#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Vọng chẩn trong Đông y Phần 2 (1.2 Vọng lưỡi 2)

d) Vọng rêu lưỡi

Sắc rêu: Sắc rêu chủ bệnh gồm trắng, vàng, xám, đen 4 loại. Những màu ít thấy còn có xanh lục và màu nấm (meo) tương.

– Rêu trắng: Thường gặp trong biểu chứng, hàn chứng. Do ngoại cảm tà khí vẫn chưa nhập lý, rêu thường không có biến đổi rõ rệt vẫn là rêu bình thường mỏng trắng. Trong Thương hàn thái dương bệnh, ôn bệnh giai đoạn vệ phần cũng biểu hiện loại rêu này. Nếu lưỡi nhạt rêu lưỡi trắng mà thấp nhuận thường là lý hàn chứng hoặc hàn thấp chứng. Nhưng ở trong những tình huống đặc biệt, rêu lưỡi trắng cũng chủ nhiệt bệnh. Ví dụ rêu lưỡi trắng như lớp bột trắng sờ không khô là “Tích phấn thái” là do ngoại cảm uế trọc khí, hoặc nhiệt độc nội thịnh gây ra, thường gặp trong ôn dịch hoặc nội ung. Lại ví dụ rêu trắng khô nứt như cát sạn sờ thô ráp đều do ôn bệnh hoá nhiệt rất nhanh, nội nhiệt bạo khởi, tân dịch bạo thương, rêu lưỡi vẫn chưa kịp chuyển vàng mà lý nhiệt đã tích, thường gặp trong ôn bệnh hoặc do uống lầm thuốc bổ.

– Rêu vàng: Thường chủ lý chứng, nhiệt chứng. Do nhiệt tà hun chước nên rêu vàng. Vàng nhạt là nhiệt nhẹ, vàng đậm là nhiệt nặng, vàng cháy là nhiệt kết. Bệnh ngoại cảm rêu chuyển từ trắng sang vàng là biểu tà nhập lý hoá nhiệt. Trong thương hàn là dương minh kinh bệnh, trong Ôn bệnh là khí phần chứng. Nhưng rêu mỏng vàng nhạt cũng thường gặp ở ngoại cảm phong nhiệt biểu chứng hoặc phong hàn hóa nhiệt. Nếu lưỡi nhạt bệu nộn, rêu vàng hoạt nhuận đa số là dương hư thủy thấp bất hóa.

– Rêu xám: Là đen nhạt thường do rêu trắng ám tối chuyển hóa mà thành cũng có thể xuất hiện cùng rêu vàng. Chủ lý chứng thường gặp ở lý nhiệt chứng, cũng có thể gặp trong hàn thấp chứng. Rêu xám mà khô thuộc nhiệt tích thương tân, cũng có thể gặp ở ngoại cảm nhiệt bệnh hoặc âm hư hoả vượng trong nội thương tạp bệnh. Rêu xám mà nhuận gặp ở đàm ẩm nội đình hoặc hàn thấp nội trở.

– Rêu đen: Đa số do xám hoặc vàng cháy phát triển mà thành thường gặp trong giai đoạn nghiêm trọng của dịch bệnh. Chủ lý chứng hoặc là nhiệt cực hoặc hàn thịnh. Rêu đen mà khô nứt thậm chí mọc gai đa số là nhiệt cực tân khô. Nếu rêu đen mà hoạt nhuận đa số thuộc hàn thịnh dương hư.

– Rêu màu lục và màu nấm mốc tương: Rêu lục do rêu trắng chuyển thành, bất luận xanh nhạt hoặc thẫm ý nghĩa của nó đều giống rêu xám đen nhưng chỉ chủ nhiệt chứ không chủ hàn, thường thấy trong ôn dịch hoặc thấp ôn bệnh. Rêu nấm mốc là màu rêu vừa hơi đỏ vừa đen (hồng trung phát hắc) còn kèm cả màu vàng giống như nấm mốc tương, thường do vị trường có thấp trọc trước, ủ tích lâu ngày mà thành, chủ bệnh thấp nhiệt cửu uất…

Chất rêu

– Dầy mỏng: Tiêu chuẩn phân định dày mỏng là có thể xem thấy hoặc không thấy chất lưỡi ở dưới rêu hay không, tức là thấu qua lớp rêu có thể mờ mờ nhìn thấy thiệt thể là rêu mỏng, nhìn không thấy là rêu dày. Rêu dày mỏng có thể đoán tà khí nông sâu.

Rêu mỏng là do vị khí sinh ra, là rêu bình thường. Nếu khi bệnh mà gặp nó thì thuộc bệnh nông nhẹ, chính khí chưa tổn thương, tà khí không thịnh. Do vậy rêu mỏng chủ ngoại cảm biểu chứng, hoặc bệnh nhẹ trong nội thương.

Rêu dày là do vị khí kèm thấp trọc tà khí hun chưng mà có nên rêu dày, chủ tà thịnh nhập lý hoặc bên trong có đàm ẩm thấp thực tích trệ.

– Nhuận táo: Bề mặt lưỡi nhuận trạch không khô không ướt là lưỡi bình thường. Nếu thủy phần quá nhiều, sờ ướt và trơn thậm chí chảy dãi khi le lưỡi gọi là rêu hoạt (hoạt thái), nhìn thấy khô, sờ không có tân dịch là rêu khô (táo thái) thậm chí có những hạt nhỏ thô ráp như cát sạn sờ ráp tay.

Nhuận táo để tìm hiểu tình hình tân dịch biến hóa.

Nhuận trạch là tân dịch thấm nhuần nói lên khi bệnh tân dịch chưa tổn thương. Rêu hoạt là do hàn thấp, do tam tiêu dương khí suy thiểu không thể vận hoá thủy thấp, thấp tụ lại mà thành đàm ẩm, theo kinh mạch thượng dật ở rêu nên rêu ướt trơn (thủy hoạt), thường gặp trong dương hư mà đàm ảm thủy thấp nội đình.

Can táo (khô) là tân dịch không thể thấm nhuần, rêu hoặc do nhiệt thịnh thương tân, hoặc do âm dịch khuy hao, cũng có thể do dương hư khí hoá không tốt nên tân dịch không lên trên được, hoặc do táo khí thương phế. Do vậy táo rêu chủ bệnh là: nhiệt thịnh thương tân, âm dịch khuy hao, dương khí bất hóa tân, táo khí thương phế. Rêu thô thuộc nhiệt thịnh tân thương là đa số, nhưng trong vài tình huống đặc biệt thì rêu thấp tà lại táo mà rêu nhiệt tà lại nhuận, ví dụ thấp tà truyền nhập huyết phần, dương tà nhập âm chưng động âm khí nên rêu lại nhuận. Nên phối hợp tứ chẩn hợp tham để phân biệt kỹ.

– Hủ nê (nhị) rêu: Chất rêu gồm những hạt rời rạc to dày, hình dáng giống như xác đậu nành tập trung trên bề mặt lưỡi, có thể lau sạch gọi là hủ thái (rêu). Nếu màu rêu tối, ám dơ gọi là: “Phù cáu thái”. Nếu trên lưỡi có một lớp dày dính giống như mủ gọi là: “Nùng hủ thái”. Nếu trên lưỡi có 1 lớp màng trắng, hoặc xuất hiện những điểm lở lóet giống như những hạt cơm thì gọi là; “Mai hủ thái”. Những hạt nhỏ của chất rêu phân bố dày đặc lau không đi, cạo không tróc, trên mặt phủ 1 lớp giống như dầu dơ gọi là: “Nê thái”. Những hạt dày đặc dính phía trên phủ 1 lớp cáu trọc (dơ) họat nê gọi là: “Niêm nê thái”. Nếu các hạt không sạch, cáu trọc xen lẫn gọi là: “cáu thái” hoặc “trọc thái”

Quan sát hủ nê có thể biết sự tiêu trưởng dương khí hoặc thấp trọc tiêu trưởng

+ Rêu hủ đa số do dương nhiệt hữu dư chưng đằng hủ trọc tà khí trong vị thượng thăng mà thành, đa số gặp trong thực tích đàm trọc, cũng có thể gặp trong nội ung hoặc lở miệng do thấp nhiệt. Thường trong quá trình bệnh nếu rêu từ khô cứng (bản trệ) chuyển sang hủ (hóa hủ), từ hủ dần thóai lui, mọc lên 1 lớp rêu mới (phù mỏng) đây là rêu của chính thắng tà. Nếu phế ung, can ung và hạ cam kết độc thì rêu nùng hủ, đây là tà thịnh, bệnh nặng. Mai hủ rêu cũng do vị quản dơ (hủ bại), tân dịch hoá thành trọc hư thượng phiếm gây ra

+ Nê rêu đa số do thấp trọc nội uẩn, dương khí bị che lấp (khiết) gây ra do đó nó chủ bệnh gồm thấp trọc, đàm ẩm, thực tích, thấp nhiệt, ngoan (ngoan cố) đàm… Phàm rêu vàng dày nê đa số do đàm nhiệt, thấp nhiệt, thử ôn, thấp ôn, thực trệ và cả thấp đàm nội kết, phủ khí không thông (bất lợi)… Nếu rêu trắng họat nê thì là thấp trọc, hàn thấp. Nếu dày nê không hoạt trắng như phấn đa số do thời tà kèm thấp phát từ trong ra. Nếu trắng nê không táo đa số là tỳ hư thấp trọng. Nếu trắng dày dính nê, miệng có vị ngọt thì vẫn là tỳ vị thấp nhiệt, khí tụ thượng phiếm gây ra

Tóm lại rêu hủ là dương nhiệt hữu dư, rêu nê là dương khí bị khiết

– Thiên toàn rêu: Rêu lưỡi phân bố đầy mặt lưỡi gọi là “Toàn”. Phân bố 1 bên hoặc trước hoặc sau, phải trái, trong ngoài một phía gọi là “Thiên”. Xem rêu phân bố thiên toàn có thể biết bệnh biến tại đâu.

Toàn rêu chủ tà khí tản mạn đa số là chứng thấp đàm trở trệ trung tiêu.

Thiên ngoại rêu (đầu lưỡi tính là ngoài) là tà khí nhập lý chưa sâu mà vị khí tổn thương trước. Thiên nội rêu (gốc lưỡi gọi là nội) là biểu tà tuy giảm nhưng vị trệ đã xuất hiện. Nếu vùng giữa gốc ít rêu là vị dương không thể thượng đằng, thận âm không thể thượng nhu, âm tinh khí đều thương tổn. Nếu chỉ có rêu ở vùng giữa (trung căn) có thể là bình nhật có đàm ẩm hoặc vị trướng tích trệ.

Rêu lưỡi thiên về phía phải trái là tà ở bán biểu bán lý. Vì rìa lưỡi thuộc can đởm nên bệnh biến bán biểu bán lý nhiều, hoặc do can đởm thấp nhiệt… Nhưng Biện thiệt chỉ nam cho rằng: Thiên tả (trái) hoạt rêu là chứng tạng kết, là tà đã nhập tạng, đây là bệnh trạng khó chữa nhất. Thiên hữu hoạt rêu là bệnh tại cơ nhục, tà tại bán biểu bán lý. Cần tham khảo điều này thêm trên lâm sàng vì thiếu sự kiểm chứng thực tiễn.

– Bác lạc rêu: Rêu lưỡi toàn bộ mất đi để lại mặt lưỡi bóng sạch như mặt kiếng gọi là quang bác lưỡi, cũng gọi là “Kính diện lưỡi”. Nếu rêu bóc không toàn bộ, chỗ bóc lộ ra quang hoạt ranh giới rõ gọi là “Hoa bác rêu”. Không đều gọi là “Rêu địa đồ”. Xem bác lạc rêu để biết tình hình vị khí vị âm tồn vong và dự hậu bệnh.

Quang bác (bóc, bong) lưỡi chủ bệnh đã nêu trên. “Hoa bác rêu” cũng là vị khí âm lưỡng thương gây ra. Nếu hoa bác mà rêu nê đa số do đàm trọc chưa hóa, chính khí đã thương, bệnh tình càng phức tạp. Nếu rêu “loại bác” (loại là giống như, loại này là chỗ bong ra không quang hoạt mà giống như có các hạt mới sinh ra rêu mới) bệnh hậu khí huyết hư. Nếu rêu dày mà ở giữa bong hoặc có dấu nứt hoặc có một điểm lõm xuống, phía dưới màu đỏ khô, nên đề phòng dịch thoát trung kiệt (trung khí)

– Tiêu trưởng: Tiêu là rêu từ dày chuyển sang mỏng, từ nhiều chuyển sang ít. Trưởng là rêu từ không chuyển sang có, từ mỏng chuyển sang dày. Rêu tiêu trưởng phản ánh quá trình đấu tranh của chính tà, có thể dự đoán sự tiến triển của bệnh và dự hậu.

Phàm là rêu từ ít chuyển sang nhiều, từ mỏng chuyển sang dày, nghĩa là tà khí dần thịnh, chủ bệnh đang tiến triển (xấu). Ngược lại rêu từ dày chuyển sang mỏng, từ nhiều sang ít nói lên chính khí dần khôi phục, chủ bệnh thoái (lui). Nếu bạo tăng bạo thoái (rêu) đa số là tình hình bạo biến. Nếu rêu mỏng biến dày (đột ngột) nghĩa là chính khí bạo suy, tà khí nhập lý rất nhanh. Nếu rêu dày đầy lưỡi mà đột nhiên tiêu thoái nhanh đa số phản ánh vị khí bạo tuyệt. “Sát thiệt biện chứng tân pháp” gọi tình trạng rêu lưỡi dần tiêu thoái là “Chân thoái chân hóa”, nghĩa là do hoá mà sau đó thoái, sau khi thoái sẽ dần dần sinh ra rêu mới trắng mỏng. Đây là hiện tượng báo trước vị khí dần hồi phục, cốc khí dần tiến (bắt đầu ăn được). Ngược lại đột nhiên thoái mất là “Giả thoái”, đột nhiên mất đi mà không sinh ra rêu mới được và dẫn đến xuất hiện lưỡi mặt kiếng, đây là triệu chứng ác tính của vị khí âm suy kiệt. Trường hợp nhiều chỗ bong tróc hình thành rêu “Hoa bác” cũng không phải là hiện tượng tốt, vẫn là nghịch chứng. Một loại khác là rêu dày đầy miệng đột nhiên thoái mất và trên mặt lưỡi vẫn còn lưu lại dấu vết dơ hoạt, hoặc xuất hiện những điểm đỏ như chu sa, hoặc thấy nứt thì sau 1 – 2 ngày sau sẽ tiếp tục có rêu dày. Đây là do thấp trọc tà thịnh, tà chính đang đấu tranh.

– Chân giả rêu: Phán đoán rêu chân giả cần dựa vào tiêu chuẩn có hoặc không có căn (gốc). Phàm là rêu lưỡi chắc dính chặc vào mặt lưỡi, khó cạo đi, cảm tưởng như rêu được mọc (xuất) từ chất lưỡi gọi là “Hữu căn rêu” thuộc “Chân” rêu. Nêu không chắc giống như bôi phết trên lưỡi, cạo dễ tróc, cảm giác không mọc từ chất lưỡi gọi là “Vô căn” rêu, tức là “Giả” rêu. Biện chân giả rêu để đoán biết nặng nhẹ và dự hậu.

+ Chân rêu: Bệnh sơ khởi hoặc giai đoạn giữa của bệnh, rêu hữu căn so với vô căn là bệnh ở sâu, bệnh nặng. Giai đoạn sau rêu hữu căn so với vô căn là tốt, vì vị khí vẫn còn tồn tại. Nếu bề mặt lưỡi phủ một lớp rêu dày nhìn giống rêu vô căn nhưng kỳ thực phía dưới đã mọc một lớp rêu mới. Đây là hiện tượng tốt bệnh đang có chiều hướng giảm, khỏi.

+ Giả rêu: xem giả rêu cần chú ý 3 điều. Thứ nhất, lúc sáng sớm mới thức rêu phân bố dày đặc, sau khi ăn sáng rêu sẽ mất đi, tuy là giả rêu nhưng không phải thuộc loại vô căn, đây không phải là bệnh, nếu sau khi thoái mà rêu ít hoặc không rêu là lý hư. Thứ hai, có loại rêu có màu cạo dễ tróc là bệnh nhẹ nông, nếu lau chùi mà tróc là bệnh càng nhẹ và nông hơn. Thứ ba, rêu dày một đám mà vô căn, phía dưới không thể tiếp tục mọc một lớp rêu mới là do trước vốn còn vị khí và sau đó vị khí suy thiếu, không thể đi lên sinh ra rêu. Đa số do uống nhiều thuốc lương dược thương tổn dương hoặc uống quá nhiều nhiệt dược thương âm gây ra.