#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Học thuyết Tinh, khí, huyết, tân dịch và thần (phần 4)

6. Quan hệ giữa khí huyết tân dịch

Khí huyết tân dịch của cơ thể đều có những đặc điểm và chức năng khác nhau. Khí huyết tân dịch là chất cơ bản cấu thành cơ thể và duy trì hoạt động sống. Tất cả chúng đều dựa vào sự bổ sung không ngừng thủy cốc tinh vi do tỳ vị hóa sinh. Dưới sự chỉ đạo (chủ trì) của hoạt động chức năng các tạng phủ, cơ quan và thần, giữa chúng có sự thẩm thấu tương hỗ, tương hỗ xúc tiến (thúc đẩy), tương hỗ chuyển hóa. Trên mặt chức năng sinh lý chúng lại tồn tại quan hệ tương hỗ y tồn (cùng tồn tại), tương hỗ chế ước và tương hỗ vi dụng. 

6.1 Quan hệ giữa khí và huyết

Khí thuộc dương, chủ về động, chủ về ôn húc (ấm áp): Huyết thuộc âm, chủ về tịnh, chủ nhu nhuận. Đây là sự khác biệt về thuộc tính và chức năng của chúng. Nhưng cả hai đều có nguồn gốc từ thủy cốc tinh vi do tỳ vị hóa sinh và tinh khí trong thận. Trên phương diện sinh thành, phân bố (vận hành) có quan hệ mật thiết. Do vậy khí và huyết không thể tách rời nhau như âm dương hỗ căn, đây cũng là lẽ tự nhiên vậy. Kiểu quan hệ đó có thể khái quát là: “Khí vi huyết chi soái” “Huyết vi khí chi mẫu”. 

Quan hệ khí đối với huyết

Khí vi huyết soái có ba ý: khí năng sinh huyết, khí năng hành huyết, khí năng nhiếp huyết. 1.1.1. Khí năng sinh huyết 

– Thứ nhất là chỉ sự khí hóa chính là động lực sinh ra huyết. Từ lúc nhiếp nhập đồ ăn chuyển hóa thành thủy cốc tinh vi, từ thủy cốc tinh vi chuyển hóa thành dinh khí và tân dịch, từ dinh khí và tân dịch chuyển hóa thành huyết dịch màu đỏ… mọi quá trình tầng nấc chuyển hóa trên không thể thiếu sự khí hóa. Mà khí hóa lại được biểu hiện thông qua hoạt động chức năng tạng phủ. Tức là khi chức năng hoạt động tạng phủ vượng thịnh thì chức năng hóa sinh huyết dịch cũng mạnh, năng lực khí hóa giảm yếu thì chức năng tạng phủ cũng suy thoái và chức năng sinh huyết dịch cũng kém. 

– Thứ hai chỉ về khí là nguyên liệu sản xuất ra huyết dịch. Ở đây chủ yếu chỉ về dinh khí. Do đó khí vượng tắc huyết sung, khí hư tắc huyết thiểu. Trên lâm sàng gặp trường hợp cần điều trị huyết hư ta nên phối hợp thêm thuốc bổ khí vì bổ khí là bổ huyết. 

Khí năng hành huyết 

Chỉ về tác dụng thúc đẩy của khí là động lực cho sự tuần hoàn huyết dịch. Khí một mặt có thể trực tiếp thúc đẩy huyết hành, ví dụ tông khí. Mặt khác lại có tác dụng thúc đẩy hoạt động chức năng tạng phủ, thông qua hoạt động chức năng đó sẽ thúc đẩy huyết dịch vận hành. Sự vận động bình thường của khí có ý nghĩa rất quan trọng trong sự bảo đảm sự vận hành của huyết. Do vậy khi điều trị huyết hành thất thường ta thường dùng phương pháp điều khí là chính yếu, điều huyết là thứ yếu, ví dụ khí hư không thể hành huyết biểu hiện sắc mặt nhợt nhạt, khi bổ khí hành huyết sắc mặt sẽ tươi lại. Khí trệ huyết ứ, phụ nữ bế kinh điều trị hành khí hoạt huyết thì kinh sẽ thông. Tóm lại, khí hành tắc huyết hành, khí chỉ tắc huyết chỉ. 

Khí năng nhiếp huyết

Tức là khí có tác dụng thống nhiếp huyết, làm cho huyết tuần hoàn bình thường trong lòng mạch. Khí nhiếp huyết trên thực tế là tác dụng tỳ thống huyết. Nếu tỳ hư không thống nhiếp huyết thì huyết sẽ vô sở chủ sẽ thoát hãm lộng hành (thoát khỏi sự kìm hãm mà chảy lung tung, xuất huyết). Khí bất nhiếp huyết sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh về huyết nhất thiết phải dùng phương pháp bổ khí nhiếp huyết mới có thể đạt được mục đích cầm máu. Ví dụ lâm sàng gặp trường hợp huyết thoát nguy kịch phải dùng đại tễ Độc sâm thang bổ khí nhiếp huyết, khi khí sung huyết sẽ chỉ (ngừng chảy). 

6.2 Quan hệ huyết đối với khí

Tức là quan hệ “Huyết vi khí mẫu”, đây là chỉ sự sinh thành và vận động của khí không thể tách rời huyết, vì: 

– Thứ nhất, huyết năng sinh khí. Khí tồn huyết trung (khí tồn tại trong huyết), huyết không ngừng cung cấp thủy cốc tinh vi giúp sự sinh thành và hoạt động chức năng của khí. Thủy cốc tinh vi là chất cơ bản để sinh ra và duy trì hoạt động sinh lý của tạng phủ kinh lạc. Mà thủy cốc tinh vi lại nhờ vào huyết để vận chuyển không ngừng để nuôi dưỡng tạng phủ. Từ đó mới có thể làm cho sự sinh thành và vận hành của khí bình thường. Vì vậy huyết thịnh thì khí vượng, huyết hư khí thiểu. 

– Thứ hai, huyết có thể tải khí, khí tồn trong huyết nhờ huyết vận chuyển toàn thân. Huyết vi khí chi thủ (coi giữ) khí tất phải nhờ dựa vào huyết để tịnh mật (yên lặng). Nếu huyết không tải khí thì khí sẽ dễ lưu tán, không có chỗ để qui tụ. Lâm sàng mỗi khi thất xuất huyết nhiều thường có xuất hiện khí tùy (theo) huyết tán. 

6.3 Quan hệ giữa khí và tân dịch

Khí thuộc dương, tân dịch thuộc âm. Tuy thuộc tính khác nhau nhưng cả hai cùng có nguồn gốc từ tỳ vị vận hóa thủy cốc tinh vi. Quá trình hình thành và phân bố của chúng có quan hệ khăng khít. Trên bệnh lý thì khi khí bệnh sẽ dẫn đến thủy bệnh và ngược lại. Bởi vậy trong điều trị trị khí có thể trị thủy và ngược lại. 

Quan hệ khí đối với tân dịch biểu hiện: Khí có thể sinh tân, hành tân, nhiếp tân. 

* Khí có thể sinh tân 

Khí là vật chất và động lực sinh tân dịch, tân dịch có nguồn gốc từ thủy cốc tinh khí mà thủy cốc tinh khí nhờ tỳ vị vận hóa mà có. Khí thúc đẩy và kích phát hoạt động chức năng của tỳ vị làm cho trung tiêu chi khí vượng thịnh, vận hóa bình thường thì tân dịch mới sung túc. Bởi vậy sự sinh ra tân dịch không thể tách rời tác dụng của khí. 

* Khí có thể hành (vận hành) tân 

Ở đây chỉ về sự vận động biến hóa của khí là động lực cần thiết cho sự phân bố và bài tiết tân dịch. Thăng giáng xuất nhập của khí tác động đến tạng phủ mà tỳ, phế, thận can thăng giáng xuất nhập sẽ hoàn thành quá trình phân bố, bài tiết tân dịch. Do đó “Khí hành thủy diệc hành”. Khi sự vận động của khí không bình thường thì quá trình phân bố bài tiết cũng bị trở ngại. Do khí suy, khí trệ sẽ gây ra tân dịch đình trệ đây là hiện tượng khí bất hành thủy, đây là căn cứ lý luận hành khí và hành thủy thường dùng trên lâm sàng. 

* Khí năng nhiếp tân 

Tác dụng cố nhiếp của khí sẽ khống chế tân dịch bài tiết. Tác dụng đó cũng sẽ khống chế và duy trì một lượng tân dịch nhất định trong cơ thể. Nếu tác dụng cố nhiếp giảm thì mồ hôi sẽ nhiều, tiểu nhiều, đái dầm… Trên lâm sàng cần chú ý bổ khí trong những trường hợp này. 

6.4 Quan hệ tân dịch đối với khí 

Thủy cốc sinh tân dịch thông qua tỳ khí thăng thanh tán tinh đưa lên phế, kinh qua tác dụng tuyên giáng thông điều thủy đạo, đưa xuống bàng quang và thận. Dưới tác dụng chưng đằng của khí nguyên dương mà hóa thành khí, tán bố tạng phủ. Phát huy tác dụng tư dưỡng để duy trì hoạt động bình thường của tạng phủ cơ quan. Ngoài ra tân dịch là một trong những chất tải vận khí, khí dựa vào tân dịch mà tồn tại nếu không sẽ tứ tán bất định và không chỗ qui tụ. Do đó khi tân dịch bị tổn thất mất mát tất dẫn đến khí cũng hao tổn. Ví dụ thương thử hao tân tổn dịch ngoài miệng khát muốn uống nước ra thì khí cũng ngoại tiết theo tân dịch mà gây ra khí bất túc hụt hơi, lười nói chuyện, tay chân uể oải. 

6.5 Quan hệ huyết đối với tân dịch 

Huyết dịch ngấm ra ngoài mạch sẽ hóa thành tân dịch có tác dụng nhu nhuận. Khi huyết dịch bất túc sẽ dẫn đến bệnh của tân dịch, như huyết ứ kết không thể thấm ra ngoài mạch để tạo tân dịch dưỡng da cơ… sẽ xuất hiện da khô, và khi mất máu nhiều tân dịch ngoài mạch thấm ngược vào mạch để bổ sung lượng huyết thiếu nên xuất hiện miệng khát, tiểu ít, da khô… Do vậy có câu rằng “Đoạt huyết giả vô hạn” (mất máu sẽ không mồ hôi) “Nục gia bất khả phát hạn” “Vong huyết gia bất khả phát hạn”. 

6.6 Quan hệ tân dịch đối với huyết 

Cả hai cùng nguồn gốc và tân dịch không ngừng thấm vào khổng lạc (những lỗ nhỏ trên lạc mạch) để thành huyết, do đó có thuyết cho rằng “Tân huyết đồng nguyên”. Mồ hôi do tân dịch hóa ra, nếu ra mồ hôi nhiều sẽ tổn hao tân dịch, tân hao huyết thiểu do đó cũng có câu “Huyết hạn đồng nguyên”. —————————-   

Tóm lại: Tinh có thể hóa khí, khí có thể hóa tinh, tinh khí hỗ hóa; tinh khí sinh thần, tinh khí dưỡng thần, mà thần ngược lại thống ngự tinh và khí. Do đó ba thứ tinh khí thần tuy có thể phân ra nhưng không thể tách biệt (khả phân bất khả ly). 

Học thuyết Tinh, Khí, Thần đặc biệt coi trọng tác dụng của thần như cuốn “Dưỡng sinh tam yếu – Tồn thần” có nêu: “Tụ sinh tại vu dưỡng khí, dưỡng khí tại vu tồn thần, thần chi vu khí, do mẫu chi vu tử dã. Cố thần ngưng tắc khí tụ, thần tán tắc khí tiêu, nhược bảo tích (tiếc) tinh khí bất tri tồn thần, thị nhi kỳ hóa nhi vọng căn hề” (tinh tích tụ lại mới dưỡng được khí, dưỡng khí mới tồn thần được, quan hệ thần và khí giống như mẹ và con, do đó thần ngưng thì khí mới tụ…). Qua đó cho thấy: thần là chủ tể cai quản tinh khí và tất cả những hoạt động sống của cơ thể.  

 

 

Tên

  Chức năng

 Nguồn gốc

TinhCơ sở vật chất cho sự sống và họạt độngTiên thiên, hậu thiên Tàng trữ ở thận
KhíDuy trì sự sống Thúc đẩy khí huyết kinh lạc, tạng phủ họat động Tác dụng riêng nơi trú ngụ 4 loại khí: Nguyên, tông, dinh, vệ khíTiên thiên, hậu thiên
HuyếtNuôi dưỡng cơ thểChất tinh vi thủy cốc Dinh khí Tinh ở thận Liên quan tỳ, phế thận
Tân dịchNuôi dưỡng cơ thể Tạo huyết dịch, bổ sung nước Bổ sung tinh tủy, nhuận khớpTỳ vị vận hóa Tam tiêu khí hóa
ThầnHọat động tinh thần Biểu hiện bên ngoài của  tinh, khí , huyết, tân dịch, tình trạng bệnhTinh khí huyết nuôi dưỡng

Nguồn: Tổng hợp