2.4. Hỏi về ngực, sườn, bụng
Ngực bụng là nơi chứa các nội tạng, trước tiên cần nắm những vị trí mà các nội tạng trực thuộc, hỏi về sự khó chịu hoặc đau của bệnh nhân có thể nắm được bệnh tại đâu?
a) Hỏi phần ngực
Phía trên hai đường vú (huyệt đản trung) được gọi là hung (ngực), từ đó xuống dưới ngang huyệt cưu vĩ gọi là ưng hung, thường gộp chung gọi là hung. Ngực thuộc thượng tiêu nơi chứa tâm và phế bên trong, tâm ở bên trái, ngoài có tâm bào, tâm bào và đản trung là nơi hội tụ của tông khí. Bệnh vùng ngực đa số là thuộc tâm phế bệnh. Vì tâm chủ huyết mạch, phế chủ khí và cũng có thể do những tác nhân nội ngoại cũng gây bệnh biến khí trệ huyết ứ cho nên hỏi về cảm giác dị thường vùng ngực chủ yếu có thể tìm hiểu về tâm phế bệnh.
– Đau ngực (biệt muộn = bứt rứt, ngột ngạt), đau lan vai cánh tay là hung tý, do hung dương bất chấn gây đàm trọc nội trở hoặc khí hư huyết ứ dẫn đến tâm mạch khí huyết vận hành không thông gây ra.
– Đau ngực dữ dội đau thấu ra sau lưng, sắc mặt xanh xám, tay chân xanh tới đầu ngón là chân tâm thống, do tâm mạch bế tắc đột ngột gây ra.
– Đau ngực sốt cao, mặt đỏ, suyễn thúc (thở gấp), cánh mũi phập phồng là phế thực nhiệt chứng, do ngoại cảm phong nhiệt phạm phế, phế thất tuyên túc gây ra.
– Đau ngưc triều nhiệt đạo hạn, ho đàm lẫn máu thuộc chứng phế âm hư, do âm hư hoá táo sinh nhiệt hư hoả chước thương phế lạc gây ra
– Tức ngực (hung muộn) ho suyễn, đàm trắng lượng nhiều thuộc đàm thấp phạm phế, do tỳ hư thấp tụ sinh đàm, đàm trọc thượng phạm gây ra.
– Đau ngực sốt ho khạc đàm mủ máu mùi hôi tanh thuộc phế ung, do nhiệt độc uẩn phế khí huyết ứ kết, mục rữa cơ thịt (nhục hủ thành nùng) thành mủ gây ra.
– Đau trướng ngực, đau di chuyển (tẩu xuyên), thích thở dài, dễ cáu thuộc khí trệ gây bệnh, do tình chí uất kết, không thoải mái, khí cơ trong ngực không thông (bất lợi) gây ra.
– Đau như châm chích ngực (thích thống), đau cố định không di chuyển thuộc huyết ứ gây bệnh, do sang chấn, té ngã ứ huyết trở trệ ở kinh lạc vùng ngực gây ra.
– Bĩ mãn, ngực đầy tức không đau kèm theo ngực lạnh, ho khạc đàm dãi, mạch trì… là hàn bĩ. Phiền khát, mạch sác là nhiệt bĩ. Thiểu khí (hụt hơi), hơi thở không thông, mạch nhược, thích thở dài (thái tức) là hư bĩ. Khạc đàm nhiều, mạch hoạt là đàm bĩ.
b) Hỏi về sườn
Dưới ngoài hai vú tới điểm chót xương sườn gọi là hiếp, từ chót xương sườn xuống dưới gọi là quý hiếp. Từ dưới hoành cách đến dưới xương sườn phía trong có chứa can đởm và cũng là nơi phân bố tuần hành kinh can đởm. Bệnh khu vực này chủ yếu là bệnh can đởm và kinh mạch của chúng. Ngoài ra cũng gặp những bệnh chứng khác như: Huyền ẩm, khí trệ huyết ứ… Do vậy khi hỏi về biến hóa bất thường khu vực này chủ yếu có thể tìm hiểu bệnh biến can đởm và kinh mạch như:
– Sườn trướng thống, hay thở dài, dễ cáu: đa số là can khí uất kết, tình chí không thoải mái gây ra.
– Sườn đau nóng (chước thống), mặt mắt đỏ: đa số là can hoả uất trệ, hoả chước vùng này gây ra.
– Đau tức (hiếp lặc trướng thống), vàng da vàng mắt là can đởm thấp nhiệt uẩn kết gây hoàng đản.
– Đau như châm (thích thống), điểm đau cố định đa số số là do sang chấn ứ huyết trở trệ kinh mạch gây ra.
– Đau sườn căng phồng bên đau, ho khạc gây đau là bệnh huyền ẩm, do ẩm tà đình lưu tại ngực sườn gây đau.
– Thương hàn đau tức đầy ngực sườn (hung hiếp khổ mãn), hàn nhiệt vãng lai là thời kỳ đầu của thiếu dương chứng. Ngực sườn đau trướng, tình chí không thoải mái là can khí uất kết.
c) Hỏi về vị quản
Vị quản giới hạn bởi từ đường giữa thượng phúc đến dưới cưu vĩ (bao gồm thượng quản, trung quản và hạ quản huyệt và toàn bộ dạ dày). Từ dưới cưu vĩ đến trung quản gọi là tâm hạ, từ tâm hạ đến hạ quản là thuộc dương minh vị. Vị chủ thu nạp thủy cốc, dĩ hòa vi thiện, dĩ giáng vi thuận. Phàm hàn nhiệt thực tích, khí trệ… (nguyên nhân bệnh) và âm dương thất điều đều có thể tổn thương vị phủ mà xuất hiện những triệu chứng dị thường ở đây. Do đó hỏi kỹ tình hình khác thường ở đây có thể biết vị phủ thuộc hàn nhiệt hư thực
– Vị quản lãnh thống kịch liệt gặp ấm đỡ đau là thuộc hàn tà phạm vị, do hàn tà trực tiếp tổn thương dương khí của vị phủ làm cho vị quản co thắt gây ra.
– Vị quản đau nóng rát (chước nhiệt), ăn mau tiêu mau đói, miệng hôi, đại tiện táo thuộc vị hỏa tích thịnh, do hoả tà thương tân dịch, chức năng hủ thục (tiêu hóa) đồ ăn của vị tăng mạnh gây ra.
– Vị quản trướng thống, ợ hơi, tăng nhiều khi uất nộ thuộc vị phủ khí trệ. Do khí uất không thông, can khí phạm vị gây ra.
– Vị quản thích thống, đau cố định thuộc vị phủ ứ huyết, do huyết ứ nội đình trở trệ kinh lạc vị phủ gây ra.
– Vị quản ẩn thống (đau ngầm ngầm), thích ấm thích ấn xoa, nôn ói nước trong thuộc vị dương hư, do dương hư sinh hàn, chức năng tiêu hóa của vị giảm gây ra.
– Vị quản chước thống tào tạp (xót ruột như đói mà không phải đói), đói không muốn ăn, lưỡi đỏ ít rêu thuộc vị âm hư. Do âm hư tân khuy (thiếu), hư hoả nội nhiễu gây ra.
d) Hỏi về vùng bụng
Phạm vi bụng (phúc bộ) tương đối rộng. Từ rốn trở lên là đại phúc (bụng lớn) thuộc thái âm tỳ, trong bụng có ruột xếp vòng trong đó. Từ khí nhai (huyệt) đi lên kẹp 2 bên rốn thuộc xung mạch. Đường giữa trên dưới rốn là thuộc nhâm mạch. Từ rốn tới bờ trên xương mu (mao tế = rìa lông mu) gọi là tiểu phúc (bụng nhỏ) thuộc bàng quang, bào cung. Hai bên tiểu phúc gọi là thiếu phúc (tương đương hai hố chậu) là nơi đi qua của quyết âm can kinh, kinh lạc của quyết âm kinh lạc (đi đến quan hệ) với âm khí (bộ phận sinh dục ngoài). Hỏi kỹ về biểu hiện bệnh lý vùng này có thể biết được bệnh tại tạng phủ nào, cũng như tính chất hàn nhiệt hư thực của bệnh
– Đại phúc ẩn thống, thích ấm thích xoa, tiêu chảy là tỳ vị hư hàn, vận hóa bất lợi gây ra.
– Tiểu phúc trướng thống, tiểu không thông là long bế, do bàng quang khí hóa bất lợi gây ra. Tiểu phúc thích thống, tiểu tự nhiên (tự lợi) là súc huyết do ứ huyết đình tụ tại hạ tiêu gây ra.
– Thiếu phúc lãnh thống, đau lan xuống âm bộ là hàn ngưng can mạch, can mạch co thắt gây ra.
– Đau quanh rốn, có cục u, ấn di động là trùng tích
– Phàm đau bụng nhanh gấp, đau kịch liệt, trướng tức cự án, ăn vô đau nhiều thuộc thực chứng
– Đau từ từ đau ngầm ngầm, thích ấn thích xoa, ăn vô đỡ đau là hư chứng
– Đau bụng chườm nóng đỡ đauthuộc hàn chứng
– Đau mà thích lạnh là nhiệt chứng
2.5 Hỏi về tai, mắt
Thận khai khiếu ở tai, thủ túc thiếu dương kinh phân bố ở tai, tai lại là nơi hội tụ của tông mạch. Mắt là khiếu của can, tinh khí lục phủ ngũ tạng đều dồn về mắt (thượng chú vu mục), cho nên hỏi về tình trạng mắt tai có thể qua đó tìm hiểu can, đởm, tam tiêu, thận và các tạng khác
a) Hỏi về tai
Triệu chứng chủ quan thường là ù tai, điếc tai và nặng tai
Tai ù (nhĩ minh): Trong tai có những tiếng ù như thủy triều hoặc như ve kêu, trở ngại thính lực. Hoặc xuất hiện ở một bên tai hoặc cả hai tai, hoặc liên tục hoặc lúc ngưng lúc phát.
Nếu tiếng ù to và đột ngột, dùng hai tay bịt tai tiếng ù càng lớn là thực chứng, đa số do can, đởm, tam tiêu hoả theo kinh mạch thượng nhiễu gây ra. Nếu tỳ thấp quá thịnh, thanh dương bất thăng, thanh khiếu thất dưỡng cũng có thể gây ù tai. Nếu tiếng ù giảm nhẹ, hai tay bịt tai đỡ ù thì thuộc hư chứng, đa số do thận hư tinh khuy, tủy hải bất sung, nhĩ thất sở dưỡng gây ra.
Nhĩ lung (điếc tai): Thính lực giảm tùy từng mức độ khác nhau, thậm chí điếc đặc. Thương hàn tai điếc đa số do tà tại thiếu dương, kinh khí bế tắc gây ra. Ôn bệnh tai điếc đa số do tà hỏa mông bịt thanh khiếu, âm tinh không thể đi lên tới tai gây ra. Từ mức độ nặng nhẹ của thương hàn và ôn bệnh có thể đánh giá tiến triển của bệnh. Cũng có thể do ngoại cảm phong ôn, nghẹt mũi nặng đầu gây điếc. Tất cả những triệu chứng trên đều thuộc thực chứng dễ chữa
Nếu bệnh lâu ngày, bệnh nặng mà xuất hiện tai điếc là do tâm khí suy kiệt, thận hư tinh thoát gây ra, thuộc loại bệnh nguy nặng. Điếc ở người già do khí suy, tinh suy. Tất cả thuộc hư chứng khó chữa
Nặng tai (trọng thính): Nghe không rõ lắm đa số do phong tà gây ra, hoặc thuộc can kinh có nhiệt, hoặc do hạ nguyên đã hư sẵn gây thượng thịnh hạ hư.
b) Hỏi về mắt
Thường gặp đau hai mắt, chóng mặt, hoa mắt, quáng gà (tước mục)
Đau mắt (mục thống): Đau dữ dội, đau lan lên đầu, buồn ói nôn, đồng tử giãn to, nhìn như có đám mây mờ màu xanh, hoặc lục, hoặc vàng là phong nội chướng (tăng nhãn áp).
Mục huyền (chóng mặt): cảm giác đồ vật quay vòng, chòng chành như ngồi xe, thuyền ghe, kèm đầu vựng căng trướng, mặt đỏ tai ù, lưng gối mỏi đau mềm là thận âm khuy hư, can dương thượng kháng gây ra. Nếu kèm theo đầu vựng, tức ngực, tê tay chân, uể oải, buồn ói, rêu nê là đàm thấp nội uẩn, thanh dương bất thăng gây ra.
Hoa mắt (mục hôn): Hai mắt hôn hoa, khô sáp nhìn vật không rõ thường gặp ở người bệnh lâu hư suy, người già khí hư, can khí bất túc, thận tinh khuy hao, mắt thất dưỡng gây ra.
Quáng gà (tước mục:) Hễ tới hoàng hôn là thị lực giảm, giống như chim sẻ mù buổi tối thuộc can hư bệnh.
2.6 Hỏi về ẩm thực và khẩu vị
Hỏi ăn uống nhiều hay ít có thể biết sự thịnh suy của tỳ vị, hỏi khẩu vị biết được hư thực của tạng phủ.
a) Hỏi khát nước và uống nước
Khát là một triệu chứng chủ quan thường gặp, nước uống là nguồn tân dịch chủ yếu trong cơ thể. Miệng khát hoặc không, uống nhiều uống ít có quan hệ tới sự doanh (đầy đủ) khuy (thiếu) của tân dịch trong cơ thể, nó có thể nói lên tình hình phân bố tân dịch và âm dương thịnh suy. Hỏi khát hoặc không để biết sự thịnh suy, tình hình phân bố của tân dịch và tính chất hàn nhiệt thực hư của bệnh. Như “Trọng Cảnh toàn thư truyện hoạn lục” có nói: Từ khát hoặc không khát có thể biết hàn nhiệt của lý chứng, mà hư thực thì cũng biện từ đó.
Trên lâm sàng căn cứ vào đặc điểm của khát, uống nước nhiều hoặc ít và những kiêm chứng liên quan để biện chứng phân tích.
Miệng không khát: Là tân dịch chưa tổn thương, gặp ở bệnh nhân hàn chứng, cũng có thể gặp ở những bệnh tuy không phải hàn chứng mà cũng không rõ là nhiệt tà.
Miệng khát uống nhiều: Bệnh nhân khát rất rõ uống rất nhiều là biểu hiện tân dịch đại tổn thương, lâm sàng có ba trường hợp:
– Miệng rất khát, thích uống nước lạnh kèm mặt đỏ sốt cao, phiền thao, mồ hôi nhiều, mạch hồng đại (to) thuộc thực nhiệt chứng, do lý nhiệt khang thịnh, tân dịch đại tổn thương.
– Khát nhiều uống nhiều tiểu cũng nhiều kèm theo ăn được nhưng gầy sút, là bệnh tiêu khát, do thận âm khuy hư gây ra. Vì thận chủ thủy dịch, chủ nhị tiện, tư khai hợp (quản lý sự đóng mở), thận âm khuy hư tất thận dương kháng thịnh nên khai (mở) nhiều hợp (đóng) ít nên lượng nước tiểu nhiều, tân dịch hao thương nhiều nên phải uống nhiều để bù.
– Sau khi ra mồ hôi nhiều (đại hạn), hoặc ói mửa nhiều, tiêu chảy dữ dội, hoặc dùng nhiều thuốc lợi niệu xuất hiện miệng khát uống nhiều là do mồ hôi, ói, hạ lợi, gây hao thương tân dịch gây ra.
Khát mà không uống nhiều: Bệnh nhân tuy miệng khô khốc, hoặc cảm giác khát nước nhưng không muốn uống nước hoặc uống rất ít, đây là biểu hiện tân dịch bị tổn thương nhẹ hoặc tân dịch phân bố gặp trở ngại, gặp trong âm hư, thấp nhiệt, đàm ẩm, ứ huyết…
– Miệng khô nhưng không muốn uống kèm theo triều nhiệt đạo hạn, quyền đỏ… thuộc âm hư chứng, do âm hư tân dịch bất túc không thể đi lên miệng được nên miệng khô. Trong người không có thực nhiệt hao tân nên không muốn uống.
– Miệng khát uống không nhiều kèm theo đầu mình nặng nề, thân nhiệt bất dương, bụng đầy, rêu nê thuộc thấp nhiệt chứng, do thấp nhiệt nội khốn tân dịch khí hoá không thuận lợi và không thể đi lên miệng nên miệng khát, do bên trong có thấp nhiệt nên không uống nhiều.
– Khát thích uống nước nóng nhưng uống không nhiều hoặc uống vô nôn liền kèm theo hoa mắt chóng mặt, vị trường sôi ục ục thuộc đàm ẩm nội đình, do đàm ẩm là âm tà nội đình sẽ tổn thương dương khí, tân dịch không thể hoá khí, đi lên (thượng thừa) nên khát thích uống nước nóng, vì tân dịch phân bố gặp trở ngại chứ không phải tân dịch bất túc nên khát mà không uống nhiều. Ẩm đình tại vị, vị thất hoà giáng nên uống vô là ói liền.
– Miệng khô nhưng chỉ muốn xúc miệng chứ không muốn nuốt nước kèm theo chất lưỡi hơi xanh hoặc có ban ứ huyết xanh tím, mạch sáp là nội có ứ huyết. Do ứ huyết nội trở, khí hoá bất lợi tân dịch không thể hoá khí đi lên nên miệng khô, cũng thuộc tân dịch phân bố kém chứ không phải thiếu hụt nên không muốn nuốt nước.
b) Hỏi về sự thèm ăn và số lượng ăn
“Linh khu – Hải luận” có nói “Vị giả thủy cốc chi hải”. Vị chủ thu nạp, làm chín thức ăn (hủ thục) đồ ăn. Tỳ chủ vận hóa, vận chuyển thủy cốc tinh vi, cả hai đều là hậu thiên chi bản. Tình trạng ăn uống của con người liên quan chặt chẽ tới chức năng tỳ vị có bình thường hoặc không, và con người lấy vị khí làm bản, vị khí còn hoặc mất liên quan trực tiếp tới bệnh nặng nhẹ và chuyển quy. Do đó hỏi kỹ về sự thèm ăn và số lượng ăn có thể đánh giá chức năng tỳ vị hư cường, phán đoán bệnh nặng hay nhẹ và dự hậu tốt xấu. Khi hỏi về ăn uống cần kết hợp những triệu chứng liên quan để biện chứng phân tích.
Giảm sự thèm ăn: Hay còn gọi “Nạp ngai”, “Nạp thiểu” tức là bệnh nhân không muốn ăn uống thậm chí sợ ăn, lâm sàng thường gặp 4 trường hợp:
– Ăn ít giảm thèm ăn kèm gầy ốm mệt mỏi, bụng căng trướng, tiêu phân lỏng, lưỡi nhạt, mạch hư, thuộc tỳ vị khí hư. Do chức năng tiêu hóa tỳ vị giảm gây ra, gặp trong bệnh lâu hư chứng và những người có tố thể khí suy.
– Bụng căng trướng (quản muộn = sình bụng) giảm thèm ăn, kiêm đầu mình nặng nề, tiêu phân lỏng, rêu nê thuộc thấp tà khốn tỳ. Do tỳ thích táo ghét thấp nên thấp tà khốn tỳ, tỳ thất kiện vận nên bụng trướng sình, không thèm ăn. Như mùa hè cảm thử thấp tà thường gặp chứng này.
– Chán ăn sợ dầu mỡ kèm theo hoàng đản đau sườn, thân nhiệt bất dương thuộc can đởm thấp nhiệt. Do thấp nhiệt uẩn kết, can thất sơ tiết, mộc uất khắc thổ, tỳ thất kiện vận gây ra chán ăn.
– Sợ ăn (yếm thực = ngán ăn) kèm theo ợ hơi ợ chua (toan hủ), bụng trướng đau, rêu lưỡi dày hủ, thuộc thực trệ nội đình. Do bạo ẩm bạo thực tổn thương tỳ vị làm cho chức năng tiêu hóa của tỳ vị kém nên “Nạp ngai yếm thực”. Như “Đan khê tâm pháp” nói “Thương thực tất ố thực”.
Ngoài ra phụ nữ đã kết hôn mà mất kinh, sợ ăn, nôn ói, mạch hoạt sác coi chừng là có thai vì khi có thai khí xung mạch thượng nghịch, vị thất hoà giáng gây ra.
Ăn nhiều mau đói: Tăng sự thèm ăn, ăn xong không lâu là đói, tuy ăn nhiều cơ thể ngược lại lại gầy sút gặp trong 2 trường hợp:
– Ăn nhiều mau đói kèm theo miệng khát tâm phiền, lưỡi đỏ rêu vàng, miệng hôi, táo bón… thuộc vị hỏa kháng thịnh tiêu hóa quá nhanh, tăng chuyển hoá nên ăn nhiều mau đói.
– Ăn nhiều mau đói kèm theo đại tiện lỏng thuộc vị cường tỳ nhược. Do chức năng hủ thục của vị quá kháng nên ăn nhiều mau đói. Chức năng vận hoá của tỳ giảm nên tiêu phân lỏng.
Đói mà không muốn ăn: Bệnh nhân có cảm giác đói nhưng không muốn ăn hoặc ăn rất ít, thường gặp ở người vị âm bất túc với triệu chứng đói không muốn ăn, cảm giác sót ruột (tào tạp) hoặc nóng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác, do vị âm bất túc hư hoả nội nhiễu gây ra.
Thiên thực (kén ăn): Chỉ thích ăn một loại đồ ăn nào đó hoặc ăn dị vật, lâm sàng có 2 trường hợp:
– Trẻ em thích ăn gạo sống, đất sình kèm thể trạng ốm yếu, bụng trướng đau, nổi cục gò quanh rốn, ấn mềm, di động thuộc trùng tích, do ăn uống mất vệ sinh nhiễm ký sinh trùng đường ruột ảnh hưởng đến tỳ thất kiện vận dẫn đến suy dinh dưỡng.
– Phụ nữ thích chua, tắt kinh, buồn ói, mạch hoạt sác là đã có thai không phải bệnh lý.
Ngoài ra hỏi về tình hình biến đổi về ăn uống (sự thèm, lượng) trong qua trình bệnh cũng có thể tiên lượng được bệnh. Thường thì khi sự thèm ăn tốt lên, lượng ăn tăng dần biểu thị vị khí dần hồi phục, dự hậu tốt. Ăn uống giảm về lượng và sự thèm ăn biểu thị vị khí suy thoái, dự hậu kém. Nếu bệnh lâu, bệnh nặng không ăn được mà đột nhiên đòi ăn, ăn nhiều là hiện tượng tỳ vị khí gần tuyệt, gọi là “Trừ trung” là hiện tượng nguy cấp. Như Thành Vô Kỷ trong “Chú giải thương hàn luận” có nói “Trừ, khứ dã; Trung vị dã. Ngôn tà khí thái thậm, trừ khứ vị khí, vị dục dẫn thực tự cứu, cố bạo năng thực, thử dục thắng dã” “Tứ thời giai dĩ vị khí chi bản, vị khí dĩ tuyệt, cố vân tắc tử” (trừ là mất đi, trung là vị, nói về tà khí nặng sẽ trừ khử vị khí nên tự bản thân vị sẽ tự muốn ăn vào để tự cứu mình cho nên xuất hiện hiện tượng ăn nhiều).
c) Hỏi khẩu vị
Là hỏi vị giác dị thường trong miệng. Do tỳ khai khiếu ở miệng và khí của các tạng phủ cũng theo kinh mạch đi tới miệng nên vị giác khác trong miệng thường phản ánh chức năng tỳ vị thất thường và bệnh biến các tạng phủ khác.
– Miệng lạt không mùi vị thộc tỳ vị khí suy, vì chức năng tiêu hóa của tỳ vị giảm, bệnh nhân ăn ít hoặc không thèm ăn nên miệng nhạt không mùi vị.
– Miệng ngọt hoặc dính (niêm nê) thuộc tỳ vị thấp nhiệt. Do vị ngọt nhập tỳ, thấp nhiệt uẩn kết tại tỳ vị, trọc khí thượng phiếm ở trên miệng nên có cảm giác miệng ngọt hoặc dính.
– Miệng chua thuộc can vị uẩn nhiệt, vì vị chua nhập can, can nhiệt chi khí thượng chưng ở miệng nên cảm giác chua.
– Miệng có vị chua thiu thuộc thương thực. Do bạo ẩm bạo thực tổn thương tỳ vị, thức ăn đình lưu trong vị không tiêu hoá, trọc khí trong vị thượng phiếm nên cảm giác chua hôi thiu trong miệng.
– Miệng đắng thuộc nhiệt chứng gặp trong hỏa tà gây bệnh hoặc đởm nhiệt chứng. Vị khổ nhập tâm, tâm thuộc hoả, đởm dịch vị đắng, khi hoả tà viêm thượng hoặc đởm khí thượng phiếm đều gây đắng miệng.
– Miệng có vị mặn đa số thuộc thận bệnh hoặc hàn chứng. Mặn (hàm) nhập thận, thận chủ thủy, thận bệnh hoặc hàn thủy thượng phiếm đều gây cảm giác vị mặn trong miệng.
Ngoài ra do điều kiện sinh hoạt, địa dư khác nhau nên bệnh nhân có thói quen ăn uống khác nhau, bệnh các tạng phủ khác nhau cũng sản sinh những thói quen ăn uống khác nhau. Ví dụ bệnh can thích ăn chua, tâm bệnh thích đắng, tỳ bệnh thích ngọt, phế bệnh thích cay, thận bệnh thích mặn…