#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Vọng chẩn trong Đông y Phần 1 (1.2 vọng hình thái)

2.4 Thường sắc và bệnh sắc

a) Thường sắc

Là chỉ sắc trạch ở mặt ở người trong trạng thái sinh lý bình thường, biểu thị sự sung doanh của tinh thần, khí huyết, tân dịch của con người và chức năng tạng phủ bình thường. Do tinh khí nội hàm (sung mãn bên trong) nên dung quang (dung nhan) phát lộ ở ngoài nên ở người bình thường sắc mặt nên là quang minh nhuận trạch, giống như trong “Vọng chẩn Tôn kinh” có nói: “Quang minh dã thần khí chư trước (sáng rõ); nhuận trạch dã, tinh khí chi xung”.

Đối với người Á Đông chúng ta, sắc diện tương ứng là hồng vàng mờ ảo ẩn chứa minh nhuận, đây là màu sắc bình thường chứng tỏ hữu vị khí và thần khí. Nhưng do tố chất mỗi người mỗi khác nên có người lại hơi thiên về hồng, đen hoặc trắng. Và cũng do nhiều biến động của cuộc đời nên cũng có lúc lại hơi xanh, trắng và hồng… Đây là những hiện tượng bình thường cho nên không cần bàn luận sắc gì mà chỉ cần có đủ thần khí và vị khí là bình thường rồi. Vậy thần khí là quang minh nhuận trạch, vị khí là ẩn hiện chút sắc vàng kín đáo.

Do biến đổi thời gian, khí hậu, hoàn cảnh nên sắc thường lại có chủ sắc và khách sắc.

Chủ sắc

Trong quần thể, sắc mặt mỗi người không đồng nhất mà nó thuộc về đặc trưng cá thể nghĩa là sắc mặt màu da không đổi cả cuộc đời, đó là chủ sắc. Do di truyền hoặc do đặc điểm khu vực, điều kiện công tác… Đều có thể tạo nên ở một số người sắc diện là đen, là hồng, vàng hay xanh… chỉ cần điều kiện sắc đó không đổi suốt đời thì đó là chủ sắc. “Y Tông Kim Giám – Tứ chẩn tâm pháp yếu quyết” nói: “ Ngũ tạng chi sắc, tùy ngũ hình chi nhân nhi kiến, bách tuế bất biến, cố vi chủ sắc dã”. Dựa vào lý luận ngũ hành mộc hình chi nhân (người có hình mộc) là xanh, thổ hình chi nhân vàng, hỏa hình chi nhân xích, kim hình chi nhân bạch, thủy hình chi nhân hắc đó có nguyên do là là bẩm phú độc thắng (đặc biệt) ở mỗi người.

Khách sắc

Con người và tự nhiên là tương ứng, do biến động cuộc sống thì sắc diện hoặc màu da có biến đổi gọi là khách sắc. Ví dụ theo tứ thời, ngày đêm, trời trong, mù… biến hóa. Sắc diện cũng có sự thay đổi tương ứng. Dựa vào lý luận “Nội Kinh” thì xuân khí tại kinh mạch, hạ khí tại tôn lạc, trưởng hạ khí tại cơ nhục, thu khí tại da, đông khí tại cốt tủy. Tùy theo sự biến hóa khí nội ngoại cũng có biến hóa phù trầm. Mà dựa vào lý luận ngũ hành thì xuân nên hơi xanh, hạ ứng hơi đỏ, trưởng hạ ứng vàng, thu ứng trắng, đông ứng hơi đen, tứ quý đều vàng (có thể là tháng cuối mỗi quý âm lịch). Những biến đổi này không rõ ràng lắm chỉ có quan sát kỹ mới có thể phát hiện và lĩnh hội. Ngày thì khí hành tại dương, sắc nên sáng và phản ánh ở ngoài. Đêm khí hành tại âm nên minh nhuận mà ẩn chứa. Trời trong thì khí nhiệt, nhiệt tắc khí náo trạch (nhão sáng), náo trạch tắc vàng đỏ. Âm tắc khí hàn, hàn tắc huyết ngưng kết, ngưng kết tắc xanh đen. Những cái đó đều thuộc khách sắc.

Chủ sắc và khách sắc điều là hiện tượng sinh lý bình thường. Ngoài ra nếu có uống rượu, chạy bộ, tình chí (thất tình) điều ảnh hưởng nhất thời hoặc do nghề nghiệp công tác ít ra nắng hoặc phơi nắng nhiều hoặc do phong thổ chủng tộc mà có sự biến đổi thì đây không phải là bệnh sắc nên khi chẩn đoán cần chú ý.

b) Bệnh sắc

Là chỉ sắc trạch vùng mặt trong trạng thái bệnh, cũng có thể xem như trừ những sắc thường đã nêu trên thì những sắc trạch phản thường khác điều là bệnh sắc. Khi xuất hiện bệnh sắc bất luận sắc gì hoặc u tối khô héo hoặc tươi rói hoặc tuy sáng nhuận nhưng lại không hợp thời hợp vị trí hoặc những sắc đặc biệt điều là bệnh sắc. Các y gia cổ đại dựa vào kinh nghiệm lâm sàng không những để phát hiện ngũ sắc có liên quan tới bệnh biến ngũ tạng tương ứng và cũng phản ánh tính chất bệnh tà nhất định. Do bệnh tình nặng nhẹ khác nhau nên quang trạch cũng có những biến hóa khác nhau bệnh sắc lại phân do đó thành ác sắc và thiện sắc.

Ngũ sắc thiện ác thuận nghịch

Phàm là ngũ sắc sáng nhuận trạch (tươi tắn) đều là thiện sắc. Ở đây nói lên tuy đã bệnh nhưng tinh khí tạng phủ vẫn chưa suy, vị khí vẫn còn vinh (thể hiện) trên mặt và được gọi là “Khí chí” (chí là đến) đa số dự hậu tốt. Phàm ngũ sắc u tối khô héo là ác sắc, nói lên tạng phủ hoặc đã bại hoại, vị khí đã suy kiệt không thể vinh nhuận được gọi là “Khí bất chí” đa số dự hậu không tốt. “Vọng chẩn tôn kinh” cho rằng sắc lấy sự nhuận trạch làm bản (gốc) tức là lấy vị khí làm gốc.

“Tố vấn – Ngũ tạng sinh thành” đã cụ thể miêu tả mô hình của ngũ sắc thiện ác như: xanh thì như lông chim phỉ thúy (Phỉ vũ), đỏ như mồng gà (kê quan), vàng như bụng con cua (giải phúc), trắng như mỡ heo (thỉ cao), đen như lông quạ (ô vũ) điều là thiện sắc chủ sinh (sống). Xanh như tàu lá (thảo tư), đỏ như cục máu đông (phôi huyết), vàng như chỉ thực (trái quất non phơi khô), trắng như xương khô (khô cốt), đen như mồ hóng (thai)… đều là ác sắc chủ tử, đã miêu tả một cách sinh động về sự minh nhuận của thiện sắc và sự khô tối của ác sắc. Đối với sự phân biệt ngũ sắc thiện ác cũng có tác dụng tham khảo nhất định.

Trên lâm sàng còn có thể quan sát động thái biến hóa. Từ thiện sắc chuyển ác sắc là bệnh tình gia tăng, nặng thêm. Từ ác sắc chuyển thiện sắc nói lên bệnh đã dần chuyển biến tốt.

Ngoài ra sự giao nhau (giao thác) của bệnh sắc cũng có thể phán đoán bệnh thuận nghịch hung kiết. Nếu bệnh và sắc tương ứng nhau là chính bệnh chính sắc, nếu ngược lại thấy sắc khác thì là bệnh và sắc không tương ứng gọi là bệnh sắc giao thác (giao thoa, đan xen). Trong giao thác lại có quan hệ tương sinh tương khắc, tương sinh là thuận, tương khắc là nghịch. Ví dụ can bệnh xuất hiện sắc xanh tức là chính bệnh chính sắc, là bệnh sắc tương ứng, là hiện tượng bệnh phát triển đúng (bình thường) nhưng nếu xuất hiện đen sắc (thủy sinh mộc) hoặc đỏ (mộc sinh hỏa) là sắc tương sinh trong cái không tương ứng (bệnh và sắc) thuộc thuận chứng. Nếu thấy màu vàng (mộc khắc thổ) hoặc trắng (kim khắc mộc) là sắc tương khắc trong cái bất tương ứng thuộc nghịch chứng. Trong thuận chứng thì sắc sinh bệnh là thuận trong kiết (kiết trung chi thuận), bệnh sinh sắc là kiết trung chi nghịch. Trong nghịch chứng sắc khắc bệnh là hung trung chi nghịch, bệnh khắc sắc là hung trung chi thuận… các tạng khác cũng xét theo kiểu này. Nhưng khi vận dụng trên lâm sàng cũng không nên quá máy móc, nên ứng dụng tứ chẩn hợp tham sử dụng linh hoạt tổng hợp lại để bình phán mới có thể chẩn đoán chính xác, như “Vọng chẩn tôn kinh” có nói: “Thảng (nếu như) sắc yểu bất trạch, tuy tương sinh diệc nan điều trị, sắc trạch bất yểu, tuy tương khắc diệc khả cứu liệu”

Can bệnh (mộc): Hiện sắc Đỏ (hỏa) tương sinh chi nghịch; hiện sắc Đen (thủy) tương sinh chi thuận; hiện sắc Xanh (mộc) chính bệnh chính sắc; hiện sắc vàngVàng (thổ) hung trung chi thuận; hiện sắc Trắng (kim) hung trung chi nghịch

 Ngũ sắc chủ bệnh

Nếu kết hợp vị trí và Thập pháp thì rất phức tạp, nhưng khi nắm được yếu lĩnh thì rất dễ dàng cử nhất phản tam (lấy một cái biết ba cái) linh hoạt ứng biến.

– Thanh sắc: Chủ hàn chứng, thống chứng, ứ huyết và kinh phong.

Hàn ngưng tắc khí trệ huyết ứ, kinh mạch co thắt nên sắc mặt xanh thậm chí xanh tím, kinh mạch ứ trệ bất thường tắc thống, huyết bất dưỡng cân, can phong nội động thì sẽ xuất hiện kinh phong co giật.

Âm hàn nội thịnh, kinh mạch co thắt, khí huyết ứ trở dẫn đến đau bụng dữ dội, xuất hiện sắc mặt nhợt nhạt trắng hoặc xanh nhạt hoặc xanh đen.

Tâm dương bất chấn, huyết hành không thông, tâm huyết ứ trở dẫn đến tâm hung thích thống, xuất hiện sắc mắt xanh xám, miệng môi xanh tím.

Trẻ em kinh phong hoặc sắp kinh phong đa số xuất hiện sắc xanh ở giữa hai đầu lông mày hoặc sống mũi hoặc quanh miệng.

Phụ nữ sắc mặt xanh là can cường tỳ nhược ăn ít dễ cáu hoặc kinh không đều.

Mặt xanh má đỏ là hàn nhiệt vãng lai của thiếu dương bệnh, mặt xanh tai đỏ đa số là can hoả, mặt xanh đỏ mà tối ám là uất hoả.

Tỳ bệnh gặp thanh sắc đa số là khó chữa.

– Xích sắc: Chủ nhiệt chứng, đỏ thẫm thuộc thực nhiệt, hơi đỏ (vi xích) thuộc hư nhiệt. Khí huyết được làm nóng (đắc nhiệt) tắc hành, nhiệt thịnh mà khí huyết sung doanh, huyết sắc màu huyết thương vinh nên sắc mặt đỏ.

Cả mặt đỏ đa số là sốt ngọai cảm mà dương thịnh, hoặc do tạng phủ thực nhiệt. Nếu hai lưỡng quyền triều hồng (đỏ về chiều) kiều nộn (mềm mại, non) là hư nhiệt trong âm hư hỏa vượng chứng.

Nếu bệnh lâu bệnh nặng sắc mặt nhợt nhạt bơ phờ mà lưỡng quyền lại đỏ như đánh phấn hồng nhạt (nộn hồng) kèm pha sắc trắng di chuyển vô định đa số là hư dương phù việt trong “Đái dương” chứng. Đây thuộc chứng nguy hiểm của chân hàn giả nhiệt.

Phế bệnh thấy sắc đỏ đa số khó chữa.

– Hoàng sắc: Chủ hư chứng, thấp chứng. Màu vàng vẫn là màu của tỳ hư thấp uẩn.

Tỳ thấp kiện vận tắc thủy thấp nội đình, khí huyết hư suy nên sắc mặt màu vàng.

Vàng nhạt khô héo không quang gọi là “ủy hoàng” thường gặp trong tỳ vị khí suy khí huyết bất túc. Vàng mà hư phù, gọi là “hoàng bạng” đa số tỳ khí hư suy thấp tà nội trở gây ra. Nếu mặt và toàn thân vàng gọi là “hoàng đản”, vàng tươi như vỏ quít gọi là dương hoàng là do thấp nhiệt hun chưng mà có, vàng mà tối như ám khói là âm hoàng là do hàn thấp uất trở gây ra.

Vàng mà khô gầy là vị bệnh hư nhiệt. Vàng nhạt là vị bệnh hư hàn.

Bụng trướng mà mặt vàng tay chân gầy khẳng khiu là hư trướng. Nếu mặt vàng nhợt nhạt bụng nổi gân xanh mà trướng hoặc mặt vàng héo điểm xuyến những điểm đỏ tơ huyết là cổ trướng, đa số thuộc tỳ hư can uất huyết ứ thủy đình.

Trẻ em mặt vàng bủng hoặc xanh vàng hoặc lúc vàng lúc trắng, bụng nổi gân xanh là cam tích, vàng ấn đường chuẩn đầu vàng mà minh nhuận là vị khí đã hồi phục bệnh dần khỏi.

– Bạch sắc: chủ hư chứng, hàn chứng, thoát huyết, đoạt huyết. Màu trắng là triệu chứng (hầu) của khí huyết bất vinh. Dương khí suy nhược, khí huyết vận hành chậm hoặc do hao khí mất máu khí huyết không sung hoặc do hàn ngưng huyết sáp trệ, kinh lạc co thắt dẫn đến có thể gây sắc mặt trắng.

Trắng nhợt hư phù hoặc nhợt nhạt (thương bạch đồng nghĩa xám nhạt) hoặc tối trệ đa số dương hư. Đột ngột nhợt nhạt (tái nhợt) kèm theo mồ hôi lạnh dầm dề đa số là dương khí bạo thoát.

Trắng nhạt (đạm bạch) đa số là khí suy. Trắng mà không hóa (tươi) hoặc vàng trắng như da gà là huyết hư hoặc đoạt huyết (mất máu).

Đau bụng dữ dội trong lý hàn chứng hoặc rét run cũng có thể xuất hiện sắc mặt trắng nhợt nhạt.

Phế vị hư hàn cũng có thể xuất hiện trắng nhợt (đạm bạch)

Can bệnh cũng có thể xuất hiện sắc trắng và là biểu hiện bệnh khó chữa.

– Hắc sắc: Chủ thận hư, hàn chứng, thống chứng, thủy ẩm và ứ huyết.

Màu đen là màu của âm hàn thủy thịnh. Do thận dương hư suy, thủy ẩm không hóa được âm hàn nội thịnh, huyết mất đi sự ôn dưỡng, kinh mạch co thắt, khí huyết không thông (vận hành) cho nên sắc mặt đen.

Lưỡng quyền và mặt (nhan) đen là có thận bệnh. Mặt đen mà khô đa số là thận tinh hư lâu ngày hư hỏa chước (thiêu đốt) âm. Mặt đen mà hơi nhạt là thận bệnh thủy hàn, phàm đen mà hơi tối nhạt bất luận bệnh lâu mau đều quy thuộc dương khí bất chấn.

Hai hốc mắt đen thường là do thận hư hoặc thủy ẩm hoặc bệnh đới hạ do hàn thấp hạ chú. Mặt đen mà tay chân bất toại lưng đau khó cúi ngửa là bệnh thận phong cốt tý thống. Mặt đen xì mà da móng xơ xác thuộc ứ huyết.

Tâm bệnh mà trán đen là nghịch chứng, miệng đen là thận tuyệt.

2.5 Sắc mạch chứng hợp tham

Sắc mạch chứng đều là biểu hiện phản ứng của bệnh. Trong những bệnh thông thường thì sắc mạch chứng thường xuất hiện một cách tương ứng. Ví dụ can bệnh sắc xanh, mạch huyền, đau sườn ngực, miệng đắng, hoa mắt… đó là sắc mạch chứng tương ứng. Nhưng cũng có lúc sắc mạch chứng của bệnh xuất hiện không tương ứng, cần phải phân tích một cách cụ thể, tìm hiểu toàn bộ diện mạo của bệnh, nhận thức được bản chất của bệnh mới có thể chỉ đạo điều trị một cách chính xác. Ví dụ bệnh nhân sốt sắc mặt triều hồng (đỏ về chiều) là biểu hiện của nhiệt chứng, nhưng nếu không bắt mạch thì sẽ dùng phương tễ hàn lương tả hạ và rất dễ dẫn đến sai lầm. Mạch sác mà hữu lực là thực nhiệt chứng cũng tính là đúng đi, nhưng nếu mạch tế trầm vô lực, lúc rõ lúc không hoặc mạch phù đại mà rỗng (trống không) thì lại là chân hàn giả nhiệt và nếu dùng lầm hàn lương tả hạ thì vô cùng nguy hiểm. Tóm lại trong quá trình chẩn đoán nhất thiết phải quan sát toàn diện sắc, mạch và chứng, không được tách rời nhau để xét từng cái, do đó sắc mạch chứng hợp tham là nguyên tắc quan trọng trong chẩn đoán

3. Vọng hình thái

Thông qua quan sát hình thể, tư thế bệnh nhân để chẩn đoán là một trong những nội dung chính của vọng chẩn

Dựa vào học thuyết ngũ hành và tạng tượng thì cơ thể con người trong có ngũ tạng phân thuộc ngũ hành, ngoài có bì mao cơ nhục, huyết mạch, gân cốt… ngũ thể hợp với ngũ tạng, hình thể mạnh yếu béo gầy và nội tang thịnh suy, cứng cáp (kiên tuyệt) là thống nhất với nhau. Mà sự động tịnh của tư thế (dáng) của con người lại có quan hệ tiêu trưởng với âm dương khí huyết. Do đó vọng hình thái có thể đoán bíết tình trạng thịnh suy của khí huyết tạng phủ, âm dương tà chính tiêu trưởng và thế bệnh thuận nghịch, và tà khí đang ở đâu.

3.1 Vọng hình thể

Chủ yếu quan sát tình trạng mạnh yếu gầy béo, tay chân, thể hình của bệnh nhân.

Cường (mạnh) là thân thể cường tráng, nhược là thân thể suy nhược. Nếu xương to dài chắc ngực đầy nở, cơ bắp cuồn cuộn (sung thực), da dẻ nhuận trạch là biểu hiện cường tráng và ngược lại xương nhỏ ngực lép, cơ nhục mềm gầy, da khô… là biểu hiện của suy nhược. Hình thể cường tráng, nội tạng cứng cáp, khí huyết vượng thịnh thì tuy mắc bệnh nhưng dư hậu rất tốt. Hình thể gầy gò, nội tạng mỏng manh, khí huyết bất túc cơ thể suy nhược nhiều mà mắc bệnh thì dư hậu kém.

Phì (béo) không phải là hiện tượng kiện tráng, gầy (ốm) cũng không phải là hiện tượng bình thường. Tứ chẩn quyết vi có nói: “Hình chi sở sung giả khí, hình thắng khí giả yểu, khí thắng hình giả thọ”. Khí ở đây là khí lực (sức mạnh), bất luận mập ốm phàm là người vô khí lực tức là hình thắng, đều do khí không sung mà ra, do đó nó chủ “Yểu” (hình thắng khí). Ở người có khí lực là khí thắng hình là chủ thọ, mập mà ăn được là “Hình thịnh hữu dư”, mập mà ăn ít là “Hình thịnh khí suy” đa số do tỳ hư có đàm. Hình gầy ăn nhiều là trung tiêu có hỏa, gầy mà ăn ít là trung tiêu khí hư nhược. Người gầy tong teo giơ xương như “Nội Kinh” tả là “Đại cốt khô cảo, đại nhục hãm hạ” đây là khí dịch cạn khô tinh khí tạng phủ suy kiệt, là hiện tượng vô thần nặng. Người mập bụng phệ rất dễ tụ thấp sinh đàm và dễ mắc chứng trúng phong bạo quyết. Người mập dễ trúng phong là do hình hậu (dày) khí suy khó điều hòa toàn thân dễ uất trệ sinh đàm, đàm úng khí tắc thành hỏa nên dễ mắc chứng bạo quyết. Người gầy âm hư huyết dịch suy thiểu tướng hỏa dễ kháng nên dễ mắc lao thấu (ho).

Ngực gà, lưng rùa, chân vòng kiềng… dị hình do tiên thiên bẩm phú bất túc tinh khí thận khuy tổn hoặc hậu thiên thất dưỡng tỳ vị hư nhược. Cũng có ngực hình thùng đa số do có phục ẩm tích đàm gây ra phế khí hao tán hoặc ảnh hưởng đến thận gây thận bất nạp khí. Có loại ngực dẹp lép đa số thuộc phế thận âm hư. Nếu chỉ có bụng to tứ chi teo nhỏ là cổ trướng đa số thuộc can uất hoặc tỳ hư dẫn đến khí trệ thủy đình huyết ứ. Bụng sưng trướng là bệnh khí hữu dư, bụng nhỏ là hình khí bất túc. Da bụng mềm nhẽo lõm lòng thuyền sờ thấy cột sống đằng sau đa số thuộc vị trường khô lép là hiện tượng ác tính của tinh khí tạng phủ suy bại. Cột sống rờ như răng cưa gọi là “Tích cam” cũng thuộc tinh khí tạng phủ khuy tổn cùng cực.

Nói về thể hình thì có quan hệ với thể chất, có quan hệ với đặc điểm bẩm phú của âm dương khí huyết, trong một mức độ nhất định nó phản ánh cá nhân đó dễ cảm thụ bệnh tật. Rất sớm trong “Nội Kinh” đã bàn về quan hệ thể chất thể hình và bệnh tật, nhưng vấn đề này tương đối phức tạp và vẫn là đề tài nghiên cứu cho tới nay. Nhưng có một điểm có thể khẳng định được tức là bề ngoài hình thái và kết cấu bên trong có quan hệ nhất định mà kết cấu bên trong lại quyết định chức năng sinh lý do đó đặc điểm thể hình từ góc độ nào đó phản ánh đặc điểm thể chất. Mà thể chất đặc biệt lại thường dễ mắc một số bệnh đặc biệt (đặc định), như nhận xét về người mập và ốm ở trên cũng nói lên điều đó. Nhưng ta nhận thấy có sự tương đối giống nhau là phân loại có thể chia ba loại thể chất đó là dương tạng, âm tạng và âm dương hòa bình. Người dương tạng đa số âm hư dương thịnh đặc điểm thể hình là thiên về gầy cao, đầu dài (trường hình) cổ nhỏ dài vai hẹp ngực dài bằng phẳng tư thế thân thể thường hơi cúi gập ra trước. Người âm tạng đa số dương hư âm thịnh đặc điểm thể hình là thiên về thấp mập, đầu tròn cổ to ngắn vai rộng bằng ngực rộng ngắn hình tròn tư thế thân thể thường ưỡn ra sau. Người âm dương hòa bình thì không thiên thịnh cũng không thiên suy khí huyết điều hòa nên đặc điểm thể hình là ở giữa hai loại.

Tóm lại: Hình thể mạnh yếu và thể hình có mối quan hệ nhất định với sự phát bệnh và dự hậu, nhưng điều này không phải tuyệt đối cần phải xét tới nhiều điều kiện khác để định.