#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Vọng chẩn trong Đông y Phần 1 (1.1 vọng sắc thái)

Vọng chẩn là một trong 4 phương pháp chẩn đoán bệnh của y học cổ truyền.  Đây là một phương pháp chẩn đoán rất quan trọng. Để tiện cho các bạn mới tìm hiểu về y học cổ truyền nắm được một cách sơ lược về phương pháp Vọng chẩn trong đông y. Chúng tôi xin giới thiệu tới quý bạn đọc một số kiến thức về vọng chẩn.

Tuy nhiên do bài viết quá dài nên chúng tôi xin chia bài vọng chẩn này làm 2 phần. Phần 1 xin nói về một số nội dung Vọng chẩn về Thần, Sắc mặt, Hình thái, Đầu cổ và ngũ quan. Phần 2 sẽ nói về Vọng bì phu, vọng lạc mạch, vọng chất bài tiết, và vọng lưỡi.

Thầy thuốc dùng thị giác quan sát có mục đích toàn bộ tình hình toàn thân hoặc cục bộ và vật thải của bệnh nhân để tìm hiểu sức khỏe hoặc tình hình bệnh gọi là vọng chẩn. Trong chẩn đoán, vọng chẩn chiếm vị trí trọng yếu vì thị giác của con người chiếm vị trí quan trọng trong nhận thức khách quan sự vật. Do vậy lợi dụng triệt để thị giác, luyện tập quan sát nhanh nhạy là yêu cầu tất yếu của người thầy thuốc.

Nội dung chủ yếu của vọng chẩn là quan sát về thần, sắc, hình thái của bệnh nhân để phán đoán sự biến hóa trong cơ thể. Ở người bình thường thì thần, sắc, hình thái đều biểu hiện bình thường, một khi có hiện tượng bất thường nó là bệnh (thái). Có một số bệnh chỉ phản ánh sự dị thường đơn phương của thần hoặc sắc, cũng có một số bệnh phản ánh biến đổi của cả thần sắc hình thái… YHCT trong thực tiễn lâu dài đã chứng minh bề ngoài con người có quan hệ mật thiết với lục phủ, ngũ tạng đặc biệt là vùng mặt và lưỡi có quan hệ mật thiết với tạng phủ, do đó thông qua sự quan sát bên ngoài có thể tìm hiểu bệnh tình của chỉnh thể. Thật đúng như “Linh Khu – Bản Thần” có nói: “Thị kỳ ngoại ứng, dĩ tri kỳ nội tạng, tắc tri sở bệnh hề” (nhìn bên ngoài sẽ biết được bên trong và đoán được bệnh ở đâu)

Nội dung vọng chẩn tuy có thể phân ra tổng thể vọng chẩn và bộ phận (cục bộ) vọng chẩn, nhưng khi vận dụng lại không cần phân chia một cách máy móc như phân ra vọng thần, sắc, hình thái, đầu cổ, ngũ quan, lưỡi, da, mạch lạc, chất thải… Thiệt chẩn và ngũ sắc chẩn vùng mặt tuy thuộc đầu mặt ngũ quan nhưng do nó có ý nghĩa chẩn đoán rất lớn nên nói ở phần khác.

1. Vọng thần

1.1 Khái niệm về thần

Là cách gọi chung về họat động sống của con người, khái niệm đó có phân ra nghĩa rộng và hẹp. Nghĩa rộng, thần là chỉ biểu hiện ngoại tại hoạt động sống của cả chỉnh thể, có thể nói thần là sự sống (sinh mệnh). Nghĩa hẹp chỉ về hoạt động tinh thần ở người và có thể nói thần là tinh thần. Khi vọng thần thì nên bao gồm cả hai nội dung đó.

Thần là thể hiện hoạt động sống của cơ thể, thần không thể ly khai cơ thể mà tồn tại độc lập, có (hữu) hình (thân xác hình thể) mới có thần, hình kiện tắc thần vượng, hình suy tắc thần mệt mỏi (bị) phờ phạc, do đó “Linh khu

Bình nhân tuyệt cốc” có câu: “Hình thần hợp nhất”, “Hình dữ thần cụ” (hình và thần cùng tồn tại) nói lên mối liên quan giữa thần và hình. Kinh qua vô số thực tiễn đã chứng minh sự thịnh suy của thần đích thực là một trong những tiêu chí nói lên hình thể khỏe mạnh hoặc không. Nếu xét ngược lại khi hình nhược, sắc bại thì tuy hai mắt hữu thần cũng là hiện tượng giả.

Nguồn gốc của thần có từ tiên thiên chi tinh, như “Linh khu – Bản luận” có nói: “Sinh chi lai vị chi tinh, lưỡng tinh tương bác vị chi thần”. Nhưng thần lại dựa vào hậu thiên chi tinh để tư dưỡng nên “Linh khu – Bình nhân tuyệt cốc” nói “Cố thần dã, thủy cốc chi tinh dã” (cho nên thần tức là tinh của thủy cốc), quan hệ giữa tinh và thần là: Tinh có thể sinh thần, thần có thể ngự (điều khiển) tinh, tinh túc tắc hình kiện (hình là hình thể, kiện là khỏe mạnh), hình kiện tắc thần vượng. Ngược lại tinh suy tắc thể nhược, thể nhược tắc thần bì (mệt mỏi). Khí và thần cũng có mối quan hệ mật thiết không thể phân khai, khí là động lực của sự sống, khí có thể sinh thần, thần có thể ngự khí, do vậy cuốn “Đồ thư biên – Thần khí vị tạng phủ chi phủ” có nói “Khí tải hu thần” (khí vận chuyển được thần) và khí trong cơ thể chịu sự chủ tế của thần. Tóm lại: Tinh, khí, thần là tam bảo của con người. Tinh xung, khí túc, thần vượng là điều kiện của khỏe mạnh; tinh khuy, khí suy, thần hao là nguyên nhân của sự lão hóa. Do đó khi vọng thần có thể biết được sự thịnh suy của tinh khí. Thần cũng là biểu hiện bên ngoài của ngũ tạng.

Tóm lại: Thần là thể hiện hoạt động sống của cơ thể cho nên “Linh khu – Nhiên niên” có nói “Thất thần giả tử, đắc thần giả sinh” (còn thần thì sống, mất thần thì chết).

Vì thần là chủ tể của cả cơ thể (nhất thân) nên có thể biểu hiện ở mọi chỗ trên cơ thể, nhưng nơi biểu hiện rõ nhất là mục quang (ánh mắt). Con mắt là cửa sổ của tâm linh, hoạt động tinh thần của con người thường bộc lộ một cách vô ý trong mục quang, do đó ánh mắt có thể chuyển (phản ánh) thần. Khi tiếp xúc bệnh nhân, qua một sự quan sát sơ bộ sẽ có một ấn tượng sơ bộ về thần khí bệnh nhân. Cái sự quan sát sơ bộ ngắn đó thì nên chú ý đến mục quang thần thái bệnh nhân. Ngoài ra nói năng, phản ứng, vấn đáp, tình cảm biểu lộ mọi mặt điều biểu thị trạng thái tinh thần và biến đổi tình chí của bệnh nhân. Ngay cả trạng thái chức năng của tạng phủ khí huyết cũng là biểu hiện của thần và cũng cần thiết xét về sắc mặt, tiếng nói, hơi thở, tư thế, mạch tượng chứ không phải chỉ hạn chế bởi vọng chẩn.

Biểu hiện của thần tuy có rất nhiều mặt nhưng trọng điểm của vọng chẩn là ở mục quang, thần chí, sắc diện và hình thái…

1.2. Đắc thần, thất thần và giả thần

Đắc thần

Tức là hữu thần, có thần, là biểu hiện tinh xung, khí túc, thần vượng. Khi bệnh mà vẫn biểu hiện đắc thần là chính khí chưa tổn thương, thuộc bệnh nhẹ.

Biểu hiện của hữu thần là thần trí tỉnh táo rõ ràng mạch lạc, tiếng nói rõ, mục quang sáng, sắc mặt vinh nhuận, tư thế khoan thai tự nhiên, phản ứng nhạy, động tác linh họat, hơi thở đều, cơ bắp không teo gầy.

Thần trí tỉnh táo, giọng nói trong rõ. Sắc diện vinh nhuận, biểu hiện tự nhiên là tinh khí của tâm đầy đủ. Ánh mắt sáng, thần sắc linh lợi, phản ứng nhạy, động tác linh họat, tư thế tự nhiên khoan thai là tinh khí can thận sung túc. Hơi thở đều, cơ nhục không teo là biểu hiện tinh khí tỳ phế đầy đủ. Tóm lại đây là thần khí bình thường của người bình thường. Nếu lỡ đã có bệnh thì đây là bệnh nhẹ, chức năng tạng phủ chưa suy, dự hậu tốt.

Thất thần

Tức là vô thần, là biểu hiện của tinh tổn khí khuy (thiếu hụt) thần suy.

Bệnh tới mức độ này là giai đoạn nghiêm trọng. Biểu hiện của thất thần: Thần trí u mê (hôn mê) hoặc nói năng lộn xộn hoặc vuốt áo sờ giường bắt chuồn chuồn. Ánh mắt u tối đờ đẫn, sắc diện u tối. Biểu hiện lãnh đạm vô cảm, phản ứng chậm chạp, động tác không linh hoạt, tư thế gò bó, hơi thở bất thường, gầy teo cơ nhục. Thần hôn chiêm ngữ hoặc nói năng lộn xộn, sắc mặt u tối, biểu hiện đạm bạc hoặc ngây ngô là tinh khí tâm suy bại. Ánh mắt u tối đờ đẫn, phản ứng chậm, động tác không linh họat, tư thế gò bó là tinh khí can thận suy. Hơi thở khác thường, teo cơ là tinh khí tỳ phế suy kiệt. Nếu xuất hiện hiện tượng vuốt áo, sờ giường hoặc giơ tay bắt chuồn chuồn hoặc thần hôn chiêm ngữ là tà khí hãm tâm bào, âm dương ly quyết là chứng nghiêm trọng.Tóm lại thất thần là biểu hiện chức năng tạng phủ suy bại, dư hậu không tốt.

Là hiện tượng tinh thần tạm thời tốt lành ở những bệnh nguy kịch, là dự báo sắp lâm chung.

Biểu hiện của giả thần: Ở bệnh nhân nặng, bệnh lâu ngày vốn dĩ đã có hiện tượng thất thần đột nhiên những triệu chứng tinh thần tốt lên, ánh mắt từ u tối đột nhiên sáng lên, nói không ngớt, muốn tìm gặp người thân. Hoặc bệnh ở giai đoạn nặng tiếng nói hơi thở nhẹ khẽ đứt đoạn đột nhiên giọng nói trong cao lại, hoặc vốn dĩ sắc mặt u tối đột nhiên hai gò má đỏ như đánh phấn hồng. Hoặc trước đó không ăn uống gì tự nhiên đói ăn uống nhiều. Đây là do tinh khí suy kiệt cùng cực âm bất liễm dương gây ra hư dương ngoại việt bộc lộ hiện tượng giả (tốt lên), người xưa gọi là “Tàn đăng phục minh” (bùng sáng ở đèn hết dầu) “Hồi quang phản chiếu” đây là hiện tượng rất nặng của âm dương sắp ly tuyệt.

 

1.3 Thần khí bất túc và tinh thần dị thường

Thần khí bất túc là biểu hiện nhẹ của thất thần, thường gặp ở bệnh nhân hư chứng, nguyên nhân là do chính khí bất túc gây ra. Nếu tinh thần không (bất) phấn chấn, hay quên, buồn ngủ, tiếng nói nhỏ lười nói, uể oải vô lực, động tác chậm chạp… đa số thuộc tâm tỳ lưỡng hư hoặc thận dương bất túc gây ra thần khí không vượng.

Thần khí dị thường bao gồm phiền thao bất an, thần hôn (u mê, mê muội) lảm nhảm và điên, cuồng, giản… biểu hiện tinh thần thất (không) bình thường.

Phiền táo bất an, thần hôn nói nhảm đa số do tà khách (xâm nhập) tâm bào hoặc nhập thận. Phiền là trong ngực (lòng) bực bội không yên, thần bất an đa số thuộc nhiệt.

Điên bệnh biểu hiện dửng dưng (đạm bạc) ít nói, trong lòng u uất không vui, tinh thần trì trệ, nói lảm nhảm một mình, cười khóc vô thường đa số do đàm khí uất kết, trở trệ thần minh gây ra. Nhiều khi cũng do thần bất thủ xá tâm tỳ lưỡng hư.

Cuồng bệnh: đa số biểu hiện điên cuồng hung hãn đánh chửi người, đập phá đồ đạc bất kể thân sơ, hoặc leo cao hát hoặc cởi quần áo chạy lung tung hoặc tự cho mình là người cao quí thông minh, không ăn không ngủ, chạy nhảy lung tung… đa số do khí uất hóa hỏa, đàm hỏa nhiễu tâm gây ra, hoặc do dương minh nhiệt thịnh, tà nhiệt nhiễu lọan thần minh hoặc do súc huyết ứ trở mông bịt (che lấp) thần minh.

Giản bệnh: Đa số biểu hiện đột ngột hôn đảo, sùi bọt mép, tứ chi co giật, sau khi tỉnh như người thường. Đa số do can phong kẹp đàm đi lên trên mông bịt (che lấp) thanh khiếu hoặc do (thuộc) đàm hỏa nhiễu tâm, can phong nội động.

2. Vọng Sắc diện

Là thầy thuốc quan sát vẻ mặt (nhan sắc) ánh lên (quang trạch) của bệnh nhân. Nhan sắc là sự biến đổi của màu sắc, quang trạch là sự thay đổi độ sáng (minh độ). Cổ nhân phân vẻ mặt thành năm loại: Xanh, đỏ, vàng, trắng và đen gọi là ngũ sắc chẩn. Sự biến đổi ngũ sắc được thể hiện rõ nhất trên vùng mặt do đó sách này chỉ giới thiệu nội dung vọng sắc diện.

2.1 Nguyên lý sắc chẩn vùng mặt và ý nghĩa lâm sàng của nó

“Tố vấn – Mạch yếu tinh vi luận” nói: “Phu tinh minh ngũ sắc giả, khí chi hoá dã” (người thông thạo về ngũ sắc chẩn tất biết nó là do khí kỳ hóa), hoặc “Tứ chẩn quyết vi luận” lại nói: “Phu khí do tạng phát, sắc tùy khí hóa”. Điều này cho thấy sắc trạch là ngoại vinh (biểu hiện bên ngoài) của khí huyết tạng phủ. Không chỉ tạng tâm hoá (kỳ hoá) tại diện mà tinh khí các tạng phủ khác cũng thông qua kinh lạc mà vinh tại mặt giống như “Linh khu – Tà khí tạng phủ bệnh hình” có nói “Thập nhị kinh mạch, tam bách lục thập ngũ lạc, kỳ khí huyết giới thượng vu diện nhi tẩu không (khổng) khiếu”. Điều này nói rõ sắc diện và nội tạng có mối liên hệ nội tại do đó vọng sắc trạch vùng mặt có thể biết được sự thịnh suy của khí huyết và sự hiện diện của tà khí.

 Căn cứ vào lý luận học thuyết âm dương, ngũ hành và học thuyết tạng tượng thì ngũ tạng ứng ngũ sắc là: Thanh (xanh) – can; Xích (đỏ) – tâm; Hoàng (vàng) – tỳ; Bạch (trắng) – phế; Hắc (đen) – thận.

Nếu xét về quan hệ giữa khí và sắc thì khí chỉ về sức sống (sinh cơ) ẩn hàm chứa ở trong bì phu. Sắc là huyết sắc nổi hiện lên phía ngoài da (bì phu). “Vọng chẩn tôn kinh” có nói: “Quang minh nhuận trạch giả, khí dã, thanh xích hoàng bạch hắc dã. Hữu khí bất hoạn vô sắc, hữu sắc bất khả vô khí dã. Hợp nhi ngôn chi, nhi khí sắc chi kiến bất khả ly, phân luận chi, nhi khí sắc chi biện bất khả hỗn” (trong sáng tươi tắn nhuận trạch thuộc khí, xanh đỏ trắng vàng đen thuộc sắc, có khí thì phải có sắc, có sắc cũng phải có khí, nói tóm lại khí sắc không thể phân ly, không thể phân biệt luận từng cái. Khí thuộc dương, sắc thuộc âm, do đó khí sắc không thể chia lìa nhưng khí có phần quan trọng hơn (khi vọng khí sắc) “Khí chí sắc bất chí giả sinh, sắc chí khí bất chí giả tử” (được khí mà không được sắc là sống, được sắc mà mất khí là chết), bởi vì “Sắc tùng khí hóa (kỳ hóa = sắc biến hóa theo khí)”. Tóm lại nếu mất đi sinh khí bất luận biểu hiện sắc gì cũng đều là trọng bệnh.

Xét về quan hệ thần và sắc thì cuốn “Y môn pháp luật – Vọng sắc luận” nói “Sắc giả, thần chi kỳ (ngọn cờ) dã. Thần vượng tắc sắc vượng, thần suy tắc sắc suy, thần tàng tắc sắc tàng, thần lộ tắc sắc lộ” cho ta thấy vọng sắc cũng có thể xét (biết) thần.

Tóm lại: quan hệ sắc và khí, thần thể hiện mối quan hệ tay ba tinh khí thần trong học thuyết tạng tượng. Khi vọng sắc thì ngũ sắc là âm huyết, quang trạch thuộc thần khí

2.2 Bộ vị tương quan giữa mặt và tạng phủ

Mọi vị trí trên mặt đều có thể phân chia thuộc tạng phủ, và là cơ sở vọng chẩn vùng mặt. Sắc và vị trí khi kết hợp tốt càng có thể thêm một bước nữa tìm hiểu bệnh tình. Vị trí tạng phủ chia trên mặt căn cứ vào phương pháp phân chia của “Linh khu – Ngũ luận” thì tên gọi phân chia là: Mũi – gọi là Minh đường, giữa hai cung mày – Khuyết, trán – Đình (diện), hai bên má – Phiên, trước tai – Tế 

Dựa vào tên gọi và vị trí tương quan tạng phủ trên mặt ta có: Đình – là diện thủ (đầu mặt), khuyết thượng – hầu họng, khuyết trung (ấn đường) – phế, khuyết hạ (hạ cấp, sơn căn) – tâm, dưới hạ cấp (niên thọ) – can, hai bên phải trái của can – đởm, dưới can (chuẩn đầu) – tỳ. Phương thượng (hai bên của tỳ) – vị. Trung ương (quyền hạ) – đại trường, kẹp bên đại trường là thận, minh đường (tỵ đoan) lên trên – tiểu trường, dưới minh đường – bàng quang tử xứ.

 

Ngoài ra “Tố Vấn – Thích nhiệt” chia mặt tương quan các tạng phủ như: Má trái – can, má phải – phế, trán – tâm, cằm – thận, mũi – tỳ.

Hai cách chia trên thì trên nguyên tắc lấy cái trước làm cơ sở. Cái sau chỉ làm tham khảo. Tóm lại bệnh có cạn sâu, sắc có rõ tối, bệnh cơ phát bệnh có rất nhiều nên khi quan sát các vị trí cũng không thể quá máy móc mà nên linh hoạt vận dụng tứ chẩn hợp tham, nhưng cũng không nên bỏ qua các vị trí quan sát vì sự hoạch phân vị trí là cơ sở của sắc chẩn.

2.3 Mười cách vọng sắc (vọng sắc thập pháp)

Cuốn “Vọng chẩn tôn kinh” có nói: “Đại phàm vọng chẩn, tiên phân bộ vị, hậu quan khí sắc, dục thức ngũ sắc chi tinh vi, đương tri thập pháp chi cương lĩnh” (phàm là khi vọng chẩn trước tiên nên phân vị trí, sau đó mới quan sát khí sắc, muốn biết kỹ lưỡng về ngũ sắc thì tất phải biết cương lĩnh chủ yếu của thập pháp) cho thấy tầm quan trọng của thập pháp trong vọng chẩn. Uông Hồng dựa vào lý luận của “Nội kinh” tổng kết kinh nghiệm cá nhân rút ra mười phương pháp là: phù trầm, thanh trọc, vi thâm, tán bác, trạch yểu.

Phù là sắc biểu hiện ở da (giữa) chủ bệnh tại biểu

Trầm là sắc ẩn trong da chủ bệnh tại lý. Mới đầu là phù sau trầm là bệnh từ biểu nhập lý. Mới đầu trầm (sơ trầm) sau phù là bệnh từ lý xuất biểu

Thanh là thanh minh (trong sáng) sắc của nó thư thái (kỳ sắc thư) chủ bệnh tại dương

Trọc là trọc ám (u tối) màu sắc thê thảm (kỳ sắc thảm) chủ bệnh tại âm. Từ thanh mà sang trọc là dương bệnh chuyển âm, từ trọc chuyển thanh là âm bệnh chuyển dương

Vi là sắc cạn nhạt (thiển đạm) chủ chứng khí hư Thâm là sắc thâm đậm chủ tà khí thịnh.

Tán là dàn trải, sắc của nó mở (kỳ sắc khai) chủ bệnh gần khỏi.

Bác là úng trệ sắc bế chủ bệnh lâu ngày dần tụ lại (tiệm tụ). Trước tán sau bác là bệnh tuy mới nhưng dần tụ lại. Tiên bác hậu tán là bệnh tuy lâu ngày nhưng gần giải được tụ.

Trạch là khí sắc nhuận trạch chủ sinh (sống)

Yểu là khí sắc khô héo chủ tử (chết). Trước yểu mà sau chuyển dần sang trạch là tinh thần phục thịnh. Tiên trạch hậu yểu là khí huyết điều suy.

Tóm lại: Thập pháp từ tổng thể biện biểu lý, âm dương, hư thực, lâu mới, thành bại. “Vọng chẩn tôn kinh” có nói: “Cái thập pháp giả, biện kỳ sắc chi khí dã, ngũ sắc dã biện kỳ khí chi sắc dã” (thập pháp là phân biện khí của sắc, ngũ sắc là phân biện về sắc của khí). Đây là ý nghĩa của thập pháp và quan hệ của nó với vọng chẩn.