Như ở phần 1 đã giới thiệu. Trong phần 2 này chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu các phần còn lại về Vọng chẩn trong y học cổ truyền. Gồm vọng bì phu, vọng lạc mạch, vọng chất bài tiết, và vọng lưỡi.
5. Vọng bì phu
Da bao phủ toàn thân ví như hàng rào bảo vệ bên ngoài, là nơi vệ khí vận hành, trong hợp với phế tạng. Khi cảm thụ ngoại tà, da là nơi đầu tiên tiếp nhận, bệnh biến của khí huyết tạng phủ cũng có thể thông qua kinh lạc để phản ánh ở da (cơ biểu). Do vậy vọng sắc trạch hình thái khác thường của bì phu có thể tìm hiểu tính chất của tà khí và sự thịnh suy của khí huyết tân dịch, đóan biết biến hóa của nội tạng, phán đóan dự hậu bệnh.
Vọng sắc trạch bì phu cơ bản giống vọng ngũ sắc chẩn pháp vùng mặt. Vọng hình thái da chủ yếu gồm nhuận khô, thũng trướng, ban chẩn, nhọt đinh…
5.1 Sắc trạch
Bì phu sắc trạch cũng gồm ngũ sắc giống ngũ sắc chẩn pháp. Sắc thường gặp và có ý nghĩa đặc thù trong chẩn đoán là đỏ, vàng và đen.
Da đỏ
Da biến màu đỏ như thoa một lớp đan, bệnh danh là “Đan độc”, có thể phát ở toàn thân mọi chỗ, sơ khởi chỉ là một mảng đỏ, thường di chuyển vô định hoặc phù sưng đau thì gọi là “Xích đan đơn độc”, đa số do đàm hoả thiên kháng phong nhiệt thừa cơ tập kích mà thành, ở trẻ nhi đa số liên quan đến thai độc. Nếu phát cục bộ thì gọi là “Lưu hoả” và do vị trí khác nhau nên nguyên nhân và bệnh danh cũng khác nhau, ví dụ chi dưới đỏ sưng đa số là do thận hoả độc uẩn thấp nhiệt hạ chú.
Da vàng
Da mắt móng tay đều vàng vượt quá giới hạn bình thường (người da vàng) là hoàng đản, phân âm hoàng và dương hoàng.
– Dương hoàng: Màu vàng tươi như vỏ quýt thường kèm mồ hôi, nước tiểu cũng vàng thẫm như nước hoàng bá, miệng khát mà rêu vàng nê thường do tỳ vị hoặc can đởm thấp nhiệt.
– Âm hoàng: Vàng tối như ám khói thường kèm úy hàn, miệng lạt mà rêu vàng nê đa số do hàn thấp khốn tỳ vị.
Da đen
Da vàng hiện lên màu đen (hoàng trung hiển hắc), đen mà tối âm gọi là “Hắc đản” cũng là một dạng hoàng đản, đa số từ hoàng đản chuyển biến thành, do nó đa số do sắc dục (quá độ) thương thận mà có nên có tên là “Nữ lao đản”.
5.2 Nhuận khô
– Ở người da nhuận trạch là thái âm khí sung thịnh, da khô còng sơ sác là thái âm khí suy. Da nhăn lông rụng là phế tổn. Da khô lông tóc gãy là phế tuyệt.
– Da khô như vẩy cá gọi là cơ phu giác thác. Nếu phát hiện hốc mắt đen tối là nội có can huyết (khô huyết). Nếu kèm đau dữ dội là sinh ung nùng.
5.3 Thũng trướng
Thũng khác trướng. Mặt, đầu, ngực, bụng, lưng, tứ chi phù thũng gọi là thũng, chỉ có bụng phình cổ trướng gọi là cổ trướng. Thũng trướng mà thấy khuyết bồn bằng phẳng hoặc lòng bàn chân phẳng hoặc lưng phẳng hoặc rốn lồi hoặc môi đen… là khó chữa.
5.4 Ban chẩn
Là bệnh da liễu và cũng là một triệu chứng trong quá trình bệnh. Ban màu đỏ thành mảng phẳng rờ không cảm giác. Do bệnh cơ khác nhau nên có tên âm ban và dương ban. Chẩn hình dáng như hạt kê màu đỏ mà nhô cao, rờ cảm giác ráp và do nguyên nhân khác nhau nên có tên ma chẩn, phong chẩn, ẩn chẩn, cụ thể như sau:
a) Ban
Dương ban: tục gọi là phát ban, là một triệu chứng biểu hiện ôn bệnh tà nhập dinh phần, huyết phần, giai đoạn nào cũng có thể phát chẩn. Đa số do nhiệt uất phế vị, sung tố (tác động) nội ngoại, dinh huyết tích nhiệt thấu ra cơ biểu. Từ cơ nhục mà thấu ra là ban, từ huyết lạc thấu ra là chẩn.
Ở điểm mọc ban chẩn thưa thớt, màu đỏ, sốt, xuất hiện ở trước ngực bụng, sau đó lan ra tứ chi, đồng thời sốt lui, tinh thần tỉnh táo lại. Đây là báo trước hiện tượng tà khí chuẩn bị thấu tiết là chứng nhẹ, chứng thuận. Nếu địa điểm mọc dầy đặc màu đỏ hoặc tím đen đồng thời xuất hiện ở tứ chi trước, sau đó mới lan ngực bụng và sốt không hạ, thần trí hôn muội là chính bất thắng tà, tà khí nội hãm, là chứng nặng, chứng nghịch. Ban chẩn sắc đen mà ám trệ khô là triệu chứng tương đối nặng.
Âm ban: Đa phần do nội thương khí huyết khuy hư gây ra. Đặc điểm ban to nhỏ không giống nhau, to thì bằng đồng tiền, nhỏ thì chỉ như một điểm, thưa thớt ẩn hiện. Màu đa số hồng nhạt hoặc tím tối: chẩn mọc vô định và khi xuất cũng không có gì khác thường nhưng đầu mặt và phần lưng không thấy, thần trí đa số tỉnh táo, đồng thời kèm mạch tế nhược, tay chân lạnh… hư chứng.
b) Chẩn
Ma chẩn (sởi): Là bệnh truyền nhiễm, thường gặp ở trẻ em, trước khi phát ban thường ho, nhảy mũi, chảy nước mũi, nước mắt, tai lạnh, sau tai xuất hiện một đường chỉ đỏ. Sốt 3 – 4 ngày thì chẩn xuất hiện ở da từ vùng đầu xuống ngực bụng tứ chi, màu đỏ tươi, to như hột mè, rờ nhám tay, sau đó mọc dày dần.
– Thuận chứng: Sốt hơi có mồ hôi, chẩn ra hết, màu đỏ nhuận lần lượt lặn (cái nào ra trước thì lặn trước), sốt hạ.
– Nghịch chứng: Sốt rất cao không mồ hôi, chẩn điểm không thể thấu phát, màu đỏ nhạt mà tối (do phong hàn ngoại bế) hoặc đỏ thẫm tím, ám trệ (do nhiệt độc nội thịnh) hoặc trắng mà không đỏ (do chính khí hư hãm). Nếu nốt chẩn đột nhiên lặn hết, thần trí hôn mê, suyễn tức là độc chẩn nội hãm.
Phong chẩn: Là một bệnh thường gặp do phong nhiệt thời tà gây ra, hình dạng chẩn nhỏ thưa hơi nhô cao, màu hồng nhạt, ngứa gãi liên tục, lúc phát lúc ngưng, hơi sốt hoặc không sốt…
Ẩn chẩn: Do dinh huyết hư mà phong tà lại trúng kinh lạc mà phát ở ngoài da. Loại chẩn này lúc ẩn lúc hiện nên gọi là “Ẩn chẩn”. Ngứa và gãi cũng thành một dề, cao hơn da, màu đỏ nhạt lẫn trắng.
5.5 Rôm sảy và bóng nước
Rôm
Gặp ở người mắc thử thấp hoặc thấp ôn, da thường xuất hiện những bóng nước nhỏ trắng trong gọi là rôm, đa số do thấp uất, hạn xuất không triệt để mà thành. Rôm xuất hiện có nghĩa là uất thấp có cơ hội ngoại tiết. Rôm màu trắng, điểm nhỏ hình dáng như hạt kê, trong sáng tư nhuận như hạt thủy tinh là thuận chứng. Nếu màu tối khô chứng tỏ tân dịch khô kiệt, là nghịch chứng. Thấp ôn bệnh, thấp uẩn nhiệt phục nhất thời không thể thâu tiết nên rôm thường hay tái phát.
Sảy
Da mọc từng đám dày đặc, những hạt nhỏ đỏ có đầu, ngứa và đau. Sau khi khô bong da từng đám như vẩy cá, thường phát trong mùa hè, trẻ em và người béo mập thường gặp. Do thấp nhiệt tà uất tại cơ phu gây ra.
Nhiệt khí sang
Là những bóng nước nhỏ hoặc bằng đầu kim hoặc bằng hạt đậu xanh, mọc từng đám (1 đám, 2 đám hoặc 3 đám) cảm giác ngứa và nóng rát. Vị trí thường xuất hiện là mép quanh môi, mi mắt, bộ phận sinh dục ngoài hoặc da qui đầu… Thường gặp ở người sốt cao, người bình thường cũng có thể xuất hiện đa số do phong nhiệt độc trở trệ phế vị 2 kinh, thấp nhiệt hun chưng bì phu mà ra.
Triền yêu (quấn quanh lưng) hoả đơn (zona)
Thường xuất hiện ở ngực bụng và sườn. Mới đầu vùng da đó nóng rát, đau châm chích (thích thống), sau đó xuất hiện những bóng nước thành từng đám, to bằng hạt đậu xanh hoặc hạt đậu nành, da xung quanh ửng đỏ. Đa số do can hoả vọng động dẫn đến thấp nhiệt hun chưng bì phu mà thành.
Thấp chẩn
Còn gọi là “Mạn dâm sang” có nhiều biểu hiện. Thời kỳ đầu đa số là hồng ban, sau đó nhanh chóng chuyển qua sưng, khưu chẩn (sưng ngứa) hoặc bóng nước tiếp sau là vỡ các bóng nước và lở loét, sau đó khô có mày và lưu lại sẹo rất lâu mới hết. Chứng này đa số do thấp nhiệt lưu ở bì phu hoặc do bệnh lâu hao huyết dẫn đến huyết hư sinh phong hóa táo dẫn đến cơ phu thất dưỡng mà có.
5.6 Ung, Thư, Đinh, Tiết: Đều thuộc bệnh ngoại khoa
Ung
Sưng to, đỏ, chân chắc kèm cảm giác nóng bỏng và đau là ung, thuộc dương chứng. Đa số do thấp nhiệt hỏa độc nội uẩn, khí huyết ứ trệ, nhiệt thịnh nhục hủ mà ra.
Thư
Sưng tròn không đầu (miệng) da không đổi màu, không nóng, đau ít là thư, thuộc âm chứng. Đa số do khí huyết hư mà hàn đàm ngưng trệ hoặc ngũ tạng phong độc tích nhiệt công phá bì phu nội hãm cân cốt mà thành.
Đinh
Sơ khởi nhỏ như hạt gạo, chân chắc và sâu, tê hoặc ngứa, đầu trắng mà đau là đinh. Đinh độc so với sang tiết thường nặng hơn. Nếu chỗ đau xuất hiện một đường chỉ đỏ lan dần từ ngoài vào gọi là “Hồng tơ đinh” hoặc “Đinh độc tẩu hoàng” là do hỏa nhiệt độc tà đi xuyên vào kinh mạch, nội công nội hãm (thế bệnh). Đinh độc đa số do bạo khí độc tà xâm tập bì phu truyền vào kinh lạc gây ra âm dương (khí huyết) 2 khí không thể tuyên thông, khí huyết ngưng trệ mà ra.
Tiết
Mọc ở nông, nhỏ mà tròn, sưng nóng đỏ đau không rõ lắm, dễ hoá mủ, dễ lành, đa số do thử thấp trở ở cơ phu, hoặc tạng phủ uẩn tích thấp nhiệt, hướng ra ngoài bì phu làm cho khí huyết úng trệ gây ra.
6. Vọng lạc mạch
6.1 Vọng ngón trỏ lạc mạch trẻ em
Ngày xưa gọi là vọng chỉ văn. Để tránh nhầm lẫn thói quen gọi chỉ văn hiện nay dựa vào thực chất khái niệm sửa lại là vọng lạc mạch ở trẻ em.
Lạc mạch ngón trỏ chẩn pháp khởi thủy được phát hiện trong “Thủy kính đồ quyết” của Vương Siêu đời Đường. Phương pháp này được phát triển từ phương pháp chẩn lạc mạch trong “Linh khu”. Phương pháp có ý nghĩa đối với trẻ em dưới 3 tuổi. Lạc mạch phía trong ngón trỏ cũng là nhánh xuất phát từ thủ thái âm kinh (Thủ thái âm phế kinh xuất phát từ ngực đến tay qua Ngư tế ra ngón cái. Phân nhánh từ cổ tay đi thẳng ra ngón trỏ). Do đó chẩn lạc mạch chẩn Ngư tế có chung một nguồn gốc. Do mạch bộ (nơi bắt mạch) ở trẻ em ngắn và thường hay khóc quậy nên ảnh hưởng rất lớn đến tính chuẩn xác của bắt mạch, vã lại da trẻ em rất mỏng, lạc mạch rất dễ bộc lộ và ngón trỏ lại càng rõ, nên vọng lạc mạch so với mạch chẩn càng tiện lợi.
a) Tam quan bộ vị
Ngón trỏ lạc mạch phần hiển hiện có thể phân làm phong, khí, mệnh, tam quan. Đốt thứ nhất là phong quan tức là từ khớp bàn ngón trỏ (nếp nhăn) hướng lên đến đường chỉ ngang đốt hai. Đốt thứ 2 là khí quan từ đường chỉ đốt 1 – 2 đến đường chỉ ngang đốt 2 – 3. Đốt thứ 3 là mệnh quan, đường chỉ thứ 3 lên đến đầu ngón trỏ.
b) Thủ pháp chẩn mạch
Bồng em bé ra nơi sáng thầy thuốc dùng tay trái giữ ngón trỏ em bé, dùng ngón cái tay phải (thầy thuốc) hơi dùng sức miết từ mệnh quan xuống khí quan và phong quan, miết vài lần, lạc mạch càng miết càng lộ rõ dễ quan sát.
c) Tam quan biện nặng nhẹ
Phàm khi cơ biểu cảm thụ ngoại tà thường từ nông vào sâu, đầu tiên nhập lạc tiếp đó (khách) nhập kinh vào sâu chút nữa là tạng phủ. Hình sắc và bộ vị xuất hiện của mạch cũng biến đổi theo chiều tà khí xâm nhập lạc mạch, hiện ở phong quan là tà mới nhập lạc, bệnh còn nông nhẹ, lạc mạch từ phong quan thấu lên khí quan, màu hơi sẫm là tà khí nhập kinh, chủ về tà thâm nhập mà bệnh nặng. Nếu lạc mạch hiện rõ ở mệnh quan là tà nhập ở tạng phủ, có khả năng uy hiếp tính mạng. Nếu lạc mạch đi thẳng tới ngón trỏ gọi là “Thấu quan xạ giáp” bệnh tình hết sức hiểm nghèo, dự hậu không tốt. Đối với nội thương tạp bệnh phương pháp cũng tương tự về mức độ nặng nhẹ.
d) Hình sắc chủ bệnh
Hình sắc bình thường: Bình thường sắc trạch hồng nhạt pha chút vàng ẩn ẩn trong phạm vi phong quan. Đa số phù lộ (hiện rõ), hình hơi chéo, một nhánh không to không nhỏ. Nhưng to nhỏ có liên quan tới thời tiết khí hậu, nóng thì to dài ra, lạnh thì co nhỏ ngắn, một tuổi đa số dài, theo tuổi nó ngắn lại.
Phù trầm: Lạc mạch hiện rõ chủ bệnh tại biểu đa số gặp trong ngoại cảm biểu chứng, lạc mạch trầm trệ (hiện không rõ) chủ bệnh tại lý, đa số là ngoại cảm hoặc nội thương lý chứng. Quan sát thống kê trên lâm sàng thấy ở trẻ em khỏe cũng có thiên phù hoặc thiên trầm.
Sâu cạn (thâm thiển): Sắc thâm đậm: bệnh nặng, sắc cạn bệnh nhẹ. Sắc nhạt chủ hư, sắc trệ là thực. Ở người âm dương bạo thoát do dương khí không đạt đến tứ chi mạt đoạn nên không thể thấy được đậm hoặc nhạt. Nếu trong bế chứng tà hãm tâm bào dẫn đến khí huyết uất bế thì lạc mạch màu thâm mà trệ.
Sắc trạch: Tím đỏ chủ nội nhiệt, đỏ tươi chủ ngoại cảm biểu chứng. Xanh chủ phong cũng có thể là chủ chứng đau. Sắc nhạt là hư, sắc tím đen chủ huyết lạc bế uất: bệnh nguy hiểm.
Hình trạng: Lạc mạch ngày một dài ra là bệnh đang diễn tiến nặng lên, ngắn lại là bệnh lui nhẹ. Nhưng cũng có trường hợp tân thương dịch kiệt, khí âm lưỡng hư vì do khí huyết bất sung mà lạc mạch sẽ ngắn lại trong phạm vi (dưới) phong quan ở người âm hư dương phù đa số thấy lạc mạch dài ra.
Lạc mạch to ra đa số thuộc nhiệt chứng thực chứng, nhỏ thuộc hàn chứng hư chứng. Một nhánh hơi xéo là bệnh nhẹ: cong uốn khúc, nhiều nhánh, tròn là bệnh nặng thực chứng.
6.2 Xem lạc mạch ngư tế
Ngư tế là khu vực cơ phát triển, ngư tế thuộc Thủ thái âm phế kinh. Nguyên lý xem ngư tế lạc mạch và thiết chẩn “Độc thủ thốn khẩu” giống nhau. Ngoài ra khí huyết trong lạc mạch do tỳ vị hóa ra, vị khí thượng đến thủ thái âm cho nên chẩn ngư lạc cũng là xem vị khí.
“Linh khu – Kinh mạch” nói: “Phàm chẩn mạch lạc, mạch sắc xanh tắc hàn mà thống, xích tắc hữu nhiệt”. Bởi vì hàn tắc khí huyết ngưng trệ, ngưng trệ thì sẽ xanh đen, nhiệt tắc khí huyết nê trạch (lưu thông) tắc hoàng xích. Bởi vậy vị trung hữu hàn, hàn đạt (đến) ngư tế nên lạc mạch ngư tế đa phần xanh. Nếu xanh mà ngắn đỏ là thiểu khí thuộc hư chứng. Vị trung nhiệt đạt ngư tế nên lạc mạch đỏ. “Tứ chẩn quyết vi” có nói: “Đa xích đa nhiệt, đa thanh đa thống, đa hắc đa tý, xích hắc thanh sắc, đa kiến hàn nhiệt”
6.3 Xem hình sắc móng
Móng (tay chân) là phần dư của cân và lại là ngoại hầu (biểu hiện bên ngoài) của can đởm. Can tàng huyết mà chủ sơ tiết do đó vọng móng vuốt (trảo giáp) có thể đoán biết sự thịnh suy của khí huyết và tình hình tuần hành của nnó.
Móng bình thường hồng nhuận, cứng hình vòng cung, quang trạch, đè vào và buông ra thì lập tức phục hồi huyết sắc. Đây nói lên khí huyết vận hành thông suốt.
Nếu mà móng thâm hồng là khí phần hữu nhiệt. Mùa vàng là hoàng đản, đa số do thấp nhiệt hun chưng mà có. Sắc nhạt là huyết hư, hoặc do khí huyết lưỡng hư. Sắc nhợt nhạt là hư hàn, đa số là tỳ vị dương hư, sắc tím đen là huyết ứ hoặc huyết ngưng tử chứng. Sắc xanh là hàn chứng.
Ấn móng tay biến màu trắng, buông ra sắc huyết phục hồi chậm là huyết ứ hoặc khí trệ và nếu không hồng lại là huyết hư. Móng dẹt hoặc lõm gọi là “Phản giáp” đa số là can huyết bất túc. Móng khô là tý bệnh cốt thống. Màu nhợt nhạt mà khô là can nhiệt.
7. Xem chất bài tiết
Gồm chất nôn, đàm, dãi, nước mũi, thóa (nước bọt), nhị tiện, kinh đới, nước mắt, mồ hôi và mủ.
Thông qua quan sát hình, sắc, chất, lượng của vật bài tiết có thể tìm hiểu bệnh các tạng phủ hữu quan và tính chất của tà khí.
7.1 Đàm, dãi, nước mũi, nước miến
Đàm là chất do phế và khí đạo bài xuất, trọc (dơ) mà đặc là đàm, loãng trong là ẩm đều thuộc hữu hình chi đàm. Diên nước dãi trong loãng, nước bọt là niêm dịch kèm bọt.
Đàm và nước mũi
– Đàm vàng dính đặc thành cục thuộc nhiệt đàm do nhiệt tà nung đốt (áo) tân dịch mà thành.
– Đàm trong loãng hoặc kèm đốm xám đen thuộc hàn đàm do hàn thương dương khí, khí bất hóa tân, thấp tụ thành đàm mà ra.
– Đàm trong loãng nhiều bọt đa số là phong đàm do can phong kèm đàm thượng nhiễu thanh không thường thì kèm theo mặt xanh chóng mặt, tức ngực hoặc suyễn cấp…
– Đàm trắng trơn (hoạt) mà lượng nhiều dễ khạc là thấp đàm do tỳ hư bất vận thủy thấp bất hóa tụ mà thành đàm nên lượng nhiều mà trơn dễ khạc.
– Đàm ít mà dính khó khạc thuộc táo đàm nặng hơn thì ho khan không đàm hoặc có ít, đàm bọt cũng thuộc phế táo do thu táo thương phế.
– Đàm lẫn máu màu đỏ tươi là nhiệt thương phế lạc. Lâm sàng thường gặp ở người âm hư hỏa vượng. Nếu ho khạc đàm máu mủ tanh hôi hoặc nôn đàm mủ như cháo là phế ung. Do nhiệt tà phạm phế, nhiệt độc lưu lại lâu (cửu súc) nhục hủ mà thành mủ (nùng).
– Ho khạc nước dãi bọt (diên) há miệng thở là phế nuy.
– Mũi chảy nước đục là ngoại cảm phong nhiệt, nước mũi trong là ngoại cảm phong hàn. Nếu nước mũi đục chảy hoài không dứt là tỵ uyên (viêm xoang).
Diên và thoá (dài và nước bọt)
– Miệng chảy nước dãi trong là tỳ lạnh, khạc nhổ nước dãi đặc là tỳ nhiệt. Miệng nhiều nước dãi thường là tỳ vị hư hàn. Nước dãi dính (trong miệng) là tỳ vị thấp nhiệt.
– Nước dãi chảy dài theo khóe miệng mà không hay đặc biệt lúc ngủ rất nhiều đa số thuộc tỳ khí hư không thể thu nhiếp hoặc trẻ em vị nhiệt trùng tích cũng thường chảy nước dãi nhiều.
– Nhổ ra nước bọt nhiều là vị trung hữu hàn hoặc tích lãnh hoặc thấp trệ hoặc túc thực.
– Nước bọt nhiều cũng có thể gặp trong thận hàn, thận hư chứng.
7.2 Vật nôn
Nôn là do vị khí thượng nghịch mà có
– Nôn trong loãng không mùi vị là hàn ẩu vị dương bất túc khó làm chín thủy cốc và thủy ẩm nội đình làm cho vị thất hòa giáng. Đa số do tỳ thận dương hư hoặc hàn tà phạm vi gây ra.
– Nôn ra đồ ăn thối chua hôi (xú trọc) đa số là nhiệt ẩn do tà nhiệt phạm vị hoặc can kinh uất hỏa dẫn đến vị nhiệt thượng nghịch.
– Nôn chua kèm thức ăn không tiêu đa số là thực tích do bạo ẩm bạo thực tổn thương tỳ vị, túc thực không tiêu hóa để lâu sẽ hôi thối (hư bại) dẫn đến vị khí bất giáng nên nôn ra đồ ăn chua không tiêu. Nếu nôn ra đồ ăn mà không vị chua hôi đa số là khí trệ thường là lúc phát lúc nghỉ đây là do can uất phạm vị gây ra.
– Nôn nước trong đàm dãi kèm miệng khô không thích uống nước, rêu nê, ngực tức đa số thuộc đàm ẩm. Tỳ thất kiện vận thì ẩm sẽ ngưng tụ trong vị và đàm ẩm theo vị khí thượng nghịch mà nôn ra
– Nôn ra nước vàng xanh vị đắng là can đởm thấp nhiệt hoặc uất nhiệt, can khí hằng nghịch phạm vi, nhiệt bức đởm trấp thương dật (tràn ra), vị thất hoà giáng mà ra.
– Nôn ra máu tươi hoặc máu cục kèm lẫn đồ ăn đa số thuộc vị có tích nhiệt hoặc do can hỏa phạm vị hoặc lúc thường có ứ huyết huyết bất quy kinh (mạch). Nếu nôn máu kèm mủ là vị ung.