#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Vọng chẩn trong Đông y Phần 1 (1.3 vọng đầu cổ, ngũ quan, cửu khiếu)

3.2 Vọng tư thế

Tư thế động tĩnh của bệnh nhân có quan hệ mật thiết với bệnh tật. Bệnh khác nhau có nhiều tư thế khác nhau. Mi mắt, mặt, môi, ngón tay chân run giật từng cơn là chứng báo trước co giật trong ngọai cảm nhiệt bệnh, mà trong nội thương tạp bệnh đa phần do huyết hư âm khuy kinh mạch thất dưỡng. Tay chân run đa số do hư phong nội động. Tứ chi co giật hoặc co quắp cổ lưng cứng “giác cung phản trương” (gồng cứng như trong uốn ván) là kinh bệnh có thể do phong hoặc do hàn, thấp, nhiệt, hư đa số gặp trong can phong nội động, nhiệt cực sinh phong. Hoặc trẻ em kinh phong, ôn bệnh nhiệt nhập dinh huyết và cũng có thể gặp trong khí huyết hư kinh mạch thất dưỡng. Ngoài ra giản chứng (động kinh), uốn ván, bệnh dại… cũng gây động phong mà kinh (co giật). Tứ chi hoặc tòan thân run đầu lắc tay như tìm nắm vật gì đó là nguyên khí đã suy hoặc can phong nội động. Máy cơ là dương khí và tân dịch tổn thương. Rét run đa số do sốt rét cơn hoặc do chính tà đang đấu tranh dữ dội và là triệu chứng báo trước của đổ mồ hôi dữ dội (chiến hạn). Hai tay bắt chuồn chuồn hoặc vuốt áo mò giường là triệu chứng nguy hiểm của thất thần. Nếu tay chân mềm yếu vô lực vận động không linh hoạtt nhưng không đau là “Nuy chứng” đa số do dương minh thấp nhiệt hoặc do tỳ vị khí suy can thận bất túc gây ra. Khớp sưng đau làm cơ thể vận động khó là “Tý chứng”. Tứ chi liệt (bất dụng) tê hoặc co quắp hoặc mềm nhẽo là liệt (than hoán). Đột nhiên hôn đảo bán thân bất toại, miệng méo mắt nhắm không khít là trúng phong nhập tạng. nếu thần trí tỉnh táo chỉ có liệt nửa thân hoặc miệng mắt méo lệch là phong trúng kinh lạc hoặc di chứng của trúng phong. Nếu đột ngột hôn đảo mà hô hấp bình thường (tự tục) đa số là “Quyết chứng”. Té ngã mà miệng há tay chân duỗi, đái không tự chủ là trúng phong thoát chứng. Răng cắn chặt hai tay nắm chặt là trúng phong bế chứng. mà té đột ngột mặt đỏ đổ mồ hôi là trúng thử. Thống chứng cũng thường có tư thế đặc biệt như tay ôm bụng dáng đi ngã về trước là “Phúc thống”; hai tay ôm bụng lưng cong chuyển động khó khăn là bệnh lưng đùi; trong lúc đang đi đột nhiên ngưng lại tay ôm bụng ngực không dám bước đi đa số là “Chân tâm thống”… “Vọng chẩn tôn kinh” còn lưu ý trạng thái bệnh ví dụ như bệnh nhân co ro mặc nhiều áo quàng khăn tất là do ố hàn nếu không phải là biểu hàn thì cũng là lý hàn. Hoặc cởi áo tung chăn tất là do ố nhiệt, không biểu nhiệt cũng là lý nhiệt. Cúi đầu sợ ánh sáng đa số là bệnh mắt, ngẩng đầu thích sáng đa số là nhiệt bệnh. Dương chứng đa số muốn hàn lạnh, muốn gập người; âm chứng lại thích ấm, không thích gặp người, sợ nghe tiếng người, thích ở một mình.

Từ tư thế ngồi nhận xét: Ngồi mà thích phủ phục là phế hư khí thiểu, ngồi mà thích ưỡn ngẩng là phế thực khí thịnh, ngồi mà không thể nằm được vì hễ nằm là khí nghịch đa số là khái suyễn phế trướng hoặc thủy ẩm đình ở trong ngực bụng. Ngồi thì lờ đờ (thần bì) hoặc huyền vựng chỉ nằm không ngồi được là khí huyết đều hư hoặc do đoạt khí thoát huyết (khí thoát do mất máu). Nằm ngồi không yên là chứng phiền thao hoặc do bụng đầy trướng.

Từ dáng nằm xét thì nằm mà mặt hướng ra ngoài thân thể nhẹ nhàng tự xoay trở là dương chứng thực chứng nhiệt chứng. Ngược lại nằm thích quay mặt vô tường mình nặng nề khó xoay trở đa số là âm chứng, hàn chứng, hư chứng. Bệnh nặng mà xuất hiện hiện tượng này là khí huyết suy thoái cùng cực, dự hậu không tốt. Nằm co ro co quắp là dương hư úy hàn hoặc do đau cực độ, ngược lại nằm mà sải chân tay mặt hướng lên trên là dương chứng nhiệt thịnh.

4. Vọng đầu cổ, ngũ quan, cửu khiếu

Căn cứ vào học thuyết tạng tượng, thì ngũ tạng bên trong đều có quan hệ với ngũ quan cứu khiếu bên ngoài. Ngũ quan thất khiếu đều tập trung ở đầu gọi là “Thượng khiếu” hoặc “Thanh khiếu”, còn tiền hậu âm gọi là “Hạ khiếu”. “Linh khu – Tà khí tạng bệnh hình” có nói: “Thập nhị kinh mạch, tam bách lục thập ngũ lạc, kỳ huyết khí giai thượng vu diện nhi túc không khiếu” do đó quan sát sắc trạng hình thái của đầu mặt tai mắt miệng lưỡi mũi… ngũ quan cửu khiếu cũng đủ để phản ánh tình trạng bình thường hoặc bệnh của tạng phủ.

4.1 Vọng mặt, đầu, cổ và tóc

Đầu vi chư dương chi hội. Đốc mạch và tam dương kinh đều đi lên đầu mặt. Dương minh kinh đi ở cổ, thái dương kinh đi ở gáy, thiếu dương kinh đi hai bên. Âm kinh chỉ có nhâm mạch và túc quyết âm can kinh đi lên đầu. Đầu vi tinh minh chi phủ là nơi cư ngụ của tinh thần, phía trong tàng não phủ mà não là nguyên thần chi phủ, não lại là tủy hải thuộc thận làm chủ, thận kỳ hóa tại tóc mà tóc lại là huyết dư. Huyết mạch thượng vinh ở mặt mà tâm lại kỳ hóa tại mặt. Do đó vọng đầu mặt cổ gáy và tóc chủ yếu là để tìm hiểu tâm, thận và sự thịnh suy của khí huyết.

a) Đầu mặt

Hình thái

Đầu trẻ em hoặc quá lớn hoặc quá nhỏ đều là dị hình đa số do tiên thiên bẩm phú gây ra, hoặc thận tinh bất túc tiên thiên phát dục không tốt, hoặc do tiên thiên não tích thủy đa số kèm theo kém phát triển trí tuệ.

Tín môn (thóp)

Nhũ nhi thóp còn (không đóng) gọi là “Tín hãm” đa số thuộc hư chứng, thường gặp ở nôn tiêu chảy quá nhiều thương tổn tân dịch, hoặc do khí huyết bất túc, hoặc tỳ vị hư hàn hoặc tiên thiên bất túc gây ra phát dục không tốt, não tủy bất túc (trong vòng 6 tháng mà thóp hơi lõm là bình thường). Thóp nhô cao gọi là “Tín điền”, đa số thuộc thực nhiệt chứng, thường gặp do ôn bệnh hỏa nhiệt tà thượng công, hoặc do phong nhiệt hoặc do thấp nhiệt tà xâm nhập gây bệnh tại não tủy (nhũ nhi khi khóc quậy thì thóp phồng lên tạm thời là bình thường). Thóp đóng chậm do thận khí bất túc hoặc phát triển chậm gặp ở trẻ còi xương.

Đầu lắc

Lắc không tự chủ bất luận lớn nhỏ đều thuộc phong bệnh hoặc khí huyết hư suy, “Y học chuẩn thằng lục yếu” nói: “Đầu lắc thuộc phong thuộc hỏa mà ở người lớn tuổi sau bệnh người gầy ốm (tân khổ nhân) đa số thuộc hư và do khí huyết hư nên hỏa phạm thượng mà gây bệnh.

Mặt thũng

Đa số là thủy thũng. Thủy thũng chia âm thủy và dương thủy. Dương thủy khởi bệnh nhanh phù mi mắt và đầu mặt trước. Âm thủy khởi bệnh chậm phù ở dưới trước sau đó mới tới đầu mặt. Da vùng đầu mặt đỏ nóng rát sưng, màu như phết đơn (phấn hồng), ấn mất màu kèm đau đớn là “Bao đầu hỏa đan” đa số do phong nhiệt hỏa độc thượng công gây ra và rất dễ gây tà độc nội hãm. Đầu to như cái đấu mặt mắt sưng nhiều mắt không mở được là “Đại đầu ôn” là do thiên thời dịch độc hỏa độc thượng công.

Khẩu nhãn oa tà

Miệng méo mắt không khít, tê bì, cơ bên liệt mềm nhẽo bên lành co cứng. Bên liệt mắt nhắm không khít miệng méo không chau mày và thổi sáo được, ăn uống và tiếng nói đều không tốt. Đây là phong tà trúng lạc hoặc lạc mạch hư không (trống) phong đàm bế tắc, bệnh đa số ở dương minh kinh.

b) Xem cổ gáy

Phát hiện quai bị tràng nhạc…

Cổ cứng và mềm: Đầu gáy cứng ngắc là tà khí thực đa số là do ôn bệnh hỏa tà thượng công gây ra. Đầu cổ mềm, đầu nặng như muốn gục xuống là chính khí hư đa số thuộc thận khí hư suy.

c) Xem tóc

Tóc đen dầy mượt là biểu hiện của thận khí thịnh mà tinh huyết sung túc. Tóc vàng hoe lưa thưa khô cháy là tinh huyết bất túc thường gặp ở người sau khi đại bệnh, ở người bệnh hư tổn nhiều khi rụng hết sói đầu. Đột ngột rụng từng mảng tóc đa số thuộc huyết hư mà (thụ) phong. Thanh niên tóc thưa dễ rụng thuộc thận hư hoặc huyết nhiệt, thanh thiếu niên tóc bạc mà người già tóc lại đen do bẩm phú không giống nhau gây ra chứ không phải bệnh. Nhưng thanh thiếu niên tóc bạc kèm theo triệu chứng thận hư là thuộc thận hư, nếu kèm theo triệu chứng âm hư là lao thần thương huyết, trẻ em cam tích do tiên thiên bất túc gây ra tỳ vị hư tổn.

4.2 Xem mắt

Mục vi can chi khiếu, nhưng “Tố vấn – Đại cảm luận” lại nói: “Ngũ tạng lục phủ chi tinh khí, giai thượng chí vu mục nhi vi chi tinh”, đều này nói lên mục (mắt) và ngũ tạng lục phủ điều có quan hệ mật thiết. Vọng mục không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong vọng thần mà có thể còn đoán biết sự biến hóa của ngũ tạng thậm chí đối với việc chẩn đoán một số bệnh có tác dụng biết được ngay là bệnh gì (kiến vi chi trước = Xem mầm biết cây). Bởi vậy rất sớm trong “Nội kinh” thập phần chú trọng vọng mục, cho rằng vọng mục và vọng ngũ sắc vùng mặt có giá trị quan trọng tương đương và đều là phần quan trọng trong vọng chẩn. Các y gia thời sau cũng rất trọng thị vấn đề này. Cuốn “Trùng đính thông tục thương hàn luận” nói: “Phàm là bệnh tới lúc nguy hiểm tất phải quan sát hai mắt, xem màu sắc của mắt để biết bệnh sẽ là tồn hoặc vong do đó quan sát mắt là yêu cầu đầu tiên của chẩn pháp.

a) Vị trí tương quan tạng phủ của mắt

“Linh khu – Đại cảm luận” nói: “Cái tổ của tinh là ở mắt (tinh chi sào vi nhãn) đồng tử là tinh của cốt, lòng đen là tinh của cân, lạc là huyết chi tinh, lòng trắng là tổ của khí chi tinh…”. Hậu thế y gia căn cứ vào đó phát triển thành học thuyết “Ngũ luân”, lấy hình sắc biến hóa khác nhau của mắt để chẩn sát bệnh biến của tạng phủ. Vị trí liên quan giữa mắt và tạng phủ tương quan là: Mống mắt trong và ngoài (huyết lạc) thuộc tâm gọi là

“Huyết luân” bởi vì tâm chủ huyết mà lạc là tinh của huyết (huyết chi tinh vi lạc). Lòng đen thuộc can gọi là “Phong luân” vì can thuộc phong chủ cân mà lòng đen là tinh của cân (cân chi tinh vi hắc tinh), lòng trắng thuộc phế gọi là “Khí luân” vì phế chủ khí mà lòng trắng là khí chi tinh, đồng tử thuộc thận gọi là “Thủy luân” và thận thuộc thủy chủ cốt (Sinh tủy cốt chi tinh vi đồng tử), nhãn bào thuộc tỳ gọi là “Nhục luân” vì tỳ chủ cơ nhục (cơ nhục chi tinh vi ước thúc (mi mắt))

b) Chẩn nhãn thần

Ranh giới lòng đen và trắng rõ ràng ẩn chứa thần sắc (tinh thái nội hàm), thần quang dồi dào (sung phối), có ghèn có nước mắt nhìn rõ vật là mắt hữu thần, tuy bệnh nhưng dễ chữa. Ngược lại nếu lòng trắng tối đục, lòng đen sắc trệ (tối) mất đi thần sắc (hình thái) phù quang bạo lộ, không ghèn không nước mắt nhìn sự vật mơ hồ là mắt vô thần bệnh thuộc loại khó chữa.

c) Sắc chẩn mắt (mục bộ)

Sắc chẩn lòng trắng

“Linh khu – Luận tật chẩn xích” nói: “Mục xích sắc dã bệnh tại tâm, bạch tại phế, thanh tại can, hòang tại tỳ, hắc tại thận” đây là vận dụng ngũ sắc chẩn pháp. Trong mục chẩn cần phải kết hợp tứ chẩn hợp tham phân tích chứ đừng câu nệ.

Sắc chẩn toàn bộ mắt

Mống mắt đỏ là tâm hỏa, lòng trắng đỏ là phế hỏa, vàng là thấp nhiệt nội thịnh. Mắt (châu) sưng là can hỏa, mí mắt (phần da) đỏ ẩm loét là tỳ hỏa. Toàn bộ mắt đỏ là can kinh phong. Mắt trong là hàn, đục là nhiệt. Mống mắt trắng nhạt là huyết hư. Mi mắt trên dưới tươi sáng (tiên minh) là bệnh đàm ẩm. Mi mắt sắc tối ám đa số thuộc thận hư.

d) Mục hình chủ bệnh (hình dáng mắt)

Mắt sưng (mục sào thũng)

Mắt hơi sưng mới xuất hiện và mặt xuất hiện thủy khí sắc trạch là triệu chứng của bệnh thủy thũng mới phát. Tỳ hư và tỳ nhiệt cũng xuất hiện sưng hai mi mắt, tỳ nhiệt thì sưng nhanh màu đỏ, tỳ hư thì sưng chậm mà mi mềm vô lực. Người già thận suy cũng thường gặp sưng mi dưới.

Mắt thụt

Mắt thụt vô trong là tinh khí ngũ tạng đã suy thuộc lọai khó chữa. Nếu chỉ là mắt hơi thụt thì có thể tinh khí chưa suy bệnh còn có thể cứu vãn. Nếu thụt sâu nhìn không rõ (thị bất kiến nhân) xuất hiện mạch chân tạng (chân tạng mạch xuất hiện) là âm dương kiệt tuyệt là triệu chứng tử.

Mắt lồi

Mắt lồi mà suyễn là phế trướng, cổ sưng mắt lồi là “Anh thũng”. Đơn thuần chỉ mắt lồi ra đa số thuộc triệu chứng ác tính.

Mắt kéo màng (ế mạc)

Ế là màng mọc tại tròng đen, mạc là mọc tại tròng trắng, đều do lục dâm tà độc ngoại tẩm, hoặc nội có thực trệ đàm hỏa thấp nhiệt… hoặc thất tình uất kết, tạng khí hư tổn hoặc do ngoại thương gây ra. Bề ngòai nhìn mắt bình thường hoặc đồng tử biến sắc biến hình mà xuất hiện thị lực giảm là “Nội chướng” (cườm đá) đa số do thất tình tổn thương khí huyết lưỡng hư hoặc can thận bất túc âm hư hỏa vượng hoặc ngoại tà dẫn động tích nhiệt gây ra. Tóm lại ngoại chướng thuộc thực nội chướng thuộc hư.

Mộng thịt 

Đa số da tâm phế hai kinh phong nhiệt úng thịnh, kinh lạc ứ trệ hoặc do tỳ vị thấp nhiệt uẩn chưng huyết trệ trong lạc hoặc do thận âm âm thầm hao tâm hỏa thượng viêm gây ra.

Châm nhãn, nhãn đan (chắp, lẹo)

Rìa mi mắt mọc những hạt nhỏ như hạt lúa mạch ít, đỏ sưng gọi là châm nhãn (chắp). Nếu sưng đỏ nhiều sưng mi mắt gọi là nhãn đan (lẹo) thường vỡ mủ. hai chứng điều do phong nhiệt bác khách vu mi mắt, hoặc do tỳ vị uẩn tích nhiệt độc thượng công mắt gây ra.

e) Mục thái chủ bệnh (hình thái mắt)

Mắt trợn ngược lên tròn xoe nhìn trừng trừng không chớp là triệu chứng nặng. Nhìn ngang hoặc liếc ngang (ngoại trừ tiên thiên) là can phong nội động. Ngủ mê mệt mắt không khít là tỳ khí thanh dương không thăng dẫn đến mi mắt thất dưỡng nhắm mở thất tư, thường gặp ở trẻ em tỳ vị hư nhược hoặc mạn tỳ phong. Mi mắt liệt cả hai mắt đa số do tiên thiên bất túc tỳ thận lưỡng hư. Nếu chỉ một mắt liệt hoặc hai mắt liệt không đều nhau do tỳ hư khí nhược hoặc khí huyết bất hóa (không tan) sau sang chấn.

Đồng tử dãn to do thận tinh hao kiệt là triệu chứng nguy kịch, đồng tử co nhỏ đa số thuộc can đởm hỏa tích hoặc lao tổn can thận hư hỏa thượng nhiễu hoặc do trúng độc.

4.3 Xem tai

Nhĩ vi thận chi khiếu, kinh thủ túc thiếu dương phân bố ở tai, thủ túc thái dương và dương minh kinh cũng phân bố ở tai (trước sau) cho nên có thể nói nhĩ vi “Tông mạch chi sở tụ”. Ngày nay nhĩ châm liệu pháp đạt được một số thành tựu trong điều trị cũng đủ chứng minh rằng nhĩ không chỉ quan hệ với thận và một số kinh mạch mà còn thông qua kinh lạc nó quan hệ với ngũ tạng lục phủ tứ chi bách hài. Do đó nhĩ chẩn nên tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, không thể qua loa.

Vọng chẩn tai chủ yếu quan sát sắc trạch hình thái vành tai và vật bài tiết. Theo nhĩ châm liệu pháp ngày nay tai còn phân chia nhĩ bộ vị tương ứng của tạng phủ thân hình.

a) Biến hóa sắc trạch

Nhuận khô: Tai người bình thường thì dày và nhuận trạch là biểu hiện của tiên thiên thận âm sung túc, ngược lại tai mỏng và khô là thận âm tiên thiên bất túc.

Sắc trắng: Trắng là hàn thường gặp trong bạo cảm phong hàn hoặc do hàn tà trực trúng, tai mỏng trắng là thận bại (thận tinh bất túc) ở người bệnh nặng.

Sắc đen: Xanh đen là đau, gặp ở trường hợp đau dữ dội. Vành tai đen cháy mà khô là triệu chứng của thận thủy suy cực độ, trong giai đoạn cuối của ôn bệnh.

Sắc đỏ: Vành tai đỏ nhuận là biểu hiện bình thường nói lên thận khí sung túc. Nếu đỏ sưng thuộc thiếu dương tướng hỏa thượng công hoặc do can đởm thấp nhiệt hỏa độc thượng chưng. Nếu phía sau vành tai có những đường đỏ (hồng lạc) đồng thời gốc tai lạnh đa số là triều nhiệt của ma chẩn (sởi).

b) Hình thái biến hóa

Tai dày mà to là hình thịnh thuộc thận khí túc (đủ), nhỏ mỏng là hình suy khuy thuộc thận khí khuy suy.

Tai sưng là tà khí thực đa số thuộc thiếu dương tướng hỏa thượng công, tai gầy là chính khí suy thận tinh hoặc thận âm bất túc, vành tai teo héo là thận khí kiệt tuyệt đa số thuộc tử chứng.

Vành tai xơ xác héo (giáp thác) là bệnh lâu huyết ứ hoặc có trướng ung.

Trong tai mọc ra thịt dư nhỏ hình dáng như trái anh đào hoặc giống vú dê gọi là “Nhĩ trĩ”. Nếu mục thịt dư đầu to chân nhỏ giống như cây nấm gọi là “Nhĩ tầm”. Nếu thịt dư nhỏ dài như hột táo mọc lồi ra ngoài tai sờ đau gọi là “Nhĩ đĩnh”. Cả ba đều do can kinh nộ hoả, thận kinh tướng hoả, vị kinh tích hoả uất kết mà thành.

c) Vật bài tiết trong tai

Ráy tai: Bình thường tai ngoài có tuyến bài tiết dịch tai sau đó khô thành ráy tai, nếu ráy tai quá nhiều có thể gây tắc ống tai ngoài.

Mủ tai: Do viêm tai giữa, mủ vàng gọi là “Minh nhĩ” hoặc “Nhĩ thấp”, mủ trắng gọi là “Triền nhĩ”, mủ đỏ gọi là “Nhĩ phong độc”… đều là do túc thiếu âm thủ thiếu dương hai kinh phong nhiệt thượng ung che lấp hoặc do can đởm thấp nhiệt hoặc do thận hư, tướng hỏa thượng công gây ra.

4.4 Vọng tỵ (xem mũi)

Mũi là khiếu của phế lại thuộc tỳ kinh và có liên hệ với túc dương minh vị kinh. Linh khu – Ngũ sắc” nói: “Ngũ sắc quyết vu minh đường, minh đường giả tỵ dã”. “Kim quỹ yếu lược – Tạng phủ kinh lạc” nhắc đến xem mũi để chẩn đoán bệnh. Xem mũi nên chú ý đến sắc trạch hình thái.

Ngũ sắc chủ bệnh

Đầu mũi xanh là chỉ đau bụng, vàng là lý có thấp nhiệt, trắng là vong huyết, đỏ là phế tỳ kinh nhiệt, hơi đen là có thủy khí. Sắc mũi minh nhuận là không bệnh hoặc bệnh gần khỏi. Đầu mũi vàng đen khô héo là tỳ hỏa tân khô cũng thuộc triệu chứng ác tính. Lỗ mũi khô táo thuộc dương minh nhiệt chứng, khô mà đen như muội than là dương độc nhiệt thâm, mũi lạnh trơn mà sắc đen là âm độc lãnh cực.

Biến hóa hình thái

Mũi sưng là tà khí thịnh, mũi sưng đỏ mọc nhọt là huyết nhiệt, nghẹt mũi là nhiệt khách dương minh kinh gây ra. Trĩ mũi (thịt dư) giống như hạt lựu dần to xệ ra gây nghẹt mũi do phế khí nhiệt cực hoặc phong thấp uất trệ lâu ngày gây ra. Đầu mũi nhỏ có nhiều mụn hạt nhỏ gọi là mũi “Tửu tra” (bã rượu) đa số do huyết nhiệt nhập phế gây ra.

Cánh mũi phập phồng bệnh mới phát đa số do nhiệt tà phong hỏa úng tắc phế tạng. Bệnh làm cánh mũi phập phồng đổ mồ hôi có thể là triệu chứng phế nhiệt.

4.5 Xem miệng môi

Tỳ khai khiếu ở miệng kỳ hóa tại môi. Túc dương minh vị kinh vòng quanh môi do đó vọng miệng môi có thể chẩn đoán bệnh tỳ vị, thường cũng là quan sát hình sắc nhuận táo…

Biến đổi sắc môi

Sắc chẩn miệng môi cơ bản giống ngũ sắc chẩn vùng mặt. Niêm mạc môi mỏng và trong nên sự biến đổi sắc trạch rất rõ.

– Môi hồng nhuận là biểu hiện bình thường nói lên vị khí sung túc, khí huyết điều hoà.

– Môi trắng nhợt là huyết khuy huyết không thượng vinh gặp ở bệnh nhân mất máu nhiều.

– Môi hồng (đỏ) nhạt là hư là hàn đa số thuộc huyết hư hoặc khí huyết lưỡng hư. Ở người thể chất hơi yếu kém không bệnh cũng thường có biểu hiện này.

– Môi đỏ thẫm là thực là nhiệt, đỏ thẫm mà khô là nhiệt thịnh thương tân, đỏ thẫm sưng khô là nhiệt cực, đỏ như trái anh đào đa số là ngộ độc CO2.

– Môi xanh đen: Hồng nhạt hơi đen là hàn thịnh, xanh đen là lạnh cực độ, môi miệng xanh là khí trệ huyết ứ, do vậy xanh đen chủ đau, xanh mà thâm tím là trong có uất nhiệt, vòng quanh miệng đen là thận tuyệt. Miệng môi khô cháy mà tím đen là triệu chứng nặng.

Biến hoá hình thái

– Khô nứt là tân dịch tổn thương gặp ở ngoại cảm táo nhiệt, tà nhiệt thương tân. Cũng gặp ở tỳ nhiệt hoặc âm hư tân dịch bất túc.

– Chảy nước dãi: Đa số thuộc tỳ hư thấp thắng hoặc vị có nhiệt, thường gặp ở trẻ con hoặc trúng phong miệng méo.

– Nhũ nhi toát khẩu (miệng chúm co giật) không thể bú gặp trong trẻ em tề phong (có thể là uốn ván hoặc nhiễm trùng rốn), miệng xanh co giật không ngớt.

– Miệng mở không đóng được Chủ hư, miệng há như miệng cá không đóng được là tỳ tuyệt…

– Bệnh lâu bệnh nặng nhân trung đầy, môi lật ra ngòai là tỳ dương đã tuyệt. nhân trung ngắn môi teo nhỏ không thể phủ kín răng là tỳ âm đã tuyệt.

– Miệng lở đẹn trắng như rêu tươi cào bỏ lộ một lớp màng đỏ ở dưới rất đau đa số là dương vượng âm hư hoặc tỳ kinh thấp nhiệt nội uất gây ra nhiệt tà hun chưng mà thành.

– Miệng môi ngứa sưng đỏ nứt chảy nước, đau như đốt thiêu do dương minh vị kinh hoả thượng công gây ra.