2.8 Hỏi về nhị tiện (đại tiểu tiện)
Bài tiết phân tuy trực tiếp do đại trường chủ nhưng nó có liên quan đến vận hoá tiêu hóa (hủ thục) của tỳ vị, can sơ tiết và sự ôn húc của mệnh môn. Bài tiết nước tiểu tuy bàng quang trực tiếp chủ nhưng cũng có liên quan đến sự khí hoá của thận, chuyển vận túc giáng của tỳ phế và sự thông điều của tam tiêu. Do đó hỏi kỹ về nhị tiện không những có thể trực tiếp tìm hiểu chức năng tiêu hoá và sự chuyển hóa trao đổi có bình thường hoặc không mà còn có thể phán đoán hàn thực hư nhiệt của bệnh, như “Cảnh Nhạc toàn thư” nói: “Nhị tiện vi nhất thân chi môn hộ (cửa ngõ), vô luận nội thương ngọai cảm, giai đương sát thử, dĩ biện kỳ hàn nhiệt hư thực. Cái tiền âm thông bàng quang chi đạo, nhi kỳ lợi dũ bất lợi, nhiệt dũ bất nhiệt, khả sát khí hóa chi cường nhược… Hậu âm khai đại trường chi môn kỳ thông dũ bất thông, khả sát âm dương chi hư thực”.
Hỏi bệnh nhân tình trạng nhị tiện nên chú trọng tìm hiểu số lần đi, thời gian và lượng, sắc chất, mùi vị, cảm giác lúc bài tiết, và nhiều triệu chứng liên quan. Nói về mặt sắc mùi vị đã đề cập trong văn chẩn, ở đây chủ yếu giới thiệu về số lần, lượng bài tiết, tính chất và cảm giác.
a) Hỏi về đại tiện
Ở người khỏe mạnh mỗi ngày hoặc cách ngày đi tiêu một lần, cảm giác thông thoáng, phân thành khuôn không khô không kèm máu mủ niêm dịch và không có đồ ăn chưa tiêu. Số lần đại tiện, tình trạng và cảm giác dị thường sẽ đề cập dưới đây.
Số lần khác thường: Tức là đại tiện táo bón, khó đi, số lần giảm, nặng thì có thể vài ngày mới đi một lần. Tất cả do tân dịch trong trường đạo khô khuy, khả năng truyền đạo của đại trường giảm (thất tư) gây ra.
Hoặc bệnh nhân sốt cao táo bón, bụng trướng mãn đau, lưỡi đỏ rêu vàng táo thuộc thực nhiệt chứng, do nhiệt thịnh thương tân đại trường táo hóa quá nhiều gây ra.
Bệnh nhân sắc mặt nhợt nhạt thích uống nước ấm, đại tiện bí kết mạch trầm trì là “Lãnh bí”, do âm hàn nội nhiệt gây ra.
Bệnh nhân đại tiện khô lưỡi đỏ ít rêu mạch tế sác thuộc âm hư tân dịch hư khuy trường đạo thất nhuận gây ra.
Bệnh lâu ngày, người già hoặc sản hậu táo bón thuộc khí dịch lưỡng khuy, do khí suy không đủ sức bài tiết phân, trường đạo thất nhuận gây ra.
– “Tiết tả” là phân nhão lỏng không thành khuôn hoặc như nước, số lần tăng. Tất cả do tỳ thất kiện vận, thủy đình trường đạo, chức năng truyền đạo đại trường thất thường gây ra.
– Nếu ăn ít bụng trướng (đại phúc) đau ngầm ngầm, đại tiện lỏng là tỳ hư, do tỳ thất kiện vận tiểu trường không phân thanh trọc, thủy đình tại trường gây ra.
– Đau bụng tiêu chảy lúc hừng sáng, đi xong đỡ đau, lưng gối mỏi lạnh thuộc thận dương hư (ngũ canh tả). Do mệnh môn hỏa suy không thể ôn húc tỳ thổ, tỳ hàn vận hóa thất chức gây ra. Trước bình minh là lúc dương khí chưa vượng, âm khí cực thịnh nên đau bụng tiêu chảy lúc này.
– Tức trướng bụng ợ hơi đồ ăn, đau bụng tiêu chảy đi xong đỡ đau thuộc thương thực (giống như trúng thực). Do bạo ẩm bạo thực hoặc ăn uống không hợp vệ sinh thương tổn trường vị là do chức năng truyền dẫn của đại trường tăng gây ra.
– Tình chí uất ức, đau bụng tiêu chảy, sau khi đi giảm đau thuộc can uất thừa tỳ, do can khí uất kết hằng khắc tỳ thổ gây ra.
Phân khác thường: Ngoài tiêu bí, táo, tiêu chảy phân lỏng ra thường gặp đi tiêu phân khác thường như:
– Đồ ăn không tiêu hóa (tiêu phân sống): Phân có nhiều thứ đồ ăn chưa tiêu hóa, gặp ở tỳ hư tiết tả.
– Rối loạn thói quen đi cầu: nghĩa là đi tiêu lúc bón lúc lỏng, gặp ở can uất thừa tỳ. Nếu đại tiện trước khô sau chảy đa số thuộc tỳ hư.
– Ngoài ra còn tiêu ra đàm máu trong kiết lỵ, phân đen như dầu là “Viễn huyết”, phân đỏ tươi là “Cận huyết”.
Cảm giác khác thường khi bài tiết
– Hậu môn nóng rát khi đi cầu thuộc đại trường thực nhiệt gặp trong thử tả.
– Cảm giác đi không thoải mái (bất sảng) tức là bụng thì đau mà đi tiêu lại không thông lắm đa số thuộc can uất thừa tỳ, trường đạo khí trệ. Nếu tiêu phân nhão như cháo kê vàng, tiêu không thông là thấp nhiệt uẩn kết đại trường chức năng truyền đạo không thông gây ra.
– Mót rặn (lý cấp hậu trọng): Bụng đau quặn (quẫn bách) lúc nào cũng mót đi cầu, hậu môn có cảm giác trì nặng, phân đi không thông (sảng) gặp trong kiết lỵ. Do thấp nhiệt nội trở, trường đạo khí trệ gây ra.
– Hoạt tả không cầm (thất cấm) tức là tiêu chảy lâu ngày không khỏi, không khống chế được đi cầu, phân cứ chảy ra không cầm được còn gọi là “Hoạt tả” thuộc tỳ thận dương hư, hậu môn thất ước (mất ức chế).
– Hậu môn khí trụy: tức là cảm giác trì nặng thậm chí thoát giang, thuộc tỳ hư trung khí hạ hãm.
b) Hỏi về tiểu tiện
Nước tiểu là chất bài tiết của quá trình chuyển hóa tân dịch. Hỏi về sự biến đổi khác thường của tiểu tiện chủ yếu có thể tìm hiểu mức độ doanh (sung) khuy của tân dịch và chức năng khí hóa của phế tỳ thận có bình thường hoặc không.
Ở người khỏe trong điều kiện bình thường mỗi ngày đi tiểu 3 – 5 lần, ban đêm 0 – 1 lần. Lượng nước tiểu 24 giờ 1000 – 1800 ml. Số lần đi tiểu và lượng nước tiểu bị ảnh hưởng bởi uống vào, nhiệt độ, ra mồ hôi và tuổi tác.
Số lượng nước tiểu bất thường
– Tăng lượng nước tiểu:
+ Tiểu trong dài lượng tăng, úy hàn thích ấm thuộc hư hàn chứng. Hàn tắc sẽ làm cho hạn dịch không tiết, tân dịch không bị tổn thương, thủy dịch hạ thẩm nên tiểu trong dài và nhiều.
+ Miệng khát, uống nhiều tiểu nhiều, người hao gầy sút rõ thuộc bệnh tiêu khát do thận âm hư suy, khai nhiều đóng ít (khai đa hợp thiểu).
– Giảm lượng nước tiểu:
+ Tiểu ngắn đỏ lượng ít đa số thuộc thực nhiệt chứng. Hoặc hãn, thổ, hạ thương tổn tân dịch gây ra. Nhiệt thịnh thương tân, hạn thổ hạ cũng thương tân, nguồn (hoá nguyên) sinh ra nước tiểu không đủ nên tiểu ngắn đỏ và ít.
Số lần đi tiểu bất thường
– Tiểu nhiều lần (liên tục):
+ Tiểu ngắn đỏ tiểu nhiều lần (cấp bách) mót đi hoài là lâm chứng do thấp nhiệt uẩn kết hạ tiêu, bàng quang khí hóa bất lợi gây ra.
+ Tiểu trong vắt nhiều lần không cầm được (thất cầm) là do thận khí bất cố, bàng quang thất ước.
+ Tiểu đêm nhiều lần, nước tiểu trong dài đa số gặp ở người già và bệnh thận giai đoạn cuối, do thận dương khuy hư khai hợp không điều độ bàng quang thất ước gây ra.
+ Long bế: Tiểu không thông từng giọt là long, tiểu không thông không ra là bế gọi chung là long bế, do thấp nhiệt uẩn kết hoặc ứ huyết, kết thạch (sỏi) trở tắc thuộc thực chứng. Do người già khí hư, thận dương bất túc bàng quang khí hoá bất lợi đa số thuộc hư chứng.
Cảm giác khác thường
– Tiểu đau, sáp, đi không thông, thường kèm theo cảm giác đau, mót đi (cấp bách), nóng rát, gặp trong lâm chứng do thấp nhiệt uẩn kết, bàng quang khí hoá bất lợi gây ra.
– Tiểu són: nhỉ vài giọt sau khi đi tiểu gặp ở người già do thận khí bất cố.
– Tiểu không tự chủ: Thần chí tỉnh táo nhưng không thể khống chế được mà tự chảy ra gọi là niệu thất cấm thuộc thận khí bất cố, bàng quang thất ước. Nếu hôn mê mà tiểu không tự chủ là bệnh nặng.
– Di niệu: Đái dầm tiểu khi đang ngủ thuộc thận khí bất cố, bàng quang hư suy.
2.9. Hỏi phụ nữ
Phụ nữ có kinh nguyệt, đái hạ, thai nghén, sinh sản nên đó là vì đặc điểm sinh lý bệnh lý. Khi bệnh tật gây ra nhiều cải biến thất thường đó điều có thể chẩn đoán bệnh phụ khoa.
a) Hỏi về kinh nguyệt
Kinh nguyệt là một hiện tượng sinh lý ở phụ nữ trưởng thành. “Tố Vấn – Thượng cổ thiên chân luận” nói: “Nữ tử nhị thất nhi thiên quý chí, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thời hạ”. Mỗi tháng đúng quy luật (chu kỳ) là có kinh là nguyệt tín hoặc tín thủy… (phụ nữ 14 tuổi là thiên quỳ tới khi đó nhâm mạch thông thái xung mạch thịnh nên có kinh).
Tình trạng kinh nguyệt bình thường là: Lần đầu có kinh khoảng 13 – 15 tuổi, chu kỳ khoảng trên dưới 28 ngày, kéo dài 3 – 5 ngày, màu kinh đỏ không cục ứ, thời kỳ thai nghén và cho bú thì không có. Hết kinh khoảng trên dưới 49 tuổi.
Dựa vào chu kỳ, lượng, sắc, chất biến đổi của kinh nguyệt có thể phán đoán bệnh thuộc hàn nhiệt hư thực.
Kinh nguyệt không đều
Kinh nguyệt có sự biến đổi về chu kỳ, lượng sắc chất gọi là kinh nguyệt không đều. Có ba trường hợp:
– Kinh tới trước kỳ: Đến trước chu kỳ độ 8 – 9 ngày trở lên gọi là kinh nguyệt tiên kỳ. Tiên kỳ kinh có màu đỏ thẫm, chất đặc lượng nhiều thuộc huyết nhiệt, do tà nhiệt bức huyết vọng hành gây ra. Tiên kỳ mà màu nhạt đỏ, chất loãng, lượng nhiều thuộc khí hư, do khí suy bất thống nhiếp huyết gây ra.
– Kinh tới sau kỳ: Đến sau chu kỳ từ 8 – 9 ngày trở ở lên gọi là kinh nguyệt hậu kỳ. Hậu kỳ mà màu đỏ nhạt, chất loãng, lượng ít thuộc huyết hư, do huyết hư huyết thiểu nên kinh huyết không đến đúng chu kỳ. Hậu kỳ mà sắc tím tối (tử ám) có cục lượng ít, thuộc hàn ngưng do cảm hàn tà kinh huyết ngưng trệ không đến đúng kỳ được.
– Kinh nguyệt trước sau không định kỳ: Sai lệch độ 8 – 9 ngày trở lên gọi là kinh nguyệt diễn kỳ. Diễn kỳ mà kinh sắc tím đỏ có cục lượng ít kèm đau trướng vú thuộc khí uất, do tình chí uất ức, can thất điều đạt, khí cơ nghịch loạn gây ra. Diễn kỳ mà sắc kinh đỏ nhạt, chất lỏng lượng nhiều ít bất định thuộc tỳ thận hư tổn, do tỳ thận hư suy, xung nhâm thất điều, tỳ hư bất nhiếp nên tiên kỳ lượng nhiều, thận hư huyết khuy nên hậu kỳ lượng ít do đó kinh bất định thời gian lượng lúc nhiều lúc ít.
Đau bụng khi hành kinh
Phàm là trước hoặc sau khi hành kinh hoặc trong lúc hành kinh đau bụng dưới từng cơn, có thể đau dữ dội và cứ theo chu kỳ kinh mà đau gọi là thống kinh. Phàm đau trước kinh kỳ, có kinh đau giảm thuộc thực chứng đa số do khí trệ huyết ứ “bất thông tắc thống” gây ra. Đau sau hành kinh (bụng dưới ẩn thống) kèm đau mỏi lưng thuộc hư chứng đa số do khí huyết bất túc hoặc thận hư bào lạc thất dưỡng gây ra. Phàm đau bụng kinh mà chườm nóng đỡ đau thuộc hàn chứng do hàn ngưng kinh mạch bào lạc co thắt gây ra.
Kinh bế
Phụ nữ trưởng thành, kinh nguyệt đúng chu kỳ nên có mà không có hoặc có mà đứt đoạn, bế hơn ba tháng gọi là bế kinh. Khi hỏi cần phân biệt thai nghén, cho con bú, mãn kinh…
Nguyên nhân của bế kinh đa số do huyết hư, can khí uất kết, hư lao… gây ra. Cần phối hợp tứ chẩn hợp tham mới có thể phân biệt được.
Băng lậu
Kinh nguyệt đột nhiên ra rất nhiều không ngưng gọi là băng, ra rỉ rả lâu dài ngày không dứt gọi là lậu, thường được gộp gọi chung. Phàm băng lậu kinh sắc đỏ thẫm có cục thuộc nhiệt chứng. Kinh sắc nhạt không cục đa số là xung nhâm tổn thương hoặc trung khí hạ hãm tỳ hư bất thống huyết gây ra.
b) Hỏi về đới (đái) hạ
Bình thường ở phụ nữ có một ít bạch đới bài tiết. Nếu đới hạ lượng nhiều ra rỉ rả liên tục, có sự cải biến về sắc và chất hoặc có mùi hôi là bệnh đới hạ.
– Nếu đới hạ màu trắng, lượng nhiều chất trong loãng, không mùi hôi gọi là “Bạch đới” thuộc hàn thấp do tỳ hư bất vận, hàn thấp hạ chú gây ra.
– Đới hạ màu vàng lượng nhiều, chất dính đặc mùi hôi gọi là “Hoàng đới” thuộc thấp nhiệt, do thấp uất hóa nhiệt, thấp nhiệt hạ chú gây ra.
– Đới hạ màu đỏ dính đặc hoặc đỏ trắng xen lẫn hơi có mùi hôi gọi là “Xích đới” đa số do tình chí không thoải mái, can uất hóa nhiệt tổn thương bào lạc gây ra.
– Sau khi mãn kinh vẫn thấy xích đới rỉ rả không dứt có thể do ung thư gây ra cần sớm đi khám chuyên khoa.
c) Hỏi về thai nghén
Phụ nữ đã kết hôn đột ngột tắc kinh mà không có biểu hiện bệnh lý gì khác, mạch hoạt sác xung hòa nên nghĩ đến đã thụ thai.
Khi mang thai xuất hiện sợ ăn buồn nôn hoặc nôn liên tục không ăn được gọi là ác trở (thai hành, nghén). Nếu triệu chứng gồm mệt uể oải, miệng nhạt bụng trướng là do vị khí suy (lúc bình nhật), sau khi có thai xung mạch khí vượng thượng xung, vị thất hoá giáng gây ra. Nếu triệu chứng gồm uất ức dễ cáu giận, miệng đắng ợ chua nôn nước chua là can uất hoá hoả can hoả phạm vị gây ra. Nếu bụng trướng sình (muộn) ăn ít, chán ăn nôn ói đàm dãi là đàm trọc thượng nghịch, vị thất hoà giáng gây ra.
Khi mang thai bụng dưới (tiểu phúc) đau trì nặng (hạ trụy) đau mỏi lưng hoặc ra dịch màu đỏ gọi là thai động bất an là dấu hiệu báo trước của trụy thai hoặc sinh non. Nếu kèm sắc mặt ám trệ, hoa mắt ù tai tiểu nhiều là do thận hư không thể cố hộ (chiếu cố bảo hộ) xung nhâm mà ra. Nếu kèm sắc mặt không tươi trắng nhạt, lừ đừ uể oải là khí huyết khuy hư, không thể dưỡng thai gây ra. Nếu do té ngã sang chấn xuất hiện đau bụng và lậu hồng (ra dịch đỏ) là ngoại thương tổn thương xung nhâm gây ra.
d) Hỏi sản hậu
Sau sanh mà ác lộ lâm ly không dứt (sản dịch rỉ rả không sạch) kéo dài trên 20 ngày gọi là sản hậu ác lộ (dịch) bất tiệt có thể do khí hư, huyết nhiệt, huyết ứ… gây ra. Nếu ác lộ lượng nhiều màu nhạt lỏng kèm sắc mặt vàng héo uể oải vô lực là khí hư hạ hãm không thể thăng nhiếp gây ra. Ác lộ lượng nhiều màu đỏ thẫm, chất đặc kèm mặt đỏ miệng khát, táo bón, tiểu đỏ là huyết vọng hành gây ra. Ác lộ màu tím tối có cục kèm bụng dưới đau quặn cự án lưỡi hơi xanh (ẩn thanh) hoặc có ứ ban là huyết ứ nội đình gây ra.
Sản hậu sốt liên tục không giảm thậm chí sốt rất cao gọi là sốt sản hậu, có thể do cảm thụ ngoại tà, hoả tà nội thịnh, âm hư sinh nhiệt… gây ra. Nếu sốt, ố hàn, đau đầu mình… biểu chứng thì do ngoại cảm gây ra. Sốt cao phiền thao miệng khát uống lạnh, tiêu táo tiểu đỏ là hoả tà nội thịnh gây ra ra. Sốt thấp đau bụng ngầm ngầm, mặt trắng hoa mắt, đại tiện khô kết là huyết hư hóa táo sinh nhiệt gây ra
2.10 Hỏi trẻ em
Nhi khoa cổ đại gọi là “Á Khoa” (á là câm) không những hỏi rất khó mà còn có lúc thiếu chính xác. Do vậy thầy thường chủ yếu dựa vào cha mẹ hoặc người nuôi để hỏi, khi hỏi ngoài những nội dung thông thường ra cần phải kết hợp những đặc điểm sinh lý bệnh lý của trẻ để hỏi.
Đặc điểm sinh lý của trẻ là: Tạng phủ non nớt (kiều nộn), sức sống mạnh mẽ, phát dục nhanh. Đặc điểm bệnh lý là phát bệnh tương đối nhanh, biến hoá nhiều dễ hư dễ thực. Do đó trẻ em nhất thiết phải chẩn đoán chính xác, điều trị kịp thời mà trong giai đoạn chẩn đoán nên chú trọng hỏi về một số vấn đề sau:
a) Hỏi về tình hình trước và sau sinh trẻ
Sơ sinh (tình trạng trong vòng một tháng) bệnh đa số có liên quan đến nhân tố tiên thiên và tình trạng khi sanh. Do vậy cần hỏi rõ vấn đề dinh dưỡng của người mẹ trong lúc mang thai, cho con bú và sanh dễ hay không, sanh non không, để tìm hiểu về tiên thiên của trẻ.
Nhũ nhi (anh ấu nhi: tính từ 1 tháng – 3 tuổi): Phát triển tương đối nhanh cần thiết dinh dưỡng nhiều, nuôi bú không tốt dễ dẫn đến suy dinh dưỡng, ngũ nhuyễn ngũ trì, huyết hư… Do đó phải hỏi tình hình ăn uống nuôi dưỡng của trẻ, ngồi, bò, đứng, đi, mọc răng, nói chậm mau,… để tìm hiểu về hậu thiên dinh dưỡng có đủ không.
b) Hỏi về tiêm chủng, có nhiễm qua hoặc tiếp xúc những bệnh truyền nhiễm
Trẻ em từ 6 tháng – 5 tuổi miễn dịch tiên thiên đã hết mà miễn dịch hậu thiên lại chưa hình thành nên cơ hội cảm nhiễm tiếp xúc tương đối cao, dễ mắc thủy đậu, sởi… do đó cần hỏi rõ về lịch tiêm chủng và tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm. Nếu như đã tiêm chủng hoặc mắc qua một số bệnh có độ miễn dịch dài thì thì tuy bệnh có những triệu chứng tương tự nhưng không dễ mắc bệnh đó. Nếu không có sự miễn dịch với bệnh nào đó mà gần đây mắc nó qua tiếp xúc thì trẻ rất dễ mắc bệnh đó.
c) Hỏi về những yếu tố dễ gây bệnh cho trẻ
Nhũ nhi thì sự phát triển thần chí chưa hoàn thiện, dễ giật mình kinh sợ, dễ sốt cao co giật (kinh phong). Tỳ vị non yếu, sức tiêu hóa kém nên dễ thương thực gây nôn ói, tiêu chảy, cam tích. Thích ứng với ngoại cảnh kém nên cần hỏi về tình hình nuôi dưỡng.
3. Hỏi về tập quán sinh hoạt
Bao gồm đời sống đã qua, thói quen ăn uống, cư ngụ… tìm hiểu những điều này có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán bệnh.
Trong sinh hoạt hỏi về tính chất công việc như lao động chân tay hay lao động trí óc, tình hình kinh tế bản thân gia đình, điều này cũng có ảnh hưởng nhất định đến tình hình bệnh. Ví dụ tính tình vui vẻ thì khí huyết điều hòa đa số khỏe mạnh không bệnh. Tâm tình khổ buồn thì khí huyết uất trệ đa số gặp ở bệnh can khí uất trệ…
Về mặt ăn uống nếu thích ăn lệch (ngũ vị) thường gây ra tạng khí sẽ thiên thịnh hoặc thiên suy. Ăn thích nóng ghét lạnh đa số số là âm khí thiên thịnh, thích lạnh ghét nóng là dương khí thiên thịnh.
Đời sống khó khăn lao động vất vả dễ mắc chứng lao thương, khá giả nhàn hạ lười lao động dễ mắc tỳ thất kiện vận.
4. Hỏi gia đình tiền sử bệnh
Hỏi về tình hình sức khỏe trực hệ thân thuộc, đã từng mắc bệnh gì… cũng giúp chẩn đoán một số bệnh truyền nhiễm hoặc di truyền như lao phổi, bệnh điên…
Hỏi tiền sử: Hỏi tình hình sức khỏe người bệnh trước đây, đã từng mắc bệnh gì? Ví dụ tố thể bệnh nhân là can dương thượng kháng dễ mắc bệnh trúng phong
5. Hỏi về tình trạng lúc khỏi bệnh
Tức là hỏi toàn bộ quá trình phát sinh phát triển và điều trị kinh qua của lần bệnh này. Hỏi về lý do (nguyên nhân) phát bệnh có thể biết được tính chất bệnh, ví dụ mùa đông mắc ngoại cảm phong hàn thì đa số là biểu hàn chứng. Do tình chí uất ức gây ra bệnh đa số do can khí uất trệ. Hỏi về bệnh trình dài ngắn có thể biết được bệnh thuộc thực hư, ví dụ điếc đột ngột đa số thuộc thực chứng can hoả thượng viêm, điếc từ từ là hư chứng thận âm bất túc. Hỏi về điều trị kinh qua và hiệu quả của nó có thể giúp cho biện chứng dùng thuốc ví dụ bệnh nhân uống thuốc hàn không hiệu quả có thể không phải là nhiệt chứng, uống thuốc nhiệt thì triệu chứng giảm có thể thuộc hàn chứng. Ví dụ chủ chứng là trướng mãn nhưng uống thuốc hành khí tiêu trướng thì triệu chứng trướng mãn lại nặng thêm, đây có nghĩa là tỳ vị hư hàn không đủ sức tiêu hóa đồ ăn mà gây ra hư chứng. Qua đó có thể thấy chỉ khi hỏi toàn bộ tình trạng kinh qua của bệnh mới có thể chẩn đoán chính xác.
Nguồn: Giáo trình yhct Đại học y dược Cần Thơ