới khi người Bồ Đào Nha chộp lấy nó vào năm 1511. Liệu đã có một cộng đồng người Trung Quốc ở Malacca hay không là câu hỏi rất khó trả lời mặc dù có lẽ điều ấy là sự thực. Fei Hsin (1388-1436), người cùng thời với Trịnh Hòa, đã nói về một vài người Malacca với nước da nhạt. Người ta nói rằng những người này là hậu duệ của những người Trung Quốc[23]. Tác phẩm Hai-yu, được biên soạn năm 1536, đã ghi chép về một cộng đồng người Trung Quốc ở Malacca với những thành viên bị người Hồi giáo Malacca căm ghét bởi vì họ ăn thịt lợn[24].
…
Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn.co/van-hoa/thuong-nhan-trung-quoc-o-dong-nam-a.html



Bình luận