Những người Trung Quốc đã di cư tới Xiêm ít nhất là 6 thế kỉ. Những gì chúng ta quan tâm ở đây là quá trình mà nhờ đó hậu duệ của những người Trung Quốc di cư trở thành thành viên thực sự của xã hội Thái. Tất nhiên đồng hóa, là một quá trình xã hội. Đối với hậu duệ của những người nhập cư thì quá trình này được xác định bằng sự tăng lên của giao thiệp xã hội với những thành viên của xã hội Thái trước tiên là công cộng sau đó là riêng tư thân mật; bằng bản sắc cá nhân trong những tình huống xã hội mà ở đó phần Thái lớn hơn phần Trung Hoa. Bởi vì giao tiếp xã hội được dựa trên giao tiếp ngôn ngữ, đồng hóa tất yếu liên quan tới yêu cầu về ngôn ngữ Thái. Làm chủ ngôn ngữ của xã hội mà những người nhập cư sử dụng để giao tiếp là một phần của tiếp biến văn hóa, đó là sáp nhập dần dần vào lối sống của xã hội khác. Trong khi sự tiếp biến ở phạm vi rộng có thể xảy ra mà không có sự đồng hóa hoàn toàn, sự đồng hóa hoàn toàn chắc chắn sẽ được đi kèm hoặc theo sát bởi sự tiếp biến hoàn toàn. Trong mục đích của chúng tôi ở đây, sự đồng hóa được coi như là hoàn toàn khi hậu duệ của những người nhập cư định dạng chính bản thân họ trong phần lớn tất cả các tình huống xã hội như là người Thái, nói tiếng Thái thường xuyên, thành thạo như người bản xứ và có cơ hội giao tiếp với người Thái nhiều hơn người Trung Quốc.

Bất chấp huyền thoại phổ biến về “người Trung Quốc không thay đổi”, hậu duệ của những người Trung Quốc nhập cư đã và đang đồng hóa vào xã hội Thái kể từ khi những người Trung Quốc bắt đầu định cư tại Xiêm. Có những bằng chứng gián tiếp về sự đồng hóa trước giữa thế kỉ 16 và dữ liệu có sẵn sau đó chỉ ra một tỉ lệ tăng tiến ấn tượng vào khoảng năm 1910. Trong thế kỉ 19, một vài người con và hầu như cháu của những người Trung Quốc nhập cư đã đạt được sự đồng hóa hoàn toàn vào xã hội Thái[1]. Thế hệ người Trung Quốc thứ tư không được biết đến, không phải bởi vì người Trung Quốc chưa định cư và xây dựng gia đình trong ít nhất 4 thế hệ mà bởi vì tất cả cháu của người Trung Quốc nhập cư đã hòa vào xã hội Thái. Tỉ lệ tăng tiến đặc điểm đồng hóa của người Trung Quốc ở Xiêm qua thế kỉ 19 bắt đầu giảm trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ này (tức thế kỉ 20 – chú thích của người dịch), sự đồng hóa hoàn toàn trở nên ngày càng ít hơn như một quá trình tự động từ năm 1910 tới 1947. Tuy nhiên, trong vòng 8 năm cuối, có nhiều dấu hiệu cho thấy tỉ lệ đồng hóa người Trung Quốc đã ngừng giảm và giờ đây đang tăng lên.

Khu phố Tàu ở Bangkok. (Ảnh minh họa: Sompob Kesornkhachornthip, Shutterstock)

Những nhân tố ảnh hưởng tới tỉ lệ đồng hóa rất lớn và phức tạp. Nói chung, một điều có thể dẫn ra là chính sự tương đồng giữa văn hóa Thái và văn hóa Trung Hoa đã là những nhân tố quan trọng hỗ trợ đồng hóa. Bản kiểm kê văn hóa Thái luôn luôn có nhiều điểm chung với văn hóa của người Trung Quốc ở miền đông nam. Ví dụ như, những thực phẩm yêu thích của cả hai đều là gạo, cá, thịt lợn. Sự tận tụy của người Thái đối với đạo Phật Theravada đã không tạo ra rào cản nào đối với giao thiệp xã hội hoặc mối quan hệ hữu nghị văn hóa trong cách nhìn thân mật của người Trung Quốc với một dạng đạo Phật khác và sự khoan dung truyền thống cũng như thuyết chiết trung trong các vấn đề tôn giáo của họ. Thêm nữa, sự khác biệt trong hình dáng bề ngoài giữa người Trung Quốc và người Thái là tương đối nhẹ.

Có lẽ ba yếu tố đặc biệt có thể được lựa ra bởi chúng đã có ảnh hưởng chủ yếu đến tỉ lệ đồng hóa của người Trung Quốc ở Xiêm: hôn nhân khác chủng tộc, giáo dục, và chủ nghĩa dân tộc. Trước thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 20, những người phụ nữ Trung Quốc hầu như không bao giờ nhập cư vào Xiêm vì thế những người đàn ông nhập cư sống tại đó đã phải kết hôn với những người phụ nữ Thái hoặc tốt nhất là những cô gái luckjin (những người có cha là người Trung Quốc và mẹ là người Thái). Bởi vậy phần lớn hậu duệ của những người nhập cư Trung Quốc có mẹ Thái và tất cả ít nhất có một người bà là người Thái. Tình trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi lớn cho giao tiếp xã hội đối với người Thái, tạo ra bản sắc cá nhân Thái và đảm bảo làm chủ ngôn ngữ Thái. Tuy nhiên, từ năm 1900 đến 1947, tỉ lệ những người phụ nữ Trung Quốc tăng dần cho tới khi họ chiếm hơn 1/3 trong tổng số những người nhập cư thêm[2]. Sự thay đổi này có thể làm chậm lại tỉ lệ đồng hóa.

Về giáo dục, chỉ có một tỉ lệ không đáng kể con cái của những người Trung Quốc nhập cư được tiếp nhận giáo dục Trung Hoa chính thức ở bất cứ dạng thức nào trước năm 1910. Những ngôi trường cộng đồng người Trung Quốc đầu tiên được thành lập cũng vào khoảng thời gian này và sau đó các cơ sở giáo dục Trung Quốc đã mở rộng nhanh chóng dù không liên tục cho tới năm 1938. Sự đồng hóa trước thế kỉ 20 cũng được thúc đẩy bởi sự vắng mặt của tình cảm quốc gia giữa những người Trung Quốc định cư tại Xiêm. Ở phạm vi rộng, luật Trung Quốc đã biến họ thành những kẻ vi phạm đạo đức khi từ bỏ vùng đất quê hương. Tách xa khỏi sự hậu thuẫn của chính phủ Trung Quốc, những người Trung Quốc ở Xiêm đã nhanh chóng chia thành các nhóm với rất ít tính quốc gia trong tương quan với tính khu vực và lòng trung thành. Những sự kiện dẫn tới cách mạng Trung Quốc, sự sụp đổ của chính quyền Mãn Châu và sự tiến triển rồi chiến thắng cuối cùng của phong trào cách mạng Tôn Dật Tiên đã thay đổi bức tranh những thập kỉ đầu thế kỉ này. Người Trung Quốc ở tất cả các nhóm đòi hỏi một chính nghĩa chung trong chủ nghĩa quốc gia hướng về Trung Quốc và cảm thức về bản sắc quốc gia mới này có xu hướng làm giảm đi tỉ lệ đồng hóa.

Nếu những nhân tố này là cốt yếu thì các yếu tố khác cũng là thích đáng. Trong bài báo này, tôi chỉ muốn quan tâm tới những yếu tố này, những yếu tố có liên quan tới bối cảnh chính trị Thái[3]. Mục đích của tôi là chỉ ra chính sách của chính phủ Thái và đặc điểm của chính trị Thái – những nhân tố thường bị xem thường là không có ảnh hưởng quan trọng tới tỉ lệ đồng hóa của người Trung Quốc.

Một lí do như vậy là lớn và đáng chú ý. Ngoại trừ thời gian giải lao ngắn ngủi, người Thái đã gặp phải các vấn đề chính trị trong chính quốc gia của họ kể từ thế kỉ 13. Do hệ thống giá trị mang tính cách đặc trưng Thái, thứ phù hợp với phần thưởng quý giá, uy tín nhất đối với họ là sự phục vụ trong chính phủ – tầng lớp “ưu tú” (elite) của quốc gia – không chỉ là về mặt quyền lực mà còn là uy tín, sự khai sáng, sự khỏe mạnh và thậm chí là sự giàu có – đã trở thành giai cấp cai trị Thái. Hậu quả là, sự di động hướng lên của hậu duệ những người Trung Quốc nhập cư – và tất cả mong ước đó – đã có liên quan tới các phong trào xã hội hướng tới xã hội Thái. Trái lại, tất cả các quốc gia khác ở Đông Nam Á đã bị đặt dưới sự kiểm soát của chính trị phương Tây vào cuối thế kỉ 19. Ở Đông Ấn Độ, giới “ưu tú” bao gồm những người Hà Lan và những người Hà Lan lai Á, trong khi rất nhiều người Indonesia nói chung có vị trí xã hội thấp hơn người Trung Quốc. Tại những vùng trực trị, người Anh chiếm độc quyền địa vị xã hội “ưu tú” bao gồm các giá trị chủ yếu của xã hội quốc tế. Đó có thể là chút ít lợi thế cho người Trung Quốc trong quá trình đồng hóa vào người Java hoặc người Sudanese hoặc xã hội Malay, trong khi sự đồng hóa hoàn toàn vào xã hội “ưu tú” của người Hà Lan và người lai Âu-Á hoặc của người Anh là không thể. Ở Xiêm, mặt khác có mọi thuận lợi cho sự đồng hóa vào xã hội Thái bản xứ, bởi vì sự sở hữu cao nhất tất cả các giá trị Trung Hoa cơ bản bao gồm cả sự giàu có được tìm thấy ngay trong giai tầng của nó.

Với sự chú ý cơ bản như trên, hãy cho phép chúng tôi điểm lại chính sách của chính phủ Thái bởi vì nó đã ảnh hưởng tới sự đồng hóa người Trung Quốc. Trong nước Xiêm tiền cận đại và xuyên suốt sự thống trị của vương triều Mongkut và Julalongkon (Chulalongkorn), người ta có thể truy tìm nguồn mạch của chính sách hoàng gia nhất quán ủng hộ sự đồng hóa người Trung Quốc. Đầu tiên trong số đó là sự xác định về mặt quản lý và chính trị sắc bén đối với người Trung Quốc như là sự khác biệt so với dân Thái. Trong khi chính sách này có vẻ như ủng hộ sự duy trì xã hội của người Trung Quốc, trên thực tế nó đã thúc đẩy sự đồng hóa hoàn toàn bằng việc ngăn chặn sự phát triển của xã hội Trung Quốc-Thái trung gian tách biệt khỏi xã hội Thái chiếm đa số. Tại tất cả các thời điểm trước thế kỉ 20, phận sự của con cháu những người Trung Quốc nhập cư là định dạng chính bản thân họ trong việc tiến tới sự trưởng thành như là người Trung Quốc hay người Thái. Cơ quan quản lý chính phủ yêu cầu họ phải có sự lựa chọn rõ ràng và tỉnh táo. Trong thời kì Ayutthayan (1350-1767), theo như hệ thống được áp dụng cho tất cả các nhóm người nước ngoài, người Trung Quốc được lập danh sách dưới tay một vị thủ lĩnh hoặc ông chủ người Trung Quốc, người giao thiệp với các cấp quản lý của chính phủ. Tương tự, dân chúng Thái cũng được chia nhóm thành các đội quân dưới sự chỉ huy của một ông chủ người Thái và những ông chủ thuộc tầng lớp “ưu tú”. Tất cả mọi người đều hợp với hệ thống, vì vậy những người Trung Quốc sinh ra ở địa phương đã có lựa chọn một là duy trì vị trí của mình dưới sự chỉ huy của ông chủ người Trung Quốc của bố hoặc ra ngoài tìm kiếm ông chủ người Thái. Chính sách này được tăng cường trong suốt thời kì cai trị của 5 Jakkri. Những người Thái trở thành đối tượng lao dịch và bị xăm bởi các ông chủ của họ, trong khi những người Trung Quốc, thay vì lao dịch đã phải nộp thuế ba năm một lần và khi đã đóng thứ thuế đó họ được đánh dấu bằng một cái thẻ đeo nơi cổ tay. Bề ngoài của hai nhóm sắc tộc được củng cố bằng sự khác nhau trong kiểu tóc và trang phục; tất cả những người đàn ông, những người vẫn tự nhận mình là người Trung Quốc đều để tóc đuôi sam, trong khi tóc cắt ngắn hay cạo trọc lại là sự bắt buộc đối với người Thái. Đối với mỗi khu định cư của người Trung Quốc, một người Trung Quốc đứng đầu được chỉ định bởi nhà vua và chịu trách nhiệm quản lý cũng như xét xử đối với nhóm sắc tộc của ông ta. Do đó, hậu duệ người Trung Quốc hoặc đeo tóc đuôi sam, thừa nhận quyền thực thi pháp lý của đầu lĩnh người Trung Quốc, đóng thuế ba năm một lần và bị đánh dấu nơi cổ tay hoặc là cắt tóc, tạo ra mối quan hệ thân chủ với thủ lĩnh người Thái, bị xăm mình và gia nhập một trong các đội quân lao dịch. Việc không gia nhập nhóm nào hoặc là thành viên của cả hai nhóm là điều không thể.

…

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn.co/van-hoa/su-dong-hoa-cua-nguoi-trung-quoc-va-thai.html