3. Huyết
Huyết là chất lỏng màu đỏ chảy trong mạch, tuần hoàn đến mọi chỗ trong cơ thể. Huyết có tác dụng dinh dưỡng và tư nhuận và là một trong những vật chất cơ bản cấu thành cơ thể và duy trì hoạt động sống. Mạch là đường để huyết dịch vận hành còn gọi là “Huyết phủ”.
3.1 Vật chất chủ yếu hóa sinh ra huyết
Chính là thủy cốc tinh vi, nên “Linh khu – Quyết khí” nói: “Trung tiêu thụ khí thủ trấp, biến hóa nhi xích, thị vị huyết”. Khí mà nhận được (thụ khí) ở đây chủ yếu chỉ về khí tinh của thức ăn tức là dinh khí. Trấp ở đây là chỉ về tân dịch. Cả hai đều là thủy cốc tinh vi mà đi vào trong mạch biến hóa thành dịch màu đỏ tức là huyết. Do thủy cốc tinh vi do tỳ vị hóa sinh mà có nên có câu tỳ vị là nguồn gốc sinh ra khí huyết (khí huyết sinh hóa chi nguyên). Chức năng vận hóa tỳ vị cường hoặc nhược sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự hóa sinh huyết dịch.
3.2. Quan hệ tạng phủ và sự sinh huyết
Tỳ vị – Vốn là hậu thiên chi bản và nguồn gốc sinh khí huyết nên ảnh hưởng trực tiếp đến sinh thành khí huyết. Nếu trung tiêu tỳ vị hư nhược, hóa nguyên bất túc thường dẫn đến huyết hư.
Tâm – Tâm chủ huyết mạch, một mặt có tác dụng hành huyết và đưa dinh dưỡng đến toàn thân, tạng phủ, duy trì hoạt động sống, đồng thời cũng thúc đẩy sinh huyết. Mặt khác, thủy cốc tinh vi thông qua tác dụng vận chuyển thượng thanh của tỳ đưa lên tâm phế. Ở phế sau khi thổ cố nạp tân (trao đổi cũ mới) lại đưa về tâm mạch mà hóa thành huyết. Do vậy “Lữ Tiên Đường loại biện” có nói: “Huyết nãi trung tiêu chi trấp, lưu dật vu trung dĩ vi tinh, phụng tâm hòa xích vi huyết” (huyết vẫn là nước của trung tiêu chảy đầy trong mạch mà thành tinh, nhờ tâm biến huyết màu đỏ). Tâm có tham gia vào quá trình hình thành huyết nên lại có câu “Tâm chủ huyết”.
Can – “Tố vấn – Lục tiết tàng tượng luận” có nói: Can chủ về cân nhưng cũng sinh ra huyết. Ở đây lý giải là can thuộc mộc trong ngũ hành, ứng với mùa xuân sinh phát. Can khí giúp tỳ và tâm sinh huyết.
Thận – Có hai tác dụng trong quá trình tàng và sinh huyết.
Tinh khí của thận sinh ra nguyên khí, thúc đẩy tỳ vị hóa sinh thủy cốc tinh vi và nhờ tâm biến thành huyết.
Thận tàng tinh, tinh và huyết có thể hỗ hóa (biến hóa cho nhau) tức là huyết có thể dưỡng tinh, tinh có thể hóa huyết, do đó có câu “Tinh huyết đồng nguyên”.
3.3 Phương thức tuần hoàn huyết dịch
Mạch vi huyết vi phủ, mạch là một hệ thống liên hoàn tương đối kín, huyết dịch vận hành trong mạch không ngừng đến mọi nơi trong cơ thể để dinh dưỡng trên dưới trong ngoài. Dinh khí và tân dịch kết hợp thành huyết. Dinh khí vận hành tuần tự trong 14 kinh được đa số y gia xưa công nhận cũng là đường vận hành của huyết
3.4 Sự tuần hành của huyết và quan hệ với tạng phủ
Sự tuần hoàn bình thường phải cụ bị đủ ba điều kiện:
Huyết dịch đầy đủ (xung doanh):.
Hệ mạch quản hoàn chỉnh và thông suốt.
Các tạng phủ phát huy đầy đủ chức năng sinh lý của nó. Đặc biệt là tâm, phế, can, tỳ có quan hệ rất mật thiết.
* Tâm chủ huyết mạch: Tâm là động lực chính của sự tuần hoàn huyết, mạch là thông đạo của tuần hoàn huyết. Dưới sự thúc đẩy của tâm khí huyết sẽ chảy trong mạch đi khắp nơi. Tạng tâm, mạch quản và huyết dịch cấu tạo thành một hệ tương đối độc lập. Sức đẩy của tâm khí có bình thường hoặc không sẽ là quyết định quan trọng trong tuần hoàn huyết.
* Phế triều bách mạch: Sự tuần hoàn huyết dựa vào khí thúc đẩy, thăng giáng mà đi khắp châu thân. Phế lại chủ nhất thân chi khí (khí của toàn thân) tư hô hấp, điều tiết khí cơ toàn thân,hỗ trợ tâm tạng thúc đẩy và điều tiết vận hành khí huyết.
* Tỳ chủ thống huyết: Huyết của lục phủ ngũ tạng dựa hoàn toàn vào sự thống nhiếp của tỳ. Tỳ khí vượng thì tác dụng cố nhiếp của khí cũng kiện toàn, huyết không chảy ra ngoài mạch.
* Can chủ tàng huyết: Can có tác dụng trữ tàng và điều tiết huyết dịch. Căn cứ vào hoàn cảnh động tính khác nhau mà điều tiết lượng huyết trong mạch, duy trì một lượng huyết hằng định trong mạch. Ngoài ra chức năng sơ tiết của can có thể điều sướng (thông) khí cơ làm huyết vận hành thông suốt. Đồng thời can tàng huyết cũng có tác dụng đề phòng sự thiếu hụt huyết (thất huyết).
3.5 Nhu dưỡng tư nhuận toàn thân tạng phủ cơ quan
Huyết thịnh tắc hình thịnh (hình là hình thể) huyết bại tắc hình nuy.
Vật chất cơ bản cần trong hoạt động tinh thần (thần trí) Tác dụng này của huyết có được là do người xưa qua một lượng lớn quan sát lâm sàng mà rút ra. Bất luận do nguyên nhân nào mà gây ra huyết hư hoặc vận hành thất thường đều có xuất hiện những triệu chứng tinh thần với những mức độ khác nhau. Tâm huyết hư, can huyết hư thường hay kinh quí (sợ hãi, giật mình) mất ngủ, mơ nhiều… những biểu hiện bất an thất huyết (mất máu) nhiều xuất hiện bực bội phiền táo, hoảng hốt, hôn mê… “Linh khu – Dinh vệ sinh hội” nói: “Huyết giả, thần khí dã”. ———————————
3.6 Bệnh lý
– Huyết hư
Nguyên nhân: mất ngủ quá nhiều, hoặc sinh huyết không đủ như dinh dưỡng kém, công năng hấp thu của tỳ vị yếu, thận tinh hao hư không thể sinh tủy hóa huyết được….
Lâm sàng: sắc mặt ám vàng, móng chân tay trắng nhợt, không tươi, hoa mắt chóng mặt, nhìn vật mờ, mệt mỏi, tê chân tay, phụ nữ thống kinh, bế kinh hoặc kinh nhạt màu, số lượng giảm, mạch vi nhược vô lực, chất lưỡi nhạt, rêu trắng.
– Huyết ứNguyên nhân: huyết dịch vận hành không thông, hoặc huyết dịch trệ tắc ở kinh mạch- tạng phủ- tổ chức, hoặc huyết rời khỏi kinh mạch nhưng không thoát ra ngoài
Lâm sàng: đau lâu ngày, đau dữ dội, đau cố định, tại chỗ ám tím hoặc nổi hòn khối, sắc mặt ám tối, phụ nữ thống kinh- bế kinh- đau bụng kinh, môi tím, móng chân tay tím, chất lưỡi ám tím hoặc có ban ứ huyết.
– Xuất huyết: huyết không vận chuyển trong kinh mạch mà thoát ra ngoài.Nguyên nhân là do ngoại thương, hỏa nhiệt, âm hư hỏa vượng bức huyết vong hanh, khí hư không nhiếp huyết, can uất không tàng huyết, huyết ứ nội trệ làm huyết không quy kinh, tình chí hóa hỏa làm huyết theo khí mà thượng nghịch lên trên…
Lâm sàng: chóng mặt, nôn, ho ra máu, đại tiểu tiện ra máu, xuất huyết ở bụng ngực, xuất huyết ở tứ chi…
4. Tân dịch
4.1 Khái niệm
Là tên gọi chung tất cả thủy dịch bình thường trong cơ thể. Bao gồm thể dịch nội tại trong tạng phủ, tổ chức và dịch bài tiết bình thường, ví dụ: dịch vị, dịch ruột, nước mắt mũi, nước bọt… Trong cơ thể ngoại trừ huyết ra còn lại mọi chất lỏng bình thường đều thuộc tân dịch.
Tân dịch có tác dụng tư nhuận nhu dưỡng, đồng thời tân dịch có thể tải khí, khí của toàn thân dựa vào tân dịch để vận tải khắp nơi. Tân dịch cũng là một trong những chất cơ bản tạo huyết dịch, có quan hệ rất khăng khít với sinh thành và vận hành của huyết. Do vậy tân dịch không chỉ là chất cơ bản cấu thành cơ thể mà còn là chất duy trì hoạt động sống.
Tân và dịch tuy cùng thuộc là thủy dịch nhưng tính trạng, chức năng và vị trí phân bố có những khác biết nhất định. Thông thường thì tính chất trong loãng, lưu động dễ, chủ yếu phân bố ở thể biểu, bì phu, cơ nhục, hạn khổng (lỗ chân lông), đồng thời thấm vào huyết mạch, có tác dụng tư nhuận là tân. Tính trạng đậm đặc ít lưu động, phân bố ở khớp, tạng phủ, não, tủy có tác dụng nhu nhuận là dịch. Tân dịch có nguồn gốc từ ẩm thực thủy cốc đều dựa vào tỳ vị vận hóa mà thành.. Hai cái thường bổ sung tương hỗ nhau trong quá trình vận hành, chuyển hóa nên trong bệnh lý cũng thường ảnh hưởng nhau. Thường thì không cần phân biệt một cách tỷ mỷ bệnh lý. Chỉ trong những bệnh lý biến hóa “Thương tân” “Thoát dịch” mới cần biện chứng luận trị, phân biệt rõ.
4.2 Sự hình thành của tân dịch
Đây là một quá trình sinh lý phức tạp có sự tham gia của nhiều tạng phủ. Do vậy “Tố vấn chương kinh mạch biệt luận” có nói: “Ẩm nhập vu vị, du dật tinh khí, thượng thâu vu tỳ, tỳ khí tán tinh, thượng qui vu phế, thông điều thủy đạo, hạ thâu (đi xuống) bàng quang, thủy tinh tứ bố, ngũ kinh tịnh hành” đó là quá trình chuyển hóa (đơn giản) của tân dịch (đồ ăn uống vào vị thành tinh khí nhờ tỳ đưa lên phế phân bố khắp đi xuống bàng quang, phân bố khắp nơi…)
Tân dịch có nguồn gốc từ ẩm thực thủy cốc, thông qua tỳ vị, tiểu trường, đại trường hấp thu thủy phần và dinh dưỡng mà thành. Quá trình cụ thể như sau:
* Tỳ vị vận hóa: Vị chủ thu nạp và làm chín thức ăn (hủ thục), nhờ tinh khí dư lại (du dật) mà hấp thu một phần tinh vi (dưỡng chất) trong thủy cốc. Tỳ chủ vận hóa, nhờ tỳ khí thăng thanh mang cốc khí (chất bổ trong đồ ăn) và tân dịch mà vị trường đã hấp thu lên trên phế, sau đó phân bố toàn thân.
* Tiểu trường chủ dịch: Tiểu trường tách biệt thanh trọc, hấp thu đại bộ phận chất bổ và nước trong đồ ăn, đưa lên tỳ và phân bố toàn thân, đồng thời đem những sản phẩm thủy dịch sau chuyển hóa xuống thận bàng quang, những chất bã cặn xuống đại trường.
* Đại trường chủ tân: Đại trường tiếp thu cặn bã đồ ăn và một phần thủy dịch từ tiểu trường xuống hấp thu lại một phần nước và làm khuôn cặn bã tống ra ngoài. Đại trường thông qua chức năng chủ tân nên có tham gia vào quá trình sinh ra tân dịch. Vị tiểu trường, đại trường hấp thu thủy cốc tinh vi (tân dịch) cũng đưa lên tỳ thông qua tác dụng “Tỳ khí tán tinh” mà phân bố khắp toàn thân.
4.3 Phân bố tân dịch
Sự phân bố này chủ yếu dựa vào tỳ phế, thận, can, tam tiêu cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ này.
* Tỳ khí tán tinh: Tỳ chủ vận hóa thủy cốc tinh vi, thông qua tác dụng chuyển vận một mặt đem tân dịch lên phế, do phế tuyên phát túc giáng, đem tân dịch phân bố toàn thân và tưới nhuần tạng phủ, hình thể và các khiếu. Một mặt có thể trực tiếp phân tán tới toàn thân.
* Phế chủ hành thủy: Phế chủ hành (vận hành) thủy, thông điều thủy đạo, được coi là thượng nguồn của thủy. Sau khi tiếp thu tân dịch do tỳ chuyển tới một mặt thông qua tác dụng tuyên phát phân bố tân dịch lên phía trên và phía ngoài (thể biểu), mặt khác thông qua tác dụng túc giáng đem tân dịch xuống thận và bàng quang và các bộ phận phía dưới cùng với hình thể.
* Thận chủ tân dịch: “Tố vấn – Nghịch điều luận” có nói: “Thận giả thủy tạng, chủ tân dịch”. Thận giữ vai trò chủ đạo trong việc phân bố tân dịch, chủ yếu biểu hiện ở hai mặt:
Ø Tác dụng chưng đằng khí hóa tinh khí trong thận là động lực thúc đẩy quá trình “Du dật tinh khí” trong vị, “Tán tinh” của tỳ, “Thông điều thủy đạo” của phế và “Phân tách thanh trọc” của tiểu trường.
Ø Dưới tác dụng khí hóa của thận, tân dịch do phế chuyển xuống thì phần thanh sẽ được chưng đằng thông qua tam tiêu lại chuyển ngược lên phế để phân bố toàn thân, phần trọc hóa thành niệu dịch chuyển xuống bàng quang.
* Can chủ sơ tiết: Làm cho khí cơ thông suốt, tam tiêu khí trị, khí hành tắc tân hành thúc đẩy sự phân bố châu thân của tân dịch.
* Tam tiêu quyết độc: (độc = rãnh nhỏ) tam tiêu là “Quyết độc chi quan” (quyết là chủ trì) nói lên tam tiêu là thông đạo chuyển vận tân dịch trong cơ thể.
4.4 Sự bài tiết tân dịch
Sự bài tiết cũng giống như sự phân bố, chủ yếu cũng dựa phế, tỳ, thận kết hợp. Đường bài tiết cụ thể gồm:
* Hạn (mồ hôi), hô hấp: Phế khí tuyên phát đem tân dịch phân bố ở bên ngoài thể biểu bì mao, bị dương khí chưng đằng mà thành mồ hôi bài tiết từ lỗ chân lông (hạn khổng). Phế chủ hô hấp khi thở ra cũng đem theo một phần tân dịch (thủy phần).
* Niệu: Nước tiểu là sản phẩm cuối cùng của sự chuyển hóa tân dịch. Sự hình thành nước tiểu tuy có sự liên kết giữa phế, tỳ, thận nhưng đặc biệt thận giữ phần quan trọng nhất. Sự kết hợp tác dụng khí hóa của thận và bàng quang sẽ cùng làm ra nước tiểu và tống ra ngoài cơ thể. Thận là khâu then chốt giữ thăng bằng trong quá trình chuyển hóa tân dịch. Do vậy có câu: Thủy vi âm, kỳ bản tại thận.
* Phân: Đại trường bài tiết
4.5 Công năng của tân dịch
* Tác dụng tư nhuận và nhu dưỡng
Tân dịch chứa nhiều chất dinh dưỡng, nó là vật chất thuộc thể dịch có tác dụng nhu dưỡng. Thường thì tân trong và lỏng nên tác dụng tư nhuận (tư nhuận là bôi trơn) tương đối rõ. Dịch hơi đặc nên tác dụng dinh dưỡng hơi rõ. Tân dịch phân tán ở cơ biểu sẽ tư dưỡng bì phu (da lông). Khi chảy về các khổng (lỗ) khiếu tác dụng tư dưỡng bảo hộ mắt (mục), mũi, miệng. Lưu hành vào tạng phủ có tác dụng tư dưỡng nội tạng. Thấm vào cốt tủy sẽ sung dưỡng cốt tủy, não tủy, vào khớp nhuận hoạt khớp.
* Hóa sinh huyết dịch
Tân dịch thấm nhập huyết mạch qua các khổng lạc và trở thành một thành tố quan trọng trong việc hình thành huyết dịch.
* Điều tiết bình hành âm dương của cơ thể
Sự chuyển hóa tân dịch của cơ thể có tác dụng quan trọng trong việc giữ thăng bằng âm dương. Tân dịch thường tùy theo tình trạng sinh lý trong cơ thể và những biến đổi môi trường mà biến đổi nhằm mục đích điều tiết thăng bằng âm dương.
* Bài tiết sản phẩm của quá trình chuyển hóa
Mồ hôi, nước tiểu, phân là những sản vật sau cùng của chuyển hóa tân dịch sẽ được tống ra ngoài.
* Vận tải khí toàn thân
Tân dịch là một trong những thành phần có tác dụng chuyển tải khí vì: khí của cơ thể phụ thuộc vào tân dịch để tồn tại, vận động và biến hóa. Do đó khi đổ mồ hôi nhiều, nôn ói, tiêu chảy… sẽ làm mất đi lượng tân dịch lớn và khí có thể sẽ theo đó mà thoát, tức là khí tùy dịch thoát. Do đó có câu: “Đại hạn vong dương, thổ hạ chi dư, định vô nguyên khí” là vậy. —————————-
4.6 Bệnh lý
a. Thương tân và thương âm
– Tân dịch bất túc mức độ nhẹ gọi là thương tân, mất độ nặng gọi là thương âm.
– Nguyên nhân
Thu nhiếp bất túc hoặc do tỳ vị hóa sinh hấp thu trở ngại
Ra mồ hôi nhiều, nôn nhiều, đại tiện lỏng nát, xuất huyết nhiều.
Sốt cao, trúng thử, âm hư nội nhiệt
– Biểu hiện lâm sàng: miệng khát, họng khô, môi táo, da lông khô, đại tiện bí, tiểu tiện ít, lưỡi khô ít tân, mạch vi sác vô lực…
Thương âm còn có thể thấy chất lưỡi hồng giáng, khô.
b. Thủy thũng
– Thủy thũng là do tân dịch không vận chuyển và bài tiết được, làm cho thủy thấp tụ lại bên trong gây nên. Nguyên nhân là do phế mất tuyên giáng, không thể thông điều thủy đạo được, tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình lưu, thận dương khí hóa bất lợi, nước tiểu giảm, thủy thấp lan tràn .
– Lâm sàng: mặt – tứ chi phù thũng, hoặc tích nước trong ổ bụng.
5. Thần
Thần là gì? Có bốn loại hàm ý:
a/ Biểu hiện của sự vận động biến hóa của vật chất trong tự nhiên và quy luật nội tại của nó. “Tố vấn – Thiên nguyên kỷ đại luận” có nói “Vật sinh vị chi hóa, vật cực vị chi biến, âm dương bấc trắc vị chi thần” (vật được sinh ra gọi là hóa, vật phát triển lớn lên gọi là biến, cái sự âm dương biến hóa khôn lường đó gọi là thần). Tuân Huống trong “Tuân tử – Thiên luận” có nói: Vạn vật được sinh ra bởi sự kết hợp hài hòa (không nhìn được), phát triển trưởng thành nhờ sự nuôi dưỡng (không thấy được), vậy những sự vật đó chỉ được cảm nhận thông qua sự hiện hữu thấy được. Những hình thức không thấy được (hóa, dưỡng) gọi là thần. Cuốn “Hoài nam tử – Thái huấn thiên” có nói: “Kỳ sinh vật dã, mạc kiến kỳ sở dưỡng nhi vật trưởng, kỳ sát vật dã, mục kiến kỳ sở ai nhi vật vong, thử chi vị thần minh” (sinh vật sống, không nhìn thấy sự dưỡng nuôi mà vật phát triển, sinh vật chết không nhìn thấy sự bị thương mà chết, những thứ không thấy được gọi là thần minh). Những chữ thần đã đề cập là chỉ về sự vận động biến hóa thần kỳ, ảo diệu trong tự nhiên và chỉ về quy luật nội tại của sự vật.
b/ Cơ quan quyền lực cao nhất, chủ tể về hoạt động sống trong con người. “Tố vấn – Linh lan bí điển luận” có đề cập tạng tâm là tạng chủ soái là nơi xuất nhập của thần minh. Hay “Tố vấn – Tuyên minh ngũ khí luận” có nói: tâm tàng thần… tâm chủ về hoạt động tâm sinh lý của con người.
c/ Những biểu hiện ngoại tại về sức sống (hoạt động sống) trong con người. Đắc thần tắc sống thất thần tắc chết. Trong chẩn đoán học hay dùng chữ thần khí để chỉ về biểu hiện bên ngoài.
d/ Những hoạt động tư duy, ý thức tinh thần của con người. Trong bốn hàm ý trên thì ba cái sau có quan hệ rất khắng khít với trung y học.
Những nhà dưỡng sinh từ trước tới nay đều rất coi trọng Tinh, Khí, Thần đã gọi nó là “Tam bảo” của con người đồng thời đã sáng lập học thuyết Tinh, Khí, Thần.
Trong học thuyết Tinh, Khí, Thần có đề cập tới tinh là chủ yếu chỉ về tinh được tàng trong thận. Thứ tinh này được bẩm thụ từ cha mẹ (tiên thiên), đồng thời nhờ vào tinh khí hậu thiên tư dưỡng mà xung mãn. Thận tinh hóa sinh (sinh ra) nguyên khí vận hành khắp nơi, thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục và duy trì nòi giống, đồng thời nó cũng có chức năng thúc đẩy, điều tiết hoạt động sinh lý, là nguồn gốc động lực của hoạt động sống. Đồng thời trong quá trình sinh sản nòi giống, hai thứ tinh nam và nữ giao hợp mới sản sinh ra một cơ thể sống mới. Do đó thứ tinh này rất quan trọng đối với mỗi cá nhân và nòi giống vì vậy cần phải quí trọng nó.
Khí được đề cập trong học thuyết này là chỉ về thứ khí mà được tạo ra bởi thận tinh kết hợp với thủy cốc tinh khí và thanh khí trong tự nhiên, cả ba cùng tạo nên tinh khí trong con người và là động lực duy trì hoạt động sống.
Thần trong học thuyết này là nói về hàm ý thứ hai và tư (ở trên) trong đó chủ yếu là hàm ý hai vì khái niệm thứ tư cũng có bao gồm cả khái niệm thứ hai, do đó thần là chủ tể của tất cả các hoạt động sống.
Thần là do tinh khí hóa sinh mà thành. Sau khi thần được hình thành bắt buộc phải dựa vào sự tư dưỡng của tinh khí mới có thể tiến hành các hoạt động bình thường. Do đó có thể nói tinh khí sinh thần, tinh khí dưỡng thần, thần lại có tác dụng thống ngự tinh khí. Trương Giới Tân trong “Loại kinh” có nói: Tuy thần do tinh khí sinh ra nhưng thần lại là chủ tướng thống ngự tinh khí.