8.2 Quan hệ lưỡi và tạng phủ, nguyên lý của thiệt chẩn
Quan hệ với tạng phủ và nguyên lý
– Thứ nhất, quan hệ này chủ yếu thông qua sự tuần hoàn của kinh lạc và kinh cân. Ví dụ thủ thiếu âm tâm kinh kinh biệt đến lưỡi (thiệt thể).
Túc thái âm tỳ kinh liên hệ trực tiếp lưỡi, phân tán dưới lưỡi. Túc thiếu âm thận kinh kẹp (đi hai phía) lưỡi. Túc quyết âm can kinh lạc tới lưỡi… Hay ví dụ khác túc thái dương cân có nhánh đi vào lưỡi… Điều này nói lên lục phủ ngũ tạng thông qua kinh lạc kinh cân đều có liên hệ với lưỡi.
– Thứ hai, trong tạng phủ đặc biệt là tâm và tỳ vị quan hệ càng mật thiết vì lưỡi là khiếu của tâm (miêu khiếu) và là ngoại hầu của tỳ và rêu lưỡi là do vị khí hun chưng mà có.
Chất lưỡi có hệ thống mạch máu phong phú có quan hệ với tâm chủ huyết mạch. Lưỡi hoạt động linh hoạt điều tiết âm thanh, hình thành tiếng nói có liên quan đến tác dụng tâm chủ thần chí. Do đó lưỡi đầu tiên phản ánh trạng thái chức năng của tâm, mà tâm là đại chủ của ngũ tạng, chủ trạng thái chức năng khí huyết tạng phủ toàn thân do vậy trạng thái chức năng tâm cũng phản ánh chức năng trạng thái khí huyết, tạng phủ toàn thân. Qua đó có thể thấy bệnh của khí huyết tạng phủ tất nhiên thông qua tâm mà phản ánh ở lưỡi.
– Thứ ba, vị giác của lưỡi có thể ảnh hưởng đến ăn uống nên có quan hệ với tỳ chủ vận hoá và vị chủ thu nạp. Mà tỳ vị là hậu thiên chi bản là nguồn căn của khí huyết có ảnh hưởng tới mọi cơ quan trong cơ thể. Do vậy lưỡi không chỉ đơn giản phản ánh chức năng tỳ vị mà còn đại diện sự thịnh suy khí huyết tân dịch toàn thân. Và do tinh của lục phủ ngũ tạng đều qui tàng tại thận, thận là tiên thiên chi bản, kinh mạch của nó liên hệ tới lưỡi. Và do vậy có thể nói tinh khí của ngũ tạng lục phủ thông qua hậu thiên tỳ vị và tiên thiên thận tạng mà có liên hệ tới lưỡi và bệnh biến của ngũ tạng lục phủ đều có thể phản ánh trên lưỡi.
Phân bố tạng phủ trên mặt lưỡi:
YHCT tích lũy kinh nghiệm trăm ngàn năm đã phát hiện tạng phủ không chỉ có quan hệ khăng khít với lưỡi mà còn phân bố tương ứng trên lưỡi. Phương pháp phân định có 2 cách: Thứ nhất lấy vị kinh để hoạch phân, thứ hai lấy ngũ tạng để hoạch phân.
– Lấy vị kinh phân chia như: Đầu lưỡi thuộc thượng quản, giữa lưỡi thuộc trung quản, gốc lưỡi thuộc hạ quản. Cách này phù hợp với chẩn đoán vị bệnh.
– Lấy ngũ tạng hoạch phân: Các học thuyết trong yhdt thường có những khác biệt nhưng tương đối thống nhất ý kiến là lấy đầu lưỡi thuộc tâm phế, rìa lưỡi thuộc can đởm, giữa (trung tâm) thuộc tỳ vị, bên trái thuộc can, bên phải thuộc đởm, gốc lưỡi thuộc thận.
Trên lâm sàng nên dùng rêu lưỡi chất lưỡi hợp tham.
8.3 Phương pháp thiệt chẩn và những điều chú ý
Khi khám lưỡi muốn thu được kết quả chuẩn xác thì ngoài việc nắm vững, thuần thục lý luận cơ bản và nội dung chủ yếu ra còn phải chú ý phương pháp khám và chú ý một số vấn đề sau.
Ánh sáng
Ánh sáng mạnh yếu có ảnh hưởng cực lớn tới màu sắc lưỡi, thường gây cho ta cảm giác khác nhau trên cùng một màu sắc, do đó dễ phát sinh sai biệt, cần phải xem lưỡi dưới ánh sáng tự nhiên, đủ sáng, tránh ánh sáng gay gắt. Nếu vào chiều tối thì có thể dùng đèn nhưng khi cần thiết phải kiểm tra lại vào sáng hôm sau. Tránh khám ở những nơi phản xạ ánh sáng màu như cửa kiếng…
Tư thế
Thường thì yêu cầu bệnh nhân ngồi thẳng, há miệng hết sức, le lưỡi ra một cách tự nhiên. Lưỡi căng co hoặc cuộn, hoặc dùng sức quá mạnh, lâu đều ảnh hưởng đến tuần hoàn ở lưỡi và do đó sẽ xuất hiện giả tượng. Do vậy đối với một số bệnh nhân cần phải tập le vài lần để làm cho lưỡi bớt căng thẳng, đầu lưỡi hơi trút xuống.
Thứ tự
Nên tập thành thói quen xem lưỡi theo một thứ tự nhất định. Thường thì quan sát rêu lưỡi có hoặc không, dày hoặc mỏng, hư nê, sắc trạch, nhuận táo… kế đó quan sát chất lưỡi (thiệt thể) sắc trạch ban điểm, lão nộn, gầy béo và động thái… Về bộ vị thì xem từ đầu lưỡi đến gốc lưỡi
Ẩm thực
Ăn uống thường ảnh hưởng hình thái và sắc rêu. Do ăn hoặc thuốc có thể nhuộm màu rêu. Ví dụ uống sữa hoặc nhũ nhi rêu thường trắng. Đậu phộng, hột bí, các loại đậu, hồ đào có chứa nhiều dầu thực vật nên rêu thường vàng trắng giống nhau rêu hủ nê…
Mùa và thời gian
Lưỡi bình thường cũng hơi có sự thay đổi theo mùa và theo thời gian như: Mùa hè thử thấp thịnh nên rêu lưỡi thường dày hoặc màu vàng nhạt. Mùa thu táo rêu mỏng mà khô. Mùa đông rêu thấp nhuận. Sáng sớm đa số dày, ban ngày sau khi ăn rêu sẽ mỏng lại. Lưỡi sắc ám trệ khi mới thức khỏi giường. Sau khi vận động lưỡi sẽ hồng lại.
Tuổi tác và thể chất
Lưỡi biến đổi tùy theo tuổi và thể trạng từng người. Ví dụ người già khí huyết thường hư suy nên lưỡi thường hay nứt (liệt văn) nhú (gai lưỡi) cũng thường teo. Trẻ em thường hay mắc bệnh về lưỡi, xuất hiện mảng trắng hay rêu bong. Người mập lưỡi hơi to mà chất nhạt, người gầy lưỡi thường hay đỏ.
Cạo lưỡi và chùi (lau) lưỡi
Có lúc cần khảo sát bề mặt lưỡi nhuận táo và xem rêu bở hoặc chắc, có gốc (hữu căn) hay không gốc thì ta cần phối hợp cạo lưỡi hoặc chùi lưỡi. Phương pháp cụ thể là: Dùng cây đè lưỡi hoặc tăm bông vô trùng nhẹ nhàng vừa sức cạo từ gốc lưỡi ra, có thể liên tục 3 – 5 lần hoặc dùng gạc sạch quấn quanh ngón trỏ thấm chút nước muối sinh lý từ cuống lưỡi chùi ra đầu lưỡi 4 – 5 lần. Mục đích của phương pháp là để kiểm tra rêu lưỡi có dễ cạo hoặc chùi để lộ ra hình sắc trạch của lưỡi (chất) hay không và xem sự tái sinh sau đó của rêu ra sao…
8.4 Nội dung của thiệt chẩn
Gồm xem chất lưỡi và rêu lưỡi. Chất lưỡi còn gọi là thiệt thể, là tổ chức gồm mạch máu và cơ. Rêu là một lớp phủ bên trên chất lưỡi. Xem chất lưỡi là xem thần, sắc, hình, thái 4 phần. Xem rêu lưỡi là xem chất rêu và sắc rêu 2 phần. Sau cùng cần tổng hợp quan sát chất lưỡi và rêu.
Lưỡi bình thường gọi vắn tắt là “Đạm hồng thiệt, trắng mỏng rêu” (lưỡi hồng nhạt, rêu trắng mỏng). Nói cụ thể là chất lưỡi mềm mại vận động linh hoạt tự nhiên, màu sắc hồng nhạt là hồng tươi sáng, không bệu gầy lão nộn, không hình thái dị thường. Rêu lưỡi trắng các hạt nhỏ đều, phủ một lớp mỏng trên bề mặt lưỡi, chùi không đi, dưới nó có gốc, không khô không thấp, không dính không nê.
a) Vọng chất lưỡi
Thần của lưỡi (thiệt thần): Chủ yếu biểu hiện ở chất lưỡi vinh khô và linh họat.“Vinh” là vinh nhuận hồng hoạt, có sinh khí, sáng (quang thái) gọi đó là hữu thần, tuy có bệnh cũng là nhẹ. “Khô” là khô khốc cứng đờ, không chút sinh khí, mất đi quang trạch gọi là vô thần, đây là triệu chứng nặng
Thiệt sắc: Chủ bệnh về màu lưỡi có 5 loại
– Lưỡi nhạt trắng: So với lưỡi bình thường hồng nhạt thì nó nhạt hơn, thậm chí không còn màu máu, gọi là đạm bạch lưỡi. Do dương khí bất túc, chức năng sinh hóa âm huyết giảm, sức để thúc đẩy huyết dịch vận hành yếu nên huyết dịch không thể vận chuyển đầy đủ tới lưỡi nên có màu nhạt. Chủ hư chứng, hàn chứng và khí huyết lưỡng hư. Nếu nhạt trắng thấp nhuận mà lưỡi lại bệu nộn là dương hư hàn chứng. Nhạt trắng sang hoặc chất lưỡi gầy mỏng là thuộc khí huyết lưỡng hư
– Hồng thiệt (lưỡi đỏ) hơi đậm hơn lưỡi hồng nhạt, thậm chí màu đỏ tươi gọi là hồng thiệt. Do “Huyết đắc nhiệt tắc hành” nhiệt thịnh thì khí huyết sục sôi, mạch lạc lưỡi xung doanh nên màu đỏ tươi chủ nhiệt chứng. Nếu đỏ tươi mà mọc nhú gai hoặc kèm rêu vàng dầy thuộc nhiệt chứng. Nếu đỏ tươi mà ít rêu hoặc nứt hoặc đỏ nhẵn, không rêu là thuộc hư nhiệt chứng.
– Giang thiệt (đỏ thẫm): So với lưỡi đỏ càng đỏ hơn. Chủ bệnh có cả ngoại cảm và nội thương. Trong ngoại cảm bệnh nếu lưỡi đỏ thẫm hoặc có điểm đỏ, mọc gai là ôn bệnh nhiệt nhập dinh huyết. Trong nội thương tạp bệnh nếu đỏ thẫm ít rêu hoặc không rêu hoặc có nứt là âm hư hoả vượng. Ngoài ra còn có lưỡi đỏ thẫm ít rêu mà tân nhuận đa số là huyết ứ.
– Tử thiệt (lưỡi tím): Chủ bệnh có chia hàn nhiệt. Đỏ thâm tím (giang tử) mà khô ít tân thuộc nhiệt thịnh thương tân, khí huyết úng trệ. Nhạt tím hoặc xanh tím thấp nhuận là đa số do hàn ngưng huyết ứ.
– Thanh thiệt (lưỡi xanh): Lưỡi nổi màu gân xanh thiếu màu đỏ. Sách cổ hình dung như lưỡi trâu. Do âm hàn tà thắng dương khí uất mà không tuyên, huyết dịch ngưng mà ứ trệ nên lưỡi có màu xanh. Chủ hàn ngưng dương uất huyết ứ. Lưỡi xanh toàn bộ là hàn tà trực trúng can thận, dương uất không tuyên phát. Hai rìa lưỡi xanh hoặc miệng khô chỉ muốn súc miệng chứ không muốn uống nước là bên trong có huyết ứ.
Trong những màu lưỡi đã nêu trên nếu ít nhiều có chút xanh tím thì sắc lưỡi tất sẽ ám tối thì ít nhiều cũng có chút khí huyết ứ trệ.
b) Hình dạng lưỡi: Bao gồm bệu, gầy, lão nộn, trướng biến (lép kẹp) và 1 số hình dáng đặc thù.
– Lão nộn: Lão là vân lưỡi to thô, hình sắc cứng cáp (kiên liễm) già nua, bất luận sắc gì đều thuộc thực chứng. Nộn (non) vân lưỡi nhỏ mịn hình sắc phù mập nõn nà thuộc hư chứng.
– Bệu đại: So với lưỡi thường thì to hơn khi le lưỡi đầy miệng gọi là bệu đại, đa số do thủy thấp, đàm ẩm trở trệ gây ra. Nếu lưỡi nhạt trắng bệu nộn, rêu lưỡi ướt (thủy hoạt) thuộc tỳ thận dương hư, tân dịch bất hoá (sinh) dẫn đến tích thủy đình ẩm. Nếu lưỡi nhạt hồng mà bệu đại kèm rêu vàng nê đa số là tỳ vị thấp nhiệt và đàm trọc tương bác (kết hợp nhau), thấp nhiệt và đàm ẩm thượng dật (tràn) gây ra.
– Thũng (sưng) trướng: Thiệt thể sưng to đầy miệng thậm chí không thể khép miệng được, không thể rụt lại gọi là thũng trướng thiệt. Có 3 nguyên nhân gây ra. Thứ nhất là do tâm tỳ có nhiệt, huyết lạc nhiệt thịnh mà khí huyết thượng ung, lưỡi đa phần sẽ đỏ và sưng có thể kèm đau. Thứ hai là ở người nghiện rượu lại mắc ôn nhiệt bệnh, tà nhiệt kèm tửu độc thượng ung, đa số lưỡi tím mà sưng. Thứ ba là do trùng độc gây ra huyết dịch ngưng trệ, lưỡi sẽ sưng to mà tím tối, cũng có thể do tiên thiên huyết lạc vùng lưỡi ứ tắc dẫn đến lưỡi tím mà sưng to như u mạch máu lưỡi.
– Gầy mỏng (sấu bạc): Chất lưỡi gầy nhỏ mỏng. Hầu hết là do khí huyết âm dịch bất túc, không thể sung doanh thiệt thể gây ra. Do đó loại lưỡi này chủ khí huyết lưỡng hư và âm hư hoả vượng. Gầy mỏng mà sắc nhạt đa số khí huyết lưỡng hư, gầy mỏng mà màu đỏ thẫm khô táo đa số là âm hư hoả vượng, tân dịch hao thương.
– Điểm thích (mọc gai, tưa): Điểm là trên bề mặt lưỡi nổi những điểm (tinh điểm) màu đỏ hoặc trắng hoặc đen. Cuốn Thiệt giám biện chứng gọi là “Hồng tinh thiệt”. Thích là những nhú gai mọc trên bè mặt lưỡi (những hạt nhỏ mềm) to đầu và hình thành chóp nhọn, phía trên như cái gai rờ ráp tay. Điểm thích thường xuất hiện ở đầu và rìa lưỡi. Nếu trên bề mặt lưỡi có những đám (mảng), lớn nhỏ không đều, hình dạng khác nhau, màu xanh tím hoặc tím đen không nhô cao khỏi bề mặt lưỡi gọi là ứ ban.
Bất luận hồng điểm, hắc điểm hoặc bạch điểm đều do nhiệt độc tích thịnh, nhập huyết phần gây ra. Chẳng qua hồng điểm thường chủ ôn độc nhập huyết hoặc nhiệt độc thừa tân hoặc thấp nhiệt uẩn tại huyết phần. Bạch điểm do tỳ vị khí suy mà lại bị nhiệt độc công là hiện tượng báo trước của lở loét lưỡi. Hắc điểm đa số nhiệt trong huyết nặng mà khí huyết úng trệ.
Nếu thấy ứ ban thì trong ngoại cảm bệnh là nhiệt nhập dinh huyết, khí huyết úng trệ hoặc sắp phát ban. Trong nội thương tạp bệnh đa số là triệu chứng của huyết ứ.
– Lưỡi mọc gai là nhiệt tà nội kết gây ra. Bất luận nhiệt ở thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu, bất luận tại khí phần hoặc dinh phần đều thuộc tà nhiệt kháng thịnh. Gai (mang thích) mà rêu lưỡi vàng cháy là khí phần nhiệt cực (độ). Lưỡi đỏ thẫm (giang) không rêu mà mọc gai là nhiệt nhập dinh huyết, âm phần đã tổn thương. Dựa vào vị trí mọc gai còn có thể phân biện nhiệt ở tạng nào. Ví dụ: Đầu lưỡi mọc gai là tâm hoả kháng thịnh, giữa lưỡi mọc gai là vị trường nhiệt thịnh…
– Lưỡi nứt: Bề mặt lưỡi xuất hiện nhiều đường nứt (ít nhiều khác nhau, nông sâu khác nhau) các hình dạng nứt gọi là lưỡi nứt. Có thể sâu như dao cắt, có đường ngang ngắn nhỏ, có đường dọc cắt nhau và đan nan quạt… đều thuộc âm huyết hư suy không thể vinh nhuận bề mặt lưỡi. Do đó loại này chủ 3 loại bệnh chứng: Thứ nhất là nhiệt thịnh thương tâm; thứ hai là huyết hư bất nhuận; thứ ba là tỳ hư thấp xâm (nhập). Lưỡi đỏ thẫm mà nứt đa số là nhiệt thịnh thương tâm hoặc âm hư dịch kiệt; nhạt trắng mà nứt là huyết hư bất nhuận. Nếu nhạt trắng bệu nộn rìa có dấu răng lại có vết nứt thì thuộc tỳ hư thấp xâm.
– Quang hoạt: Mặt lưỡi sạch bóng như kiếng, trơn (quang hoạt) không rêu gọi là quang hoạt, cũng gọi là “Kính diện thiệt”. Chủ yếu do vị âm khô kiệt, vị khí đại tổn thương dẫn đến không thể sinh phát rêu. Rêu lưỡi như mặt kiếng, bất luận màu sắc lưỡi ra sao đều thuộc vị khí gần tuyệt. Nếu nhạt trắng mà quang hoạt là tỳ vị tổn thương khí huyết lưỡng hư đã đến cực điểm. Nếu đỏ thẫm mà quang hoạt là thủy kiệt hoả viêm thượng, vị thận âm dịch khô kiệt.
– Dấu răng: Dấu răng xuất hiện ở 2 rìa lưỡi, do lưỡi to đè lên răng mà có, thường xuất hiện cùng với lưỡi bệu. Do tỳ hư không thể vận hoá thủy thấp nên chất lưỡi bệu làm cho lưỡi có dấu răng, chủ tỳ hư và thấp thịnh. Nếu nhạt trắng mà thấp nhuận là hàn thấp úng thịnh, nhạt đỏ mà có dấu răng là do tỳ hư hoặc khí hư.
– Trùng thiệt: Mạch máu dưới lưỡi sưng giống như một cái lưỡi nhỏ. Nếu 2 hoặc 3 chỗ huyết lạc sưng to gọi là liên hoa thiệt. Chủ yếu do tâm kinh hỏa nhiệt theo kinh thượng xung mà gây ra. Do đó chủ bệnh là tâm hỏa hoặc ngoại tà dẫn dộng tâm hoả, thường gặp ở trẻ em.
– Thiệt nục: Xuất huyết trên lưỡi gọi là thiệt nục đa số do tâm kinh nhiệt thịnh bức huyết vọng hành gây ra. Nhưng cũng có thể do phế vị nhiệt thịnh hoặc can hoả, hoặc do tỳ hư bất thống huyết gây ra. Do đó chủ bệnh là tâm hoả, vị nhiệt, can hoả, tỳ hư hoặc dương phù.
– Thiệt ung: Lưỡi mọc ung nhọt đỏ sưng lan xuống hàm dưới và cứng đau, thường do tâm kinh hoả nhiệt kháng thịnh gây ra. Nếu mọc ở dưới lưỡi đa số do tỳ thận tích nhiệt hao tân chước dịch gây ra.
– Thiệt đinh: Mọc bọc máu màu tím to bằng hạt đậu gốc cứng kèm đau gọi là thiệt đinh, đa số do tâm tỳ hoả độc gây ra.
– Thiệt sang: Vết lở loét to như hạt gạo, phân tán trên dưới lưỡi rất đau. Nếu do tâm kinh nhiệt độc thượng ung mà thành thì vết loét nhô lồi cao khỏi lưỡi mà đau. Nếu do hạ tiêu âm hư hỏa thượng phù mà thành thì vết loét lõm mà không đau.
– Thiệt khuẩn: Lưỡi mọc thịt dư (ác nhục) đầu tiên nhỏ như hạt đậu, dần to ra, đầu lớn chân nhỏ giống như bông cải hoặc mào gà (kê quan) da đỏ chảy dịch rất hôi, cực đau, hạn chế ăn uống, vì hình dạng nó như cái nấm nên có tên gọi như trên. Đa số do tâm tỳ uất hỏa, khí kết hỏa viêm (thượng) mà ra. Lở loét đa số thuộc ác hầu (triệu chứng ác tính). Nếu mọc rất chậm không loét không đau thì dự hậu tương đối tốt.
– Lạc mạch dưới lưỡi: Uốn cong lưỡi lên, 2 bên gân lưỡi tương đương huyệt kim tân ngọc dịch, có thể nhìn thấy 2 đường lạc mạch lờ mờ màu xanh tím. Ở Người bình thường lạc mạch hơi to thô, không có phân nhánh hoặc ứ điểm. Nếu dưới lưỡi có rất nhiều những bao nhỏ xanh tím hoặc tím đen, đa số là can thất sơ tiết ứ huyết trở lạc. Nếu lạc mạch xanh tím mà to căng (thô trương) ý nghĩa cũng giống như lưỡi xanh tím hoặc đàm nhiệt nội trở hoặc hàn ngưng huyết ứ. Tóm lại lạc mạch dưới lưỡi xanh tím căng phồng là khí trệ huyết ứ gây ra.
c) Hình thái lưỡi
– Cường ngạnh (cứng): Lưỡi cứng đỏ, vận động không linh hoạt gây nói khó, gọi là thiệt cường, có 2 nguyên nhân. Thứ nhất là ngoại cảm nhiệt bệnh, nhiệt nhập tâm bào, nhiễu loạn tâm thần làm cho thiệt vô chủ tải (nghĩa là lưỡi không có chủ chỉ huy). Đồng thời do sốt cao thương tân dịch, làm cho cân mạch thất dưỡng nên lưỡi mất đi sự linh hoạt mềm mại. Thứ hai là trong nội thương tạp bệnh do can phong kèm đàm trở tắc lạc đạo liêm tuyền (huyệt), hoặc can dương thượng kháng, phong hoả thượng công, cân mạch mất nhu dưỡng gây ra. Do đó chủ bệnh là nhiệt nhập tâm bào, sốt cao thương tân, đàm trọc nội trở, trúng phong hoặc tiền triệu trúng phong. Do nhiệt thượng chất lưỡi đa số là thẫm đỏ. Do đàm trọc lưỡi bệu rêu dầy dơ, thuộc trúng phong lưỡi đa số nhạt hồng hoặc xanh tím.
– Nuy nhuyễn: Chất lưỡi nhuyễn nhược không sức le ra, nuy phế (liệt teo, tàn phế) không linh hoạt, đa số do khí huyết hư, âm dịch hư tổn, cân mạch thất dưỡng gây ra. Do đó chủ bệnh gồm khí huyết đều hư, âm hư cực, nhiệt chước tân dịch. Bệnh lâu lưỡi nhạt mà nuy (teo liệt) đa phần là khí huyết đều hư. Bệnh mới lưỡi khô đỏ mà nuy là nhiệt thương chước tân. Bệnh lâ lưỡi đỏ thẫm mà nuy là âm hư cực độ.
– Lưỡi run (chiến động): lưỡi run không thể tự chủ, nguyên nhân không ngoài hư tổn và động phong. Do khí huyết lưỡng hư, vong dương thương tân làm cho cân mạch thất ôn dưỡng và nhu nhuận nên lưỡi run, hoặc do nhiệt cực tân thương mà động phong. Bệnh lâu lưỡi run nhẹ là khí huyết lưỡng hư hoặc dương hư. Ngoại cảm nhiệt bệnh cũng do nhiệt cực sinh phong hoặc ngộ độc rượu.
– Lưỡi lệch: Lưỡi le ra lệch về một bên, đa số do phong tà trúng lạc hoặc phong đàm trở lạc gây ra.
– Thổ lộng: Lưỡi le ra ngoài gọi là thổ thiệt, lưỡi hơi le ra lập tức thụt lại hoặc cứ liếm trên dưới phải trái (trong miệng) không nghỉ gọi là lộng thiệt, cả 2 đều do tâm tỳ kinh nhiệt. Tâm nhiệt tắc động phong, tỳ nhiệt tắc tân hao dẫn đến cân mạch co cứng thiệt thể (lưỡi) gặp ở dịch độc công tâm hoặc chính khí đã tuyệt thường kèm lưỡi tím. Lộng thiệt đa số gặp ở triệu chứng báo trước của động phong hoặc trẻ em trí năng phát triển chậm.
– Lưỡi ngắn: Không thể le ra, bất luận do hư hoặc thực đều thuộc chứng hầu nghiêm trọng. Có 4 nguyên nhân gây lưỡi ngắn. Thứ nhất, do hàn ngưng cân mạch nên lưỡi đa số là nhạt trắng hoặc xanh tím mà thấp nhuận. Thứ hai, do đàm trọc nội trở, lưỡi thường bệu mà rêu dính nê. Thứ ba, do nhiệt thịnh thương tân động phong lưỡi thường đỏ thẫm mà khô. Cuối cùng, do khí huyết đều hư nên lưỡi nhạt trắng bệu nộn.
– Thiệt túng: Lưỡi le dài ra nhưng rụt lại rất khó khăn hoặc có thể không thụt vào được gọi là thiệt túng (túng = phóng túng). Đa số do do các cơ lưỡi giãn gây ra. Nếu sắc lưỡi đỏ thẫm, thể lưỡi trướng mãn, hình lưỡi cứng khô là thực nhiệt nội cứ (chiếm cứ), đàm hỏa nhiễu tâm. Nếu thể lưỡi to mà tê mất cảm giác là chứng khí hư. Phàm le không thể rụt lại được mà lưỡi khô, không rêu đa số là triệu chứng nguy kịch; le mà không rụt được, lưỡi tân nhuận là triệu chứng nhẹ.
– Lưỡi tê (ma tý): Lưỡi có cảm giác tê mà vận động kém linh hoạt, đều do dinh huyết không thể thượng vinh đến lưỡi gây ra. Chủ bệnh huyết hư can phong nội động hoặc phong khí kẹp đàm.