8.5 Tổng hợp chẩn sát rêu lưỡi và chất lưỡi
Bệnh tật là một quá trình diễn biến phức tạp, bệnh lý biến hóa của cơ thể cũng là một biến hóa phức tạp mang tính chỉnh thể, do đó khi phân biệt nắm vững những biến hóa căn bản và chủ bệnh của chất lưỡi và rêu lưỡi, đồng thời cũng cần chú ý đến mối quan hệ tương hỗ giữa chất lưỡi và rêu lưỡi và nên kết hợp cả hai để tiến hành phân tích, nghĩa là cần phân chia rêu và chất và cũng cần tổng hợp lại xem nó ra sao.
Thường thì xem chất lưỡi nặng ở biện chứng sự thực hư của chính khí, đương nhiên cũng bao gồm tính chất của tà khí. Xem rêu lưỡi thì chú trọng ở biện biệt tà khí nông sâu và tính chất của nó, đương nhiên cũng bao gồm cả sự tồn vong của vị khí. Như “Y môn bổng hát – Thương hàn luận bản chỉ” có nói: Xem chất lưỡi để biết âm dương hư thực, thẩm rêu lưỡi tức là tìm biết tà khí hàn nhiệt nông sâu. Ngoài ra còn nói xem huyết bệnh là xem chất lưỡi, xem khí bệnh là xem rêu lưỡi.
Bình thường thì sự biến hóa của chất lưỡi và rêu lưỡi là thống nhất, chủ bệnh của nó thường là tổng hợp cả hai. Ví dụ trong có thực nhiệt đa số lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng khô. Bệnh thuộc hư hàn thì lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng mà hoạt. Nhưng cũng thường có xuất hiện sự biến hóa rêu và chất không thống nhất, lúc này cần vận dụng tứ chẩn hợp tham để tổng hợp phán đoán. Ví dụ rêu lưỡi trắng thường là chủ hàn chủ thấp, nhưng lưỡi đỏ thẫm kèm rêu trắng khô đa số thuộc táo nhiệt thương tân, do táo khí hoá hoả rất nhanh nên màu rêu chưa thể hiện chuyển vàng được mà bệnh đã chuyển vào giai đoạn dinh phần rồi. Hay ví dụ khác, rêu tích trắng như phấn cũng chủ nhiệt tà tích thịnh và không phải chủ hàn, còn có rêu xám đen có thể chủ nhiệt chứng cũng có thể chủ hàn chứng. Những điều này cần phối hợp tứ chẩn hợp tham mới có thể chẩn đoán. Cũng có lúc rêu và chất chủ bệnh có vẻ mâu thuẫn nhau nhưng trên thực tế cũng là sự tổng hợp của cả hai, ví dụ lưỡi đỏ thẫm mà kiêm rêu trắng hoạt nê thì trong ngoại cảm bệnh thuộc dinh phần có nhiệt, khí phần có thấp, trong nội thương bệnh đa số số là âm hư hỏa vượng mà lại có đàm trọc thực tích. Đây là những điều cần phối hợp thực tế lâm sàng phân tích cụ thể linh hoạt quyền biến. Dưới đây là một số tình huống thường gặp trên lâm sàng, sẽ giúp lý giải những nội dung cơ bản của thiệt chẩn.
Lưỡi nhạt trắng kiêm các màu hoặc rêu
– Lưỡi nhạt trắng rêu trắng trong: Màu lưỡi nhạt rêu trắng mỏng mà trong, trắng nhạt mà bóng trơn giống rêu mà như không rêu. Đây là do trung dương bất vận (dương khí trung tiêu = tỳ) thủy thấp chi khí thượng tư gây ra nên nó chủ tỳ vị hư hàn.
– Lưỡi trắng nhạt, rêu trắng khô hoặc rêu khô như sạn cát: Cái trước là dương hư tân khuy, tà nhiệt trệ ở trung tiêu gây ra nên nó chủ tỳ vị nhiệt trệ. Cái sau là tân dịch khô kiệt, tà nhiệt nội kết gây ra nên chủ nhiệt kết tân thương.
– Lưỡi nhạt trắng rêu vàng nứt: lưỡi nhạt mà rêu vàng nhạt phân bố đầy lưỡi, hoặc dày hoặc mỏng mà có vết nứt, tân dịch hơi khô (trên lưỡi) thỉnh thoảng có thể gặp hoạt nhuận. Cái trước là do tố thể hư nhược khí tân song suy phù nhiệt thượng nhiễu gây ra chủ khí hư tân thiểu, cái sau là khí hư kèm thấp trọc thượng dật gây ra, chủ khí hư tân thiểu kèm thấp.
– Lưỡi nhạt trắng rêu đen: rêu đen táo khô như gai (thích), cạo là bong, đây là dương hư không thể vận chuyển tân dịch gây ra chủ dương hư hàn thịnh.
Lưỡi nhạt đỏ và các màu khác của rêu
– Lưỡi nhạt đỏ rêu quang doanh: Lưỡi nhạt đỏ mà nộn, sáng, không rêu, không khô không ẩm vẫn là vị khí âm bất túc, thường gặp trong vị thận âm hư hoặc khí huyết lưỡng hư.
– Lưỡi nhạt đỏ rêu thiên trắng hoạt: Lưỡi nhạt đỏ bên trái có một dải rêu trắng hoạt, những chỗ khác quang sạch không rêu, đây là can đởm thấp nhiệt hoá táo thương âm gây ra, nên chủ bệnh là tà nhập bán biểu bán lý, hoặc bệnh tại can đởm thấp trọc hoá táo thương âm, hoặc âm hư mà vị đình túc.
– Lưỡi nhạt đỏ có nhiều nốt đỏ, rêu trắng nê khô: Lưỡi nhạt đỏ mà đầu, rìa lưỡi có những nốt đỏ, rêu trắng nê mà khô, đây là do huyết nhiệt nội uẩn mà bên ngoài lại cảm thụ phong hàn gây ra, nên nó chủ bệnh là phong hàn ngoại thúc nhiệt uẩn dinh huyết, hoặc nhiệt thịnh thương tân mà tỳ vị thấp trệ.
– Lưỡi đỏ nhạt rêu lưỡi phần gốc màu vàng phần đầu lưỡi màu trắng: Lưỡi đỏ nhạt rêu trắng mỏng đầy lưỡi nhưng phần đầu lưỡi hơi vàng nhiệt, đây là nhiệt tại thượng tiêu hoặc ngoại cảm phong nhiệt tại biểu, hoặc phong hàn hoá nhiệt đang muốn nhập lý.
– Lưỡi đỏ nhạt rêu vàng đen: Lưỡi đỏ nhạt xung quanh rêu vàng khô ở giữa rêu đen vàng dầy nê, đây là đàm thấp uất nhiệt có xu hướng hóa táo thương âm, hoặc do tỳ vị thấp nhiệt uẩn kết.
Đỏ thẫm và các sắc rêu
– Lưỡi đỏ rêu phù cáu: Chất lưỡi đỏ mà rêu ám tối phù cáu (dơ). Nếu ở nhiệt bệnh giai đoạn cuối là tà nhiệt tuy tạm thoái mà tỳ vị khí chưa hồi phục dẫn đến trọc uế thấp tà theo phần nhiệt dư đi lên mà thành, nên chủ chứng là chính khí hư thấp nhiệt chưa sạch.
– Lưỡi đỏ rêu trắng hoạt: Lưỡi đỏ tươi mà rêu trắng hoạt nhuận, tân dịch đặc biệt nhiều. Nếu chất lưỡi lão (thương lưỡi) là nhiệt tại lý mà có thủy thấp tà, chủ lý nhiệt kèm thấp. Nếu chất lưỡi kều nộn phù bệu là hư dương thượng phù thủy thấp nội đình gây ra, chủ chứng là dương hư thấp thịnh.
– Lưỡi đỏ rêu đen (xám) hoạt: Lưỡi đỏ mà chất phù bệu, rêu xám đen lẫn trắng, nhuận hoạt dễ bong, đây do hàn cực hư, dương thượng việt nên lưỡi đỏ kiều nộn không phải do hữu hình hàn thấp uất tích nên rêu hoạt trơn dễ bong, chủ hư hàn chứng.
– Rìa lưỡi đỏ rêu ở giữa đen nhuận: Rìa hai bên và đầu lưỡi đỏ tươi giữa có đám rêu đen nhuận. Rìa và đầu lưỡi đỏ là hiện tượng nhiệt mà giữa rêu đen nhuận lại là hàn, nên thường gặp loại này ở hàn nhiệt kiêm tạp bệnh. Chủ bệnh gồm 3 loại: lý hàn ngoại nhiệt; ngoại cảm thấp nhiệt nội đình sinh lãnh (ăn đồ ăn sống lạnh đình lại ở trong); can đởm thấp nhiệt mà vị trường lại hàn.
– Gốc lưỡi đỏ rêu đen phần đầu lưỡi: Vùng đầu lưỡi phân bố đầy rêu đen, giữa và gốc lưỡi không rêu mà đỏ đây là lý nhiệt nội tích, tâm nhiệt nặng chủ tâm nhiệt nội tích.
– Lưỡi đỏ gầy rêu đen: Lưỡi đỏ mà không nhuận, chất lưỡi gầy mỏng (lép kẹp), phía trên phủ một lớp rêu đen mỏng đây là nhiệt thịnh thương tân, hoặc âm hư hỏa vượng gây ra huyết táo tân khô, nên chủ chứng là tân khô huyết táo.
– Đỏ thẫm (giang), rêu trắng mỏng: Chất lưỡi đỏ thẫm rêu trắng mỏng rất đều không hoạt không táo, đây là thuộc tố thể âm hư hỏa vượng lại cảm phong hàn chi tà. Lưỡi đỏ thẫm tất nhiên sẽ xuất hiện trước biểu chứng hoặc do biểu tà chưa giải nhiệt nhập dinh huyết thì chất lưỡi đỏ thẫm này sẽ biến hóa từ từ mà có.
– Lưỡi đỏ thẫm rêu dính dơ (niêm nê): chất lưỡi đỏ thẫm thoạt nhìn giống như khô, nhưng sờ vào cảm giác có tân dịch, đây là tân khuy mà thấp nhiệt thượng đằng, hoặc có đàm trọc. Nếu lưỡi đỏ thẫm mà phía trên phủ một lớp niêm dịch trong suốt giống rêu mà không giống rêu là nhiệt thịnh mà trung tiêu kèm có uế trọc, hoặc là do dinh nhiệt, hoặc do âm hư hỏa vượng.
– Đỏ thẫm mà rêu vàng trắng: Đầu lưỡi đỏ thẫm phía trên có rêu vàng trắng đây là tà tại khí phần chưa sạch đã nhập dinh, chủ khí dinh lưỡng phiên (thiêu).
– Đỏ thẫm rêu vàng nhuận: Lưỡi đỏ thẫm rêu vàng hoạt mà sáng bóng (quang lượng). Đây là do trong nhiệt kèm thấp, nhiệt bức thủy thấp thượng triều mà ra, chủ bệnh gồm 4 thứ: âm hư kèm thấp, âm hư hỏa vượng mà vị trường tích thấp nhiệt; huyết nhiệt kẹp thấp ở người nghiện rượu, tích lâu sinh thấp, thấp uất hóa nhiệt uẩn tại khí phần; thấp nhiệt trong dinh phần nặng (nhiều) lại bị ngoại cảm tà nhiệt nhập dinh mà vị trường thấp nặng hơn nhiệt; nhiệt mới nhập dinh vẫn là ngoại cảm nhiệt bệnh mà nhiệt tà đã bắt đầu nhập dinh phần.
– Đỏ thẫm rêu vàng niêm nê: Lưỡi đỏ thẫm phía trên phủ một lớp niêm dịch vàng giống lòng đỏ trứng gà, đây là âm hư dinh nhiệt lại có đàm ẩm đình tích giao kết nhau khó phân khai do đó chủ âm hư dinh nhiệt kiêm đàm ẩm.
– Đỏ thẫm rêu hoàng ban (vàng mà giống như đài hoa): lưỡi đỏ tươi rêu vàng phủ đầy mặt lưỡi rêu khô sác mà dày có những vết nứt phân thành từng mảnh nhỏ, ngang dọc, kẽ nứt có thể thấy thịt màu đỏ ở dưới gọi là hoàng ban rêu. Đây là do vị trường táo nhiệt nội kết gây ra nên nó chủ vị trường nhiệt kết. Môi lưỡi đỏ thẫm mà rêu hình ban là vị trường nhiệt kết mà nhiệt đã nhập dinh.
– Đỏ thẫm rêu giống như khô táo: Lưỡi đỏ tươi hoặc đỏ thẫm, rêu mỏng hoặc dày trắng nhìn như khô táo nhưng sờ vẫn thấp nhuận gọi là giống như rêu khô (loại can thái). Có hai nguyên nhân: thấp nhiệt thương tân nhưng thấp nhiệt lại không ngừng thượng dật; khí hư kèm thấp, khí tuy không thể phân bố tân nhưng thấp khí lại không ngừng thượng thẩm. Lưỡi đỏ thẫm mà rêu dày nê là thấp nhiệt thương tân, lưỡi nhạt đỏ mà rêu mỏng giống khô là khí hư kẹp thấp.
Lưỡi xanh tím và các loại rêu
– Lưỡi tím rêu trắng nê dày: đa số gặp ở người nghiện rượu nên sắc lưỡi biến màu tím, hoặc do ngoại cảm biểu tà nhập lý, hoặc do rượu tích tụ hóa sinh thấp nhiệt thượng hun mà thành rêu dày nê. Chủ bệnh gồm 2 loại: tửu độc nội tích, phong hàn nhập lý; thấp nhiệt nội thịnh.
– Xanh tím rêu vàng hoạt: Sắc lưỡi tím kèm xanh rêu vàng dày nhuận hoạt. Do hàn trệ huyết ứ nên lưỡi xanh tím, ẩm thực nội đình, nhiệt chiếm ưu thế nhưng chưa thịnh nên lưỡi tuy vàng mà nhuận hoạt. Chủ bệnh gồm hàn ngưng huyết mạch và thực trệ tỳ vị.
– Tím nhạt rêu xám hoặc rìa lưỡi, đầu lưỡi tím nhạt, giữa phủ một lớp rêu xám, hoặc giữa tím nhạt rìa có rêu xám. Lưỡi tím nhạt này do trắng nhạt chuyển hoá mà ra do tố thể suy nhược lại cảm phải ôn dịch nhiệt bệnh dẫn đên thấp trung sinh nhiệt thương huyết phần gây ra, do đó nó chủ cơ thể hư nhược nhiệt nhập huyết phần.
– Lưỡi xanh rêu vàng: Lưỡi trắng nhạt xen lẫn xanh trên phủ một lớp rêu vàng nhạt, do mùa hè cảm thử nhiệt gây ra trúng hàn thổ tả, hoặc do âm thịnh ở trong bức nhiệt ngoại phù mà thành hiện tượng chân hàn giả nhiệt nên rêu vàng, ở đây không thể dùng nhiệt để bàn luận mà do hàn thấp uẩn tích thâm hãm ở huyết phần, chủ bệnh hàn thấp nội thịnh.
– Lưỡi bồ đào dịch (bồ đào = trái nho): Chất lưỡi miếng xanh miếng tím, rêu mảng thì vàng mảng thì đen, lưỡi nổi mụt nước hình dáng như trái (chùm) nho, nước trong bóng nước hoặc màu lam hoặc màu tím nên có tên đó. Thường xuất hiện cả ở những chỗ khác trong miệng kèm đau họng, môi sưng, miệng hôi đây là do nhiệt độc khiết phục xú trọc uất kết hun chưng thượng dũng tràn lên trên mà ra. Gặp ở ôn dịch bệnh gọi là bồ đào ôn dịch.
Hình tượng lưỡi nguy hiểm và chẩn pháp: Bệnh tới giai đoạn nguy kịch khi âm dương khí huyết tân dịch chuẩn bị kiệt thì lưỡi và rêu có nhiều hình sắc đặc thù .
Âm khí gần tuyệt thì lưỡi sẽ:
– Lưỡi không có rêu giống như trái thận heo đã lột bỏ lớp màng ngoài hoặc như mặt kính đây là triệu chứng nghiêm trọng (gặp ở triệu chứng của bệnh thương âm hoặc vị khí gần tuyệt)
– Lưỡi thô to có gai giống da cá nhám (cá mập) nhưng lại khô nứt nguy hiểm (gặp ở tân dịch khô kiệt).
– Đầu lưỡi co rụt như thịt trái vải khô hoàn toàn không chút tân dịch – nguy (nhiệt cực tân khô).
– Chất lưỡi khô tối như màu gan heo hoặc đỏ như trái thị – (khí huyết bại hoại).
– Lưỡi ngắn mà âm nang teo – (can khí gần tuyệt).
– Đỏ sẫm như giả thạch xen lẫn đen (thận âm gần tuyệt).
Lưỡi mọc những mảng trắng như hoa tuyết – tỳ dương gần tuyệt
Trên đây là những triệu chứng khó chữa, cần phải phối hợp tứ chẩn hợp tham mới không nhầm lẫn
9. Tiểu kết về vọng chẩn
Vọng chẩn là phương pháp chẩn đoán đầu tiên trong tứ chẩn, nó sẽ làm cho người thầy thuốc có được những ấn tượng sơ bộ đối với bệnh nhân, Y gia các thời rất coi trọng vấn đề này.
Toàn bộ nội dung của vấn chẩn có thể tóm tắt lại là quan sát cục bộ và toàn diện bệnh nhân về thần, sắc, hình, thái. Thẩm sát thần khí tồn vong có thể đoán trước được sinh tử. Quan sát sắc trạch thiện ác, hình thái bình thường hoặc biến đổi có thể biết bệnh nặng hoặc nhẹ, bệnh ở nông hay sâu.
Thần sắc là tiêu chí được biểu hiện bên ngòai của khí huyết tạng phủ. Quan sát thần sắc thịnh suy, biện biệt sự biến đổi ngũ sắc có thể đoán biết khí huyết tạng phủ doanh (xung mãn) hoặc suy, biết được hàn nhiệt hoặc biểu lý của bệnh. Do vậy trong vọng chẩn tất phải hết sức chú ý thần sắc. Diện bộ ngũ sắc chẩn pháp và thiệt chẩn thể hiện nét đặc sắc cũng như kinh nghiệm truyền thống của YHCT do đó cần nắm vững những phần đó.
Nắm vững đắc thần, thất thần và giả thần chủ yếu quan sát từ mục quang, biểu hiện tình cảm (biểu tình) và động thái.
Nắm vững màu sắc bình thường, đặc điểm bệnh sắc và ý nghĩa của chúng là một trong những trọng tâm của chẩn pháp. Sắc minh nhuận hàm súc là sắc thường (bình thường), khô ám (tối) lộ rõ là bệnh sắc, đây là điểm mấu chốt để phân biện sắc thường và sắc bệnh. Nói về ngũ sắc ứng ngũ tạng và “Thanh hắc vi thống, hoàng xích vi nhiệt, bạch vi hàn” là cách lý giải chủ yếu của ngũ sắc chủ bệnh.
Thiệt chẩn trong biện chứng chiếm vị trí quan trọng. Lưỡi thông qua khí huyết kinh lạc và tạng phủ có mối tương liên mật thiết. Chất lưỡi có thể phản ánh khí huyết tạng phủ thực hư, rêu lưỡi có thể biện biệt tà khí nông sâu và vị khí tồn vong. Đại để khí bệnh nên xem rêu, huyết bệnh nên xem chất. Lưỡi nhạt chủ hư hàn, lưỡi đỏ chủ nhiệt chứng, xanh tím là hàn (nhuận) là nhiệt (táo). Rêu trắng chủ biểu chứng, hàn chứng cũng chủ lý chứng. Rêu vàng chủ lý chứng, nhiệt chứng, rêu đen là hàn (nhuận) nhiệt (táo). Đây là những lý luận thường tình của thiệt chẩn nhưng cũng cần kết hợp hình thái lưỡi và hình chất của rêu để tổng hợp phân tích.
Vọng lạc mạch ngón trỏ trẻ em cũng có quan hệ với ngũ sắc chẩn pháp và cũng là một trong những nét độc đáo của yhdt. Lấy phù trầm để phân biểu lý, đỏ tím để phân biệt hàn nhiệt, đạm (nhạt) trệ để phân định thực hư, lấy tam quan để đoán bệnh nặng nhẹ, đây là những điều không thể bỏ qua trong chẩn đoán bệnh nhi.
Vọng hình thể mạnh yếu béo gầy, vọng tư thế động tịnh của âm dương đều giúp cho đóan biết sự thịnh suy của khí huyết tạng phủ, biết được âm dương tà chính tiêu trưởng và vị trí tà khí với thế bệnh thuận nghịch, lại kết hợp với vọng thần sắc sẽ cho ta một cái nhìn tổng thể (ấn tượng) từ những bằng chứng đó tiếp tục tiến hành quan sát kỹ, có trọng điểm những khu vực cục bộ hữu quan.
Quan sát đầu cổ ngũ quan, cửu khiếu, da và các bộ phận khác cũng như vật bài tiết rất có ý nghĩa đối với việc quan sát bệnh biến của tạng phủ. Trước hết phải thuần thục lý luận cơ bản và nguyên lý trong từng phần vọng chẩn sau đó mới dễ lý giải và thuần thục nội dung cơ bản vọng chẩn các phần khác.
—–HẾT—–
Nguồn: Giáo trình yhct Đại học y dược Cần Thơ