#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Vấn chẩn trong Đông y cơ bản và nâng cao (Phần 1)

Vấn chẩn trong Đông y – Thông qua hỏi người bệnh hoặc người nhà bệnh nhân để tìm hiểu sự phát sinh phát triển, quá trình điều trị và tình hình bệnh hiện tại của bệnh nhân gọi là vấn chẩn.

Vấn chẩn là một mục quan trọng trong tứ chẩn vì chỉ qua vấn chẩn mới có thể biết rất nhiều thông tin về bệnh nhân như: bệnh sử, triệu chứng chủ quan, sức khỏe trước đây và tình hình gia tộc.

Khi tiến hành hỏi bệnh người thầy thuốc đầu tiên cần nắm được tại sao đi bệnh nhân khám bệnh, khó chịu ra sao? Sau đó hỏi một cách có mục đích từng bước một xung quanh vấn đề khó chịu của bệnh nhân, nghĩa là hỏi có trọng tâm nhưng cũng không phiến diện, đồng thời thầy thuốc cũng cần có thái độ nhiệt tình, nghiêm túc, đồng cảm với bệnh nhân, dùng lời lẽ dễ hiểu để hỏi, cần kiên trì tỉ mỉ khai thác bệnh, có như thế mới có thể nhận được sự tín nhiệm của bệnh nhân và khi đó họ sẽ khai hết bệnh tình. Ví như khi phát hiện bệnh nhân nói không rõ chỗ nào thì thầy thuốc cũng cần nhắc khéo, nhưng nhất thiết không được dùng ý kiến chủ quan của mình để ám thị bệnh nhân…

1. Bài ca thập vấn

Bạn nên ghi nhớ bài ca thập vấn này nhé

Nhất vấn hàn, nhiệt. Nhị vấn hãn

Tam vấn ẩm thực. Tứ vấn tiện

Ngũ vấn thủ, thân. Lục nhãn, lung

Thất vấn miên, mộng. Bát vấn dục

Cưu vấn cựu bệnh. Thập vấn nhân

Phụ nhân vấn gia kinh, đới, sản

Tiểu nhi dưỡng, phòng, thiên sinh bệnh

Lão vấn tình chí, mạn tính bệnh

2. Hỏi về bệnh trạng hiện tại

Hỏi về triệu chứng hiện tại là nội dung chủ yếu của vấn chẩn, là căn cứ quan trọng cho biện chứng. YHCT coi hỏi về triệu chứng hiện tại cực kỳ quan trọng. Khi nội dung vấn chẩn cực kỳ tỉ mỉ rõ ràng thì sẽ nắm được ý nghĩa sâu sắc về mặt lâm sàng của các triệu chứng bệnh. Đời nhà Minh, Trương Cảnh Nhạc trong tổng kết những nội dung chủ yếu của tiền nhân về vấn chẩn đã viết thành “Thập vấn ca”, sau này căn cứ vào đó, lược bỏ, bổ sung, sửa chữa thành: “Nhất vấn hàn nhiệt, nhị vấn hạn; tam vấn đầu thân, tứ vấn tiện; ngũ vấn ẩm thực, lục vấn hung; thất lung (điếc), bát khát cầu đương biện; cửu vấn cửu bệnh, thập vấn nhân (nguyên nhân); tái kiêm phục dược tham cơ biến; phụ nữ do tất vấn kinh kỳ; trì tốc (sớm muộn) bế băng giới khả kiến; tái thiêm (lại thêm) phiến ngữ (vài câu) cáo nhi khoa; thiên hoa ma chẩn toàn chiêm nghiệm”. Thập vấn ca câu chữ tuy đơn giản nhưng nội dung ý nghĩa bao trùm, có thể tham khảo khi vấn chẩn. Nhưng trên thực tế cần căn cứ vào bệnh tình cụ thể, linh hoạt nhưng có trọng điểm thì vấn chẩn mới có thể đạt được kết quả như ý.

2.1. Vấn hàn nhiệt

a) Ố hàn phát nhiệt (sợ lạnh sốt)

Ố hàn là bệnh nhân có cảm giác hàn lạnh tuy đắp mền, mặc thêm áo hoặc sưởi ấm cũng không thể làm bớt cảm giác hàn lạnh.

Sốt là thân nhiệt tăng cao hoặc nhiệt độ bình thường nhưng bệnh nhân có cảm giác toàn thân hoặc cục bộ nóng.

Ố hàn phát nhiệt là cảm giác lạnh mà sốt thường gặp ở ngoại cảm biểu chứng. Nguyên nhân sản sinh ố hàn sốt là ngọai tà tập (tập kích) biểu ảnh hưởng chức năng vệ dương “Ôn phần nhục”, cơ biểu không được sưởi (thất húc) nên ố hàn. Chính khí vùng lên kháng tà nên dương khí có chiều hướng ra biểu nhưng lại vì hàn tà ngoại thúc, huyền phủ (lỗ chân lông) bí tắc dương khí không tuyên phát được uất mà phát nhiệt. Đặc điểm của nó là do tà chính tương tranh nên ố hàn và sốt đều xuất hiện, sốt liên tục chứ không gián đoạn. Cổ nhân thường nói: “Hữu nhất phân ố hàn tiện hữu nhất phân biểu chứng”.

Căn cứ vào ố hàn sốt có nặng nhẹ khác nhau và những kiêm chứng liên quan người ta lại phân thành 3 loại sau:

a/ Ố hàn nặng, sốt nhẹ: Là biểu hàn chứng do ngoại cảm hàn tà gây ra, vì hàn là âm tà thúc biểu thương dương nên ố hàn rõ.

b/ Sốt nặng, ố hàn nhẹ: Là biểu nhiệt chứng do ngoại cảm nhiệt tà gây ra. Vì nhiệt là dương tà dễ dẫn đến dương thịnh nên sốt rõ.

c/ Sốt nhẹ, ố phong tự hạn: Là thái dương trúng phong chứng do ngoại cảm phong tà gây ra. Vì phong có tính khai tiết sẽ làm huyền phủ khai mở nên tự hạn ố phong.

b) Chỉ hàn không nhiệt (sốt)

Bệnh nhân cảm giác úy hàn mà không sốt, thấy trong lý hàn chứng. Nguyên nhân sản sinh đa số do tố thể dương hư không thể ôn húc cơ biểu, hoặc do hàn tà trực tiếp xâm nhập tổn thương khí cơ (chức năng) dương khí mà gây ra.

Đặc điểm úy hàn của lý chứng là: Bệnh nhân thường xuyên cảm giác sợ lạnh, tuy nhiên khi đắp, mặc thêm áo hoặc sưởi thì đỡ lạnh, đây là điểm khác biệt với ố hàn.

Căn cứ vào phát bệnh nhanh chậm và triệu chứng kèm theo lại có thể phân thành 2 loại:

Bệnh lâu cơ thể suy nhược úy hàn, mạch trầm trì vô lực thuộc hư hàn chứng, là do bệnh lâu dương khí suy hư không thể ôn húc cơ biểu gây ra.

Bệnh mới nhưng bụng hoặc những bộ phận cục bộ khác lạnh đau kịch liệt, mạch trầm trì hữu lực thuộc thực hàn chứng, là do hàn tà trực tiếp xâm nhập bên trong tổn thương dương khí tạng phủ hoặc cục bộ gây ra.

c) Chỉ sốt không hàn

Chỉ bệnh nhân cảm giác sốt mà không sợ lạnh gặp trong lý nhiệt chứng

a/ Dựa vào triệu chứng:

– Tráng nhiệt (sốt cao): Sốt rất cao, liên tục, không giảm (nhiệt độ trên 39oC) thuộc lý thực nhiệt chứng. Kèm theo có thể có mặt đỏ, miệng khát, uống nước lạnh, mồ hôi nhiều (đại hạn), mạch hồng đại… là biểu tà nhập lý hóa nhiệt hoặc phong nhiệt nội chuyển, chính thịnh tà thực đang kịch đấu, lý nhiệt kháng thịnh chưng đạt ra ngoài mà ra.

– Triều nhiệt: Sốt đúng giờ hoặc đúng giờ sốt tăng, có quy luật nhất định như thủy triều. Lâm sàng có 3 loại triều nhiệt:

+ Dương minh triều nhiệt: Đặc điểm sốt rất cao, nhật bô nhiệt thâm, thường kèm bụng trướng đại tiện táo bón, thuộc dương minh phủ thực nhiệt chứng. Do tà nhiệt kết ở dương minh vị và đại trường nên nhật bô (giờ thân, từ 3 – 5 giờ chiều) là giờ của dương minh kinh khí cực vượng mà lại thêm vào thực nhiệt nên nhật bô càng sốt cao.

+ Thấp ôn triều nhiệt: Đặc điểm thân nhiệt bất dương (sốt mà mới rờ da không cảm giác thật nóng nhưng để lâu một chút cảm giác rất nóng), sốt cao về chiều (sau trưa), kèm theo cảm giác đầu thân nặng nề… thuộc thấp ôn bệnh. Do thấp tà niêm (dính) nê, thấp khiết (che lấp) nhiệt phục nên thân nhiệt bất dương. Sau buổi trưa thì dương khí cơ thể giảm dần, năng lực kháng bệnh giảm cho nên sốt tăng về chiều.

+ Âm hư triều nhiệt: Đặc điểm sốt thấp vào chiều hoặc đêm và có cảm giác nóng từ trong xương nóng ra, kèm theo lưỡng quyền đỏ, đạo hạn… thuộc âm hư chứng. Do sau trưa (ngọ hậu) dương khí dần suy, khả năng kháng bệnh cơ thể giảm, tà khí độc cư ở thân thể nên bệnh tăng và sốt. Buổi tối thì khí vệ dương sẽ đi vào (nhập nội) mà chưng ở âm (phần) nên có cảm giác nóng từ trong xương nóng ra (cốt chưng).

– Vi nhiệt (sốt thấp): Đa số ở khoảng 37 – 38oC, thường gặp trong một số bệnh nội thương hoặc ôn bệnh thời kỳ cuối.

b/ Dựa vào bệnh cơ

–   Âm hư sốt: xem phần âm hư triều nhiệt

–   Khí hư sốt: Biểu hiện lâm sàng là sốt thấp lâu ngày (trường kỳ vi nhiệt), sốt tăng khi mệt mỏi bực bội (phiền lao). Hoặc sốt cao không lui kèm theo thiểu khí tự hạn, mệt mỏi uể oải (phạt lực)… thuộc tỳ khí hư tổn. Do tỳ khí suy tổn không đủ sức thăng phát thanh dương, dương khí không thể thăng phát bình thường mà uất tại cơ biểu gây sốt.

–    Trẻ em sốt mùa hè: Biểu hiện lâm sàng thường sốt dai dẳng vào mùa viêm nhiệt trong hè kèm theo phiền thao miệng khát, không mồ hôi, tiểu nhiều… đến mùa thu mát mẻ tự khỏi. Do trẻ em thuộc dạng khí âm bất túc (chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hòan chỉnh), không thích ứng được với khí hậu mùa hè viêm nhiệt.

d) Hàn nhiệt vãng lai

Ố hàn và sốt thay phiên nhau phát tác là biểu hiện của chứng bán biểu bán lý gặp trong thiếu dương bệnh và ngược tật. Trên lâm sàng có hai loại:

– Ố hàn và sốt thay phiên nhau phát, phát không định giờ kèm miệng đắng, họng khô, chóng mặt, ngực sườn khổ mãn, không muốn ăn, mạch huyền… thuộc thiếu dương bệnh. Do ngoại cảm bệnh tà từ biểu nhập lý nhưng chưa vào được lý, tà khí ngưng lại ở bán biểu bán lý. Do tà chính đấu với nhau tại chiến trường bán biểu bán lý và khi tà thắng thì ố hàn, chính thắng thì sốt, nên ố hàn và sốt thay phiên nhau phát tác.

– Lạnh run và sốt cao xen nhau, phát tác đúng giờ mỗi ngày một lần hoặc hai, ba ngày một lần kèm đau đầu dữ dội, miệng khát, mồ hôi nhiều… thuộc bệnh ngược tật (sốt rét). Do ngược tà xâm nhập cơ thể mai phục ở bán biểu bán lý (mạc nguyên), ngược tà nội nhập đấu với âm nên lạnh run, ngược tà ngoại xuất đấu với dương nên sốt cao, do đó lạnh run và sốt cao xuất hiện xen kẽ nhau.

2.2 Hỏi về mồ hôi (hạn)

Hạn là một phần của tân dịch. “Tố vấn – Quyết khí” nói: “Tấu lý khai tiết, hạn xuất trăn trăn (nhiều) thị vi tân”. Do dương khí chưng hóa tân dịch xuất ra ngoài thể biểu tại huyền phủ (lỗ chân lông) gọi là hạn. Bình thường xuất hạn là để điều tiết thân nhiệt, điều hòa dinh vệ, tư nhuận bì phu.

Bất luận ngoại cảm hoặc nội thương đều có thể gây ra hiện tượng ra mồ hôi thất thường. Hỏi kỹ bệnh nhân tình hình đổ mồ hôi khác thường có thể gián biệt biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực. Khi hỏi cần chú trọng tìm hiểu bệnh nhân có hoặc không mồ hôi, thời gian ra mồ hôi, nhiều hay ít, vị trí ra mồ hôi… và những triệu chứng chủ yếu kèm theo.

a) Biểu chứng biện hạn

Đối với bệnh ngoại cảm biểu chứng, hỏi về tình hình mồ hôi có thể biện biệt tính chất của ngoại cảm biểu chứng và biết được tình hình dinh vệ trong cơ thể.

a/ Biểu chứng không mồ hôi: kèm theo ố hàn nhiều, sốt nhẹ, đầu cổ cứng đau, mạch phù khẩn là ngoại cảm hàn tà gây ra, thuộc biểu hàn chứng (biểu thực chứng). Do hàn là âm tà, tính chất của nó là thu dẫn, hàn tà thu liễm thúc biểu, tấu lý huyền phủ bế tắc nên không có mồ hôi.

b/ Biểu chứng có mồ hôi: Kèm theo sốt, ố phong, mạch phù hoãn là ngoại cảm phong tà gây ra thái dương trúng phong chứng (biểu hư chứng). Do phong là dương tà, tính của nó là khai tiết, phong tà tập biểu, tấu lý huyền phủ khai trương, tân dịch ngoại tiết nên có mồ hôi. Nếu biểu chứng có mồ hôi kèm sốt cao (nặng hơn), ố hàn nhẹ, đau đầu họng, mạch phù sác là ngoại cảm nhiệt tà gây ra biểu nhiệt chứng. Do nhiệt là dương tà, tính thăng tán, nhiệt tà tập biểu có thể làm cho tấu lý mở (khai), tân dịch ngoại tiết nên đổ mồ hôi.

b)  Lý chứng biện hạn

Đối với bệnh lý chứng, hỏi tình trạng mồ hôi có thể tìm hiểu tính hàn nhiệt của bệnh và âm dương thịnh suy của cơ thể. Lý chứng thường gặp 4 trường hợp ra mồ hôi:

Tự hạn: Đổ mồ hôi ban ngày lúc thức, tăng nhiều khi hoạt động kèm theo úy hàn, tinh thần uể oải lờ đờ… thuộc dương hư. Do dương hư (vệ dương bất túc) không thể cố mật (vững chắc) cơ biểu, huyền phủ lỏng lẻo (bất mật), tân dịch theo đó ngoại tiết nên tự hạn. Khi hoạt động thì dương khí của cơ thể hoạt động mạnh lên, tân dịch theo đó ngoại tiết nên mồ hôi càng rõ hơn.

Đạo hạn: Ra mồ hôi lúc ngủ, tỉnh dậy thì hết thường kèm triều nhiệt, đỏ lưỡng quyền… thuộc âm hư. Do âm hư hóa táo sinh nhiệt, khi ngủ thì vệ dương nhập lý không thể cố mật cơ biểu, hư nhiệt chưng tân ngoại tiết nên đổ mồ hôi lúc ngủ, khi tỉnh thì dương khí phục hồi lại xuất ra biểu, cơ biểu cố mật nên không đổ mồ hôi nữa.

Đại hạn: Lượng mồ hôi rất nhiều, tân dịch đại tiết, lâm sàng chia ra hư và thực

– Sốt cao đổ mồ hôi không dứt kèm mặt đỏ, miệng khát thích uống nước lạnh, mạch hồng đại (to) thuộc thực nhiệt chứng. Do biểu tà nhập lý hóa nhiệt, hoặc phong nhiệt nội chuyển, lý nhiệt kháng thịnh chưng tân ngoại tiết nên tráng nhiệt (sốt cao), xuất hạn nhiều

– Mồ hôi lạnh lâm ly (dầm dề) kèm mặt nhợt nhạt, tứ chi quyết lãnh, mạch vi muốn tuyệt thuộc vong dương chứng. Do dương khí bạo thoát ra ngoài không thể cố mật tân dịch, tân không còn chỗ dựa mà theo dương khí ngoại tiết nên xuất hiện mồ hôi lạnh dầm dề, đây ra triệu chứng nặng trong bệnh nặng.

Chiến hạn: Ố hàn lạnh run trước, vẻ mặt rất thống khổ, vài lần dãy dụa sau đó đổ mồ hôi gọi là chiến hạn, gặp trong thương hàn bệnh khi tà chính tương tranh, đây là điểm nhấn của sự phát triển của bệnh.

Chiến hạn đa số thuộc tà thịnh chính yếu, tà khí phục lại không đi. Một khi chính khí hồi phục thì tà chính tranh đấu kịch liệt nên lạnh run. Hạn xuất, sốt hạ, mạch chậm lại là tà khứ chính đã an, bệnh chuyển biến tốt. Nhưng nếu hạn xuất mà sốt cao không hạ mạch lại nhanh là tà thịnh chính suy, biểu hiện bệnh ác hóa. Do đó có thể nói chiến hạn là điểm nhấn (chuyển chiết) của bệnh nặng lên (ác hóa) hoặc khỏi.

c) Biện hạn cục bộ

Có một số người đổ mồ hôi rất đặc biệt, chỉ biểu hiện ở một vị trí cục bộ nào đó trên cơ thể. Khi hỏi về tình hình đổ mồ hôi dị thường đó cũng có giúp ích trong việc chẩn đoán bệnh. Lâm sàng có vài loại mồ hôi dị thường như sau:

Đầu hạn: Bệnh nhân chỉ đổ mồ hôi vùng đầu hoặc đầu cổ tương đối nhiều. Đa số do thượng tiêu tà nhiệt, hoặc trung tiêu thấp nhiệt thượng chưng, hoặc bệnh nguy cấp dương hư thượng việt gây ra.

–  Đầu mặt mồ hôi nhiều kèm mặt đỏ tâm phiền, miệng khát, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng, mạch sác, là thượng tiêu tà nhiệt theo dương kinh thượng chưng ở đầu mặt. Nếu đầu mặt mồ hôi nhiều kèm theo đầu thân nặng nề, thân nhiệt bất dương, bụng đầy, rêu vàng nê là trung tiêu thấp nhiệt tuần kinh dương thượng chưng ở đầu mặt, gặp trong thấp ôn bệnh.

–  Bệnh nặng vùng trán rịn mồ hôi như dầu kèm theo tứ chi quyết lãnh, khí suyễn mạch vi là do cửu bệnh (bệnh lâu), tinh khí suy kiệt, âm dương ly tuyệt, hư dương thượng việt, tân tùy dương tiết gây ra.

Bán thân hạn: Chỉ về chỉ đổ mồ hôi nửa thân hoặc bên phải hoặc bên trái, hoặc nửa thân dưới mà phần bên kia hoàn toàn bình thường không mồ hôi. Bên bệnh (bên không mồ hôi) do kinh lạc trở bế, khí huyết vận hành không đủ vòng gây ra. Gặp trong trúng phong, nuy chứng, tiệt than (liệt mềm do chấn thương tủy, liệt tủy cắt ngang).

Mồ hôi lòng bàn tay chân: Nguyên nhân có liên quan tới tỳ vị. Tỳ chủ tứ chi, tay chân là “Chư dương chi bản”, tỳ vị có bệnh thì vận hóa thất thường, tân dịch sẽ bàng đạt (đi theo con đường không bình thường) đến tứ chi do đó lòng bàn tay chân ra mồ hôi.

2.3 Hỏi về đầu mình

Đau đầu mình là triệu chứng thường gặp, căn cứ vào thời gian đau lâu mau, vị trí đau, thời gian ngưng nghỉ, có kèm hàn nhiệt hoặc không… có thể biện biệt âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực.

a) Hỏi đau phần đầu

Đầu là nơi hội tụ của chư dương, là thủ phủ của tinh minh, não vi tủy hải, tủy tụ mà thành não. Bất luận ngoại cảm hay nội thương đều có thể gây đau đầu. Dựa vào tính chất đau khác nhau của vùng đầu có thể phân biệt bệnh ở kinh nào? Tính chất hàn nhiệt hư thực của bệnh?

Đau đầu:

–  Vị trí đau khác nhau nói lên bệnh ở kinh nào. Ví dụ đau trước trán xuống hai cung mày là thuộc đau đầu kinh dương minh vì túc dương minh kinh đi từ chân tóc tới trán. Đau nửa đầu hai bên huyệt thái dương thuộc đau đầu thiếu dương kinh vì túc thiếu dương đởm kinh xuất phát từ mống mắt ngoài đi lên góc trán và đi ở phía bên đầu nên khi tà khí phạm thiếu dương kinh có thể gây đau nửa đầu. Đau sau gáy tới cổ thuộc đau đầu thái dương kinh vì túc thái dương bàng quang kinh nhập não lạc từ đỉnh đầu và một nhánh xuất ra dưới cổ (đi ở sau gáy đến cổ) nên tà phạm thái dương kinh thì gây đau sau đầu. Đau đỉnh đầu thuộc quyết âm kinh vì túc quyết âm can kinh liên hệ với mắt (mục hệ) cùng đốc mạch lạc ở đỉnh đi ở phần đỉnh đầu. Đau đầu đau lan cả răng thuộc thiếu âm kinh đầu thống vì thiếu âm thận mạch chủ cốt sinh tủy, não vi tủy hải. Đau đầu chóng mặt, tiêu chảy, tự hạn thuộc đau của thái âm tỳ kinh vì tỳ thuộc trung châu mà chủ thăng, tỳ hư thì thanh dương bất thăng nên đau nặng đầu, chóng mặt.

–  Tính chất đau khác nhau có thể nhận biết do ngoại cảm, nội thương và tính chất hàn nhiệt hư thực của bệnh.

Phàm phát bệnh cấp nhanh, bệnh trình ngắn, đau đầu tương đối kịch liệt, đau không ngưng nghỉ là ngoại cảm đầu thống thuộc thực chứng. Ví dụ bệnh đau đầu cổ gặp gió đau tăng thuộc phong hàn đầu thống, do ngoại cảm phong hàn trở khiết (che lấp), túc thái dương kinh mạch chuyển vận kinh khí uất tắc mà gây đau. Bệnh nhân đau đầu sợ nóng, mặt mắt đỏ thuộc phong nhiệt đầu thống do ngoại cảm phong nhiệt tà thượng nhiễu thanh khiếu gây ra. Bệnh đau đầu như bó buộc (căng tức), thân thể nặng nề thuộc phong thấp đầu thống do ngoại cảm phong thấp tà trở khiết dương khí, thanh dương bất thăng gây ra.

Phát bệnh chậm, bệnh trình dài, đau vừa phải (hoãn), lúc đau lúc ngưng đa số là nội thương đầu thống thuộc hư chứng. Bệnh đau âm ỉ, tăng khi mệt quá sức thuộc khí suy đầu thống do trung khí suy tổn, thanh dương bất thăng, não phủ thất dưỡng gây ra.Đau đầu chóng mặt, sắc mặt nhợt nhạt thuộc huyết hư đầu thống, do dinh huyết khuy hư không thể thượng vinh (đi lên nuôi) thanh khiếu thất dưỡng gây ra. Đau đầu mà cảm giác đầu trống rỗng (đầu não không thông), lưng gối mỏi mềm thuộc thận hư đầu thống, do thận tinh bất túc, tủy hải bất sung gây ra.

Chóng mặt (đầu vựng). Bệnh nhân chóng mặt, nhẹ thì nhắm mắt đỡ, nặng thì cảm giác đồ vật xoay tròn, không đứng vững, thường kèm theo buồn nôn, nôn ói, nặng thì té ngã. Dựa vào tình trạng chóng mặt khác nhau có thể biện biệt tính chất khác nhau của bệnh như.

–  Chóng mặt đau đầu trướng căng kèm mặt đỏ tai ù, miệng đắng họng khô là do can dương thượng kháng gây ra. Do can dương kháng nghịch nhiễu động thanh khiếu, dương kháng sinh phong nên xuất hiện chóng mặt.

– Chóng mặt buồn ngủ (hôn trầm) kèm tức nặng ngực (muộn), nôn ra đàm thuộc đàm thấp nội trở gây ra. Do đàm thấp nội khốn, thanh dương bất thăng nên chóng mặt.

– Chóng mặt hoa mắt tăng nhiều khi quá mệt hoặc khi đứng dậy đột ngột kèm mặt trắng, lưỡi nhạt, tâm quí (hồi hộp, trống ngực), mất ngủ là do khí huyết lưỡng hư gây ra vì khí hư huyết thiểu không thể thượng vinh, não phủ thất dưỡng nên chóng mặt.

b) Hỏi toàn thân

Châu thân, tứ chi là nơi tuần hành của 12 kinh mạch. Tỳ chủ tứ chi cơ nhục, lưng vi thận chi phủ. Bất luận ngoại cảm phong hàn thấp tà đều dẫn đến khí huyết kinh mạch tắc trệ, hoặc nội thương tỳ thận khuy hư, tứ chi cơ nhục, yêu phủ thất dưỡng đều có thể dẫn đến bệnh biến tứ chi cơ nhục, lưng. Do đó hỏi về những vấn đề bất thường các bộ phận trên có thể chẩn đoán thuộc tính khác nhau của bệnh.

Đau mình (thân thống): Đau toàn thân đa số gặp trong ngoại cảm phong hàn, phong thấp tà gây ra biến chứng. Do hàn thấp tà ngưng trệ kinh lạc, kinh khí không thông (thư), khí huyết bất hóa gây ra. Nếu do ngoại cảm thử thấp dịch độc thì mặt đỏ phát ban, đau mình như mới bị đánh gọi là “Dương độc”, do thấp thử dịch độc trở trệ khí huyết vận hành gây ra. Nếu bệnh nằm lâu không dậy được mà đau toàn thân là do dinh khí bất túc, khí huyết bất hoà gây ra.

Thân thể nặng nề: Người bệnh đầu thân nặng nề kèm tức căng (muộn = đầy hơi) thượng vị, rêu lưỡi nê, ăn kém, tiêu phân lỏng là do cảm thụ thấp tà gây ra, do thấp tà tính niêm nê trầm nặng (trọng) khốn trở, dương khí kinh lạc không thông nên đau mình. Nếu thân thể nặng nề chỉ muốn nằm, thiểu khí (hụt hơi), lười nói, mệt mỏi uể oải là do tỳ khí suy hư gây ra, vì tỳ hư không thể vận hoá tinh vi, thanh dương bất thăng, cơ nhục tứ chi thất dưỡng nên cảm giác thân thể nặng nề.

Tứ chi đau: Đau khớp tứ chi gặp trong tý chứng do ngoại cảm phong hàn thấp tà gây ra. Trong đó đau khớp di chuyển là hành tý, do cảm phong tà là chủ yếu, vì phong tà có tính thiện hành sác biến di chuyển bất định nên đau di chuyển tùm lum. Đau kịch liệt là thống tý, do cảm hàn tà là chính, do hàn tính thu dẫn, ngưng trệ làm cho khí huyết kinh lạc ngưng sáp không thông nên đau dữ dội. Chỗ đau nặng tức không di chuyển là trước tý, do cảm thấp tà là chủ yếu, vì thấp tính niêm nê trầm trọng (nặng), trở trệ khí cơ cục bộ nên đau căng tức nặng không di chuyển. Nếu phong thấp uất hoá nhiệt thì khớp tứ chi sưng nóng đỏ đau hoặc chân xuất hiện ban vòng gọi là nhiệt tý.

Đau lưng: Đau âm ỉ, mỏi mềm vô lực vùng lưng thuộc thận hư yêu thống do thận tinh khuy tổn, cốt tủy không sung mãn, yêu phủ thất dưỡng gây ra. Đau lưng mà có cảm giác lạnh (lãnh thống), đồng thời nặng nề, đau tăng khi trời lạnh, trở trời thuộc đau lưng hàn thấp, do hàn thấp tà xâm nhập vùng lưng làm trở trệ kinh lạc, khí huyết vận hành không thông mà ra. Đau lưng dữ dội như đâm chích, đau cố định cự án, không thể xoay trở hoặc cúi xuống thuộc đau lưng ứ huyết, do sang chấn ứ huyết cục bộ trở trệ kinh lạc khí huyết vận hành không thông mà gây đau.