4.6 Xem răng lợi
Xỉ (răng) vi cốt chi dư, mà thận lại chủ cốt nên “Tạp bệnh nguyên lưu tê chúc” có nói “Xỉ giả thận chi tiêu, cốt chi bản dã” (răng là biểu hiện của thận là căn bản của cốt), thủ túc dương minh kinh mạch lạc tại răng lợi, do đó răng lợi có quan hệ với thận vị đại trường. Xem răng lợi có thể đóan biết bệnh biến của thận và trường vị đặc biệt đối với bệnh chứng ôn bệnh càng có ý nghĩa quan trọng. Trường phái ôn bệnh học quan sát sự nhuận táo của lợi có thể biết vị tân thận dịnh tồn vong.
Quan sát răng lợi là quan sát chủ yếu sự nhuận khô, sắc trạch và hình thái
Vọng xỉ (răng)
– Răng sạch trắng và nhuận trạch nghĩa là biểu hiện tân dịch nội sung, thận khí sung túc, tuy có bệnh nhưng tân dịch chưa thương tổn. Răng vàng mà khô là nhiệt thịnh thương tân gặp ở giai đọan cao điểm của nhiệt bệnh, nếu quang (sáng) khô như đá là dương minh nhiệt thịnh, nếu khô như xương là thận âm khô kiệt. Tóm lại răng khô là tinh khí nội kiệt quệ.
– Cắn răng nghiến lợi là thấp nhiệt động phong sắp diễn tiến thành kinh bệnh (động kinh), cắn răng mà không nghiến lợi là vị nhiệt, nếu cắn răng mà mạch chứng hư là vị khí bất túc mà cân mạch thất dưỡng, nếu răng cắn chặt khó há là phong đàm trở lạc hoặc nhiệt thịnh động phong. Lúc ngủ nghiến răng là phong nhiệt hoặc tích trệ.
– Răng lung lay thưa thớt chân răng lộ ra đa số là thận hư hoặc hư hỏa thượng viêm. Trẻ em răng rụng lâu mọc là thận khí khuy. Bệnh nặng mà răng vàng khô, rụng là cốt tuyệt. Nướu răng lở, răng rụng là “Xỉ cam” là triệu chứng nặng…
– Lợi trắng nhạt đa số do huyết hư huyết thiểu không lên nuôi lạc mạch gây ra. Lợi teo mà sắc nhạt là vị âm bất túc hoặc thận khí hư. Lợi sưng đỏ là vị nhiệt thượng viêm.
– Lợi và răng có một đường màu lam là nhiễm độc chì.
– Xuất huyết chân răng mà sưng đỏ là vị nhiệt thương tổn lạc, nếu không đau đỏ mà hơi sưng là đa số do khí suy hoặc thận hỏa thương lạc.
4.7 Vọng họng hầu
Hầu họng là cửa ngõ của phế vị, là nơi nhiều kinh lạc đi qua nên có rất nhiều tạng phủ bệnh điều co biểu hiện tại đây đặc biệt là phế vị và thận.
Hầu họng bình thường có màu hồng nhạt mà nhuận, không sưng không đau, hô hấp, phát âm, nuốt đều thông suốt. Bệnh hầu họng gồm rất nhiều triệu chứng sẽ nói rõ hơn trong chuyên khoa tai mũi họng, ở đây chỉ giới thiệu những chẩn pháp thông thường nhất
Biện họng hầu sưng lở
– Họng sưng đỏ mà đau, thậm chí lở loét hoặc có mủ vàng trắng là “Nhũ nga” đa số do phế vị nhiệt độc úng thịnh gây ra. Nếu sắc đỏ mà kiều nộn không sưng đau nhiều đa số là thận thuỷ khuy thiểu, âm hư hoả vượng gây ra
– Hơi sưng màu đỏ nhạt đa số do đàm thấp ngưng trệ. Nếu sắc hồng nhạt mà không sưng hơi đau hat tái phát hoặc họng ngứa ho khan đa số là khí âm lưỡng hư, hư hoả thượng phù
– Hầu họng lở loét đỏ sưng xung quanh đa số là thực chứng. Nếu vùng lở phân tán nông là phế vị nhiệt còn nhẹ, nếu thành mảng là hoả độc úng thịnh. Lở lâu ngày, xung quanh màu hồng nhạt đa số thuộc hư chứng, vết lở phân tán nông cạn là hư hoả thượng viêm, thành mảng là khí huyết bất túc, thận âm hư tổn, tà độc nội hãm
Phân biện giả mạc
Khu vực lở được phủ một lớp màng trắng mỏng gọi là giả mạc
– Lớp giả mạc lỏng lẻo dày, dễ cạo tróc, sau khi tróc sẽ tự mọc lại là thuộc vị nhiệt
– Giả mạc chắc khó cạo, nếu mạnh tay sẽ chảy máu, hoặc sau khi cạo không tự mọc lại đây là triệu chứng của bệnh nặng bạch hầu, do phế vị nhiệt độc thương âm gây ra
Biện dịch mủ
– Vùng hầu họng sưng đỏ nhô cao, có cảm giác tê giật nhẹ, ấn mềm lõm là đã thành mủ, ấn cứng là chưa hoá mủ
– Dịch mủ vàng đặc thuộc thực chứng, loãng hoặc uế trọc (dơ đục) là chính khí hư không thắng tà
– Dịch mủ dễ thoát, bề mặt vết loét lành nhanh thuộc cơ thể mạnh khoẻ, chính khí đầy đủ. Nếu dịch mủ khó sạch, vết loét chậm lành là thể nhược chính hư
4.8 Vọng hạ khiếu
Hạ khiếu là chỉ tiền âm và hậu âm.
Thận khai khiếu ở nhị âm mà tư nhị tiện. Tinh khiếu thông với thận, âm hộ thông với bào cung và cũng có quan hệ với thận, niệu khiếu thông bàng quang. Tiền âm là nơi tụ tập của tông can lại là nơi hợp của thái âm và dương minh. Kinh mạch can đởm đi qua (liên lạc) với âm khí (bộ phận sinh dục ngoài). Do đó có thể thấy tiền âm có quan hệ mật thiết với can đởm thận bàng quang, thái âm, thiếu âm, quyết âm, thiếu dương, dương minh. Do vậy vọng tiền âm có thể chẩn đóan bệnh biến các tạng phủ kinh lạc. Hậu âm, giang môn thông trực tràng, đại tràng nên có quan hệ với phế và tỳ vị. Ngoài ra tiền âm có quan hệ với nhâm đốc mạch.
Tiền âm
– Âm nang sưng không ngứa không đau gọi là âm thũng, đa số do ngồi bệt dưới đất cảm phong thấp, hoặc do thuỷ thũng nặng. Âm nang sưng căng bóng trong gọi là “Thủy sán”. Sưng to mà không bóng trong (thấu minh = trong) không cứng đa số là sa ruột. Cao hoàn (tinh hoàn) sưng đau cũng thuộc “Sán chứng”. Sán chứng có bảy loại là khí, huyết, cân, đồi, hàn, thủy, hồ đều thuộc chứng cao hoàn hoặc sưng hoặc đau, đa số là can khí uất, nhiễm hàn thấp nhiệt, khí suy hoặc do đứng lâu đi nhiều gây ra.
– Âm kinh (dương vật), âm nang hoặc âm hộ co vào bụng gọi là “Âm túc” đa số do hàn ngưng kinh lạc gây ra nhưng cũng có thể do ngoại cảm nhiệt bệnh nhiệt nhập quyết âm, âm dinh đại tổn thương dẫn đến tông cân tổn thương gây ra. Trên lâm sàng thường gặp do âm dương hư cực độ, đây là triệu chứng nguy hiểm.
– Sa tử cung do trung khí bất túc tỳ hư hạ hãm.
– Trẻ em âm nang chắc, màu đỏ hơi tím là khí sung hình túc là tình trạng khỏe mạnh. Nếu âm nang nhẽo thòng hoặc trắng là do khí huyết suy cơ thể suy nhược nhiều bệnh.
Hậu âm
– Nứt hậu môn: Rất đau sau đại tiện, chảy máu khi đi đa số do đại trường nhiệt kết phân cứng gây nứt.
– Trĩ lậu (dò hậu môn): Do trĩ (nội ngoại) lở lâu ngày không lành hình thành lổ dò đa số do trường nội có thấp, nhiệt, phong, táo, bốn khí tương hợp mà thành.
– Thoát giang (sa trực tràng): Nhẹ thì trực tràng lồi khi đi cầu sau đó tự rút vào, nặng thì sau khi đi cầu khó co rút vào, đa số do trung khí bất túc khí hư hạ hãm gây ra thường gặp ở người già, trẻ em và sản phụ sau sanh hoặc kiết lỵ lâu ngày…
Nguồn: Giáo trình yhct Đại học y dược Cần Thơ