2.6 Tác dụng thúc đẩy của khí
Khí có tác dụng thúc đẩy và kích phát. Khí tuy là vật chất nhỏ bé nhưng hoạt lực của nó rất mạnh, nó có thể kích phát và thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và thúc đẩy chức năng sinh lý các tạng phủ kinh lạc và các tổ chức cơ quan trong cơ thể. Nó có thể thúc đẩy quá trình sinh ra huyết, vận hành huyết và sự sinh ra phân bố, bài tiết của tân dịch. Ví dụ: Nguyên khí có thể thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục, thúc đẩy và kích phát hoạt động sinh lý của các tạng phủ. Khí hành tắc huyết hành, khí hành tắc thủy hành, do đó sự vận hành huyết dịch, chuyển hóa thủy dịch đều phải dựa vào khí thúc đẩy.
Khi tác dụng này giảm, yếu sẽ ảnh hưởng tới phát triển phát dục hoặc xuất hiện hiện tượng già (suy yếu) sớm, cũng có thể làm cho chức năng sinh lý tạng phủ kinh lạc giảm mà xuất hiện hiện tượng thiếu huyết, thiếu tân dịch, vận hành chậm, phân bố bài tiết gặp trở ngại…
2.7 Tác dụng làm ấm của khí
Đây là chỉ về tác dụng dương khí khí hóa sinh nhiệt, làm ấm áp cơ thể. Thân nhiệt cần phải có khí để duy trì nhiệt độ. Các tạng phủ kinh lạc cũng cần có tác dụng làm ấm của khí mới tiến hành các chức năng sinh lý. Huyết khi được làm ấm mới tuần hoàn tốt. Khí làm ấm cơ thể vẫn là dương khí, dương khí khí hóa sinh nhiệt. Do đó dương khí càng nhiều thì sinh nhiệt càng nhiều. Dương khí bất túc, sản nhiệt sẽ ít do đó có cấu “Khí hữu dư tiện hóa hỏa” “Khí bất túc tiện hóa hàn”. Hà Mộng Giao đời nhà Thanh có nói trong Y Biện khí như sau “Dương khí giả, ôn noãn chi khí dã”.
2.8 Tác dụng phòng bệnh của khí
Khí có tác dụng bảo hộ da thịt, kháng lại tà khí. Sự phòng ngự của khí một mặt có thể đề kháng chống cự với ngoại tà xâm nhập, một mặt lại có tác dụng khứ (đuổi) tà ra ngoài cơ thể. Do đó khi tác dụng phòng ngự của khí ở trạng thái bình thường thì tà khí khó xâm nhập, hoặc tuy có xâm nhập cũng khó phát bệnh mà nếu phát bệnh cũng dễ chữa. Khi chức năng phòng ngự yếu kém thì năng lực đề kháng ngoại tà sẽ giảm, sẽ dễ mắc bệnh và bệnh cũng khó chữa. Chức năng này của khí có quan hệ chặt chẽ với sự phát sinh bệnh, chuyển qui, dự hậu.
2.9 Tác dụng cố nhiếp của khí
Khí có tác dụng khống chế thống nhiếp, cố hộ thể dịch trong cơ thể. Cố nhiếp được biểu hiện ở ba mặt sau:
Cố nhiếp huyết dịch, phòng ngừa huyết chảy ra khỏi mạch máu, bảo đảm sự vận hành của huyết trong lòng mạch.
Cố nhiếp hạn (mồ hôi) dịch, niệu dịch, nước miếng, dịch vị, dịch ruột… khống chế lượng bài tiết, lượng thải ra, phòng ngừa sự mất thể dịch (nước).
Cố nhiếp tinh dịch, phòng ngừa vong tiết tinh dịch.
Khi cố nhiếp suy yếu dẫn đến mất nước nhiều trong cơ thể, ví dụ: Khí bất nhiếp huyết dẫn đến các kiểu xuất huyết. Khí bất nhiếp tân (dịch) xuất hiện tự hạn, đa niệu hoặc bí tiểu, chảy nước dãi, nôn ói nước trong, tiêu chảy hoạt thoát. Khí bất cố tinh xuất hiện di tinh, hoạt tinh, tảo tiết. Khí hư suy sẽ xảy ra xung nhâm mạch bất cố và xuất hiện sinh non, hoặc hư thai.
Tác dụng cố nhiếp và thúc đẩy của khí là hai mặt có tác dụng hỗ trợ nhau. Khí thúc đẩy huyết dịch vận hành và phân bố bài tiết tân dịch, mặt khác khí lại cố nhiếp thể dịch trong cơ thể phòng ngừa sự mất đi vô cớ, hai tác dụng này hiệp đồng điều tiết, khống chế thể dịch làm nó vận hành bình thường. Đây là khâu trọng yếu trong quá trình duy trì tuần hoàn huyết và chuyển hóa thủy dịch được diễn ra bình thường.
2.10 Tác dụng khí hóa của khí
Ở đây chỉ về thông qua sự vận động của khí mà sản sinh ra nhiều loại biến hóa. Tức là tinh khí, huyết, tân dịch mỗi thứ đều tự thân chuyển hóa và tương hỗ chuyển hóa. Trên thực tế quá trình khí hóa chính là quá trình chuyển hóa (trao đổi chất) là quá trình vật chất chuyển hóa và năng lượng chuyển hóa.
Khí là vật chất cơ bản duy trì hoạt động sống, khí luôn được đặt trong tình trạng không ngừng tự đổi mới và tự mình phục chế trong quá trình chuyển hóa. Kiểu vận động biến hóa này của khí và những năng lượng chuyển hóa phát sinh trong quá trình đó gọi là “Khí hóa”. Sự vận động khí hóa ở con người là vĩnh hằng, nó tồn tại từ đầu đến cuối cuộc đời.
Nếu vì lý do nào đó sự khí hóa của khí thất thường sẽ ảnh hưởng cả quá trình chuyển hóa vật chất. Ví dụ ảnh hưởng đến tiêu hóa hấp thu thức ăn ảnh hưởng đến sự sinh ra của khí huyết tân dịch, ảnh hưởng đến bài tiết mồ hôi, nước tiểu và phân và sẽ xuất hiện bệnh lý.
2.11 Tác dụng dinh dưỡng
Chủ yếu chỉ về tác dụng vận hóa đồ ăn của tỳ vị mà sinh hóa thành thủy cốc tinh khí. Loại khí này kết hợp với tân dịch mà thành huyết dịch chảy trong mạch quản đi khắp toàn thân và có tác dụng nuôi dưỡng chúng do đó còn được gọi là “Dinh khí”. Khí này (dinh) ngưng kết lại để hình thành tạng phủ, kinh lạc, các cơ quan, hình thể, cũng có thể bị tiêu hao mà sản sinh ra năng lượng (động lực) mà hoạt động sống của cơ thể cần.
Nguyên khí
Nguyên khí là gì? Là chỉ về loại khí tối quan trọng tối cơ bản có nguồn gốc từ thận, bao gồm nguyên âm và nguyên dương.
Sự sinh thành và phân bố: Nguyên khí do thận tinh hóa sinh dựa vào tam tiêu tuần hoàn châu thân.
* Sinh thành: Nguyên khí có nguồn gốc từ thận, là thận khí do thận tinh hóa sinh ra, thống nhất gọi là thận trung tinh khí (tinh khí trong thận) tinh khí trong thận tuy dựa vào tiên thiên tinh khí là cơ sở nhưng lại nhờ hậu thiên thủy cốc chi khí bồi bổ nuôi dưỡng (bồi dục). Bởi vậy nên nguyên khí sung túc tất nhiên tỳ vị cũng khỏe mạnh và có thể tư dưỡng lại nguyên khí. Nếu vị khí nhược suy, tý vị khí cũng tổn thương thì nguyên khí cũng không sung túc.
* Phân bố: Nguyên khí phát tại thận thông qua tuần hoàn tam tiêu mà đi khắp toàn thân, vào trong tới ngũ tạng lục phủ ra ngoài tới cơ phu tấu lý không nơi nào là không đến. Trong quá trình tuần hoàn, kinh qua các tạng phủ kinh lạc và tổ chức bên ngoài để phát huy chức năng sinh lý của nó.
* Tác dụng chủ yếu: Thúc đẩy sinh trưởng phát dục, kích phát và điều tiết các chức năng sinh lý tạng phủ kinh lạc, cơ quan.
Quy luật sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ của tự nhiên có sự tương quan mật thiết với sự thịnh suy của thận tinh. Bắt đầu từ nhỏ (nhũ nhi) thận tinh dần dần sung thịnh biểu hiện mọc răng, thay răng, tóc dài. Đến thời thanh tráng niên thận tinh thêm một bước nữa được sung thịnh, cơ thể phát dục đến kỳ tráng thịnh, mọc răng khôn, cơ thể rắn chắc, gân cốt mạnh mẽ và có khả năng sinh sản. Đến lúc già thận tinh suy thoái, hình thể cũng theo đó mà dần suy lão, vận động không linh hoạt, răng tóc rụng bạc, chức năng sinh sản cũng mất. Qua đó có thể thấy thận tinh quyết định sinh trưởng phát dục của cơ thể. Nếu thận tinh suy khuy ảnh hưởng đến phát triển và phát dục mà biểu hiện gặp trở ngại trong sinh trưởng phát dục và sức khỏe sinh sản, gân cốt yếu mềm, già trước tuổi.
Nguyên khí có thể thúc đẩy, điều tiết hoạt động sinh lý tạng phủ kinh lạc và các tổ chức cơ quan. Mệnh môn (thường cho rằng là thận) là nguồn căn của nguyên khí là nơi trú ngụ của thủy hỏa. Trong nguyên khí hàm chứa thủy hỏa mệnh môn, do đó âm khí ngũ tạng nếu không có nó (nguyên khí) thì không thể tư dưỡng. Dương khí ngũ tạng nếu không có nó cũng không thể phát. Hỏa mệnh môn đến ngũ tạng sẽ phát huy dương khí ngũ tạng thúc đẩy làm ấm áp tạng phủ. Mệnh môn chi thủy đến ngũ tạng sẽ tư âm khí ngũ tạng làm cho chức năng tư nhuận, ninh tịnh của tạng phủ được tăng cường. Nguyên khí chứa mệnh môn thủy hỏa, khi thủy hỏa âm dương quân bình thì chức năng khí hóa sẽ sung hòa, hàn nhiệt thích ứng. Chức năng tạng phủ ở trong trạng thái khỏe mạnh, âm bình dương mật. Nếu âm dương trong nguyên khí mất thăng bằng sẽ xuất hiện bệnh.
Tông khí
Hàm ý (định nghĩa): Tông khí là do kết hợp thanh khí do phế hít vô và thủy cốc tinh khí do tỳ vị hóa sinh mà ra, tông khí tập tụ ở trong ngực nên gọi là tông khí. Nơi tụ kết tông khí trong ngực gọi là “Thượng khí hải” tức là huyệt đản trung.
Sinh thành (sự sinh ra) và phân bố: Sự sinh ra tông khí quan hệ tới phế tỳ, tập trung ở ngực, đi vào tâm mạch.
* Sinh ra: Là sự kết hợp khí trời tự nhiên và thủy cốc tinh vi. Thức ăn qua quá trình thu nạp, nhào luyện mà thành thủy cốc tinh khí, nhờ tỳ khí thăng thanh mà chuyển tới phế kết hợp với thanh khí do phế hít vào mà thành. Phế và tỳ vị có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành tông khí cho nên chức năng hô hấp của phế và chức năng vận hóa tỳ vị quyết định sự thịnh suy của tông khí.
* Phân bố: Tập trung ở ngực, đi vào tâm phế, đi lên phế đến hầu họng, đi xuống đến đan điền (hạ khí hải) và đi vào khí nhai (nơi gặp) của túc dương minh kinh (tương đương với rãnh bẹn) mà đi xuống chân. Nhánh đi vào tâm vào mạch, tác dụng thúc đẩy sự vận hành của huyết khí.
* Chức năng tông khí: Chủ yếu gồm ba phần:
– Đi vào đường thở (tức đạo) chủ hô hấp, do đó khi tiếng nói, thanh âm hô hấp mạnh yếu đều quan hệ tới thịnh suy của tông khí.
– Tới tâm mạch hành khí huyết: Tông khí đi lên tâm mạch giúp tâm tuần hoàn huyết dịch do đó sự vận hành khí huyết quan hệ tới tông khí thịnh suy.
– Có quan hệ tương ứng với thị giác, thính lực, ngôn ngữ, hành động.
Dinh khí
Hàm ý: Là thứ khí vận hành trong mạch, có tác dụng dinh dưỡng. Dinh khí đi trong mạch hóa sinh huyết nên dinh khí và huyết không thể tách phân nhau vì vậy ta thường nói “Dinh huyết”. Nếu so sánh tương đối giữa dinh khí và vệ khí thì dinh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch, ở ngoài thì thuộc dương, ở trong thuộc âm nên còn có tên gọi “dinh âm”.
Sinh thành (sự sinh ra)và phân bố: Dinh khí vẫn là thủy cốc tinh khí và vận hành trong mạch.
* Sinh ra: Như đã nói dinh khí chính là thủy cốc tinh khí.
* Phân bố: Thông qua 12 kinh mạch và nhâm đốc mạch mà tuần hoàn châu thân xuyên tới ngũ tạng, lạc lục phủ.
Tuần hành 12 kinh. Dinh khí đi ra ở trung tiêu (tỳ vị), đầu tiên đi đến thủ thái âm phế kinh, đến thủ dương minh đại trường lại chuyển đến túc dương minh vị, túc thái âm tỳ, thủ thiếu âm tâm, thủ thái dương tiểu trường, túc thái dương bàng quang, túc thiếu dương thận, thủ quyết âm tâm bào, thủ thiếu dương tam tiêu, túc thiếu dương đởm, túc quyết âm can và lại về thủ thái âm phế. Đây là vòng tuần hoàn của dinh khí.
Đốc nhâm tuần hoàn: Khi tuần hoàn 12 kinh thì có một nhánh từ can đi ra, đi lên trán đỉnh đầu xuống giữa lưng dọc cột sống xuống tới xương cụt. Mạch này có lạc nối với nhâm mạch thành một vòng tuần hoàn.
Công năng chủ yếu
Hóa sinh huyết dịch.
Dinh dưỡng toàn thân.
Vệ khí
Hàm ý: Vệ là bảo vệ. Vệ khí đi ngoài mạch, cũng có nguồn gốc từ thủy cốc tinh vi.
Sinh thành và phân bố:
* Vệ khí giống dinh khí đều do thủy cốc tinh vi hóa sinh ra.
* Phân bố: Vệ khí vận hành ngoài mạch.
Nói về đường tuần hành của vệ khí thì từ sau nhà Hán đến nay thì cách giải thích không giống nhau. Đại để có ba cách giải thích:
Dinh vệ tương tùy, dinh và vệ khí cùng đồng hành, âm dương tương tùy như Nạn kinh tam thập nạn, nói: Dinh đi trong mạch, vệ đi ngoài mạch cùng nhau đi trong châu thân không ngưng nghỉ.
Vệ khí ban ngày đi ở phần dương, ban đêm phần âm trong điều kiện bình thường thì ban ngày chạy phía ngoài lục phủ (ngoài mạch) đủ 25 vòng, ban đêm theo ngũ tạng đi đủ 25 vòng. Mỗi ngày bắt đầu từ mờ sáng, khi mở mắt (thức giấc) thì vệ khí đi từ góc trong mắt lên đầu, xuống thủ tam kinh dương đến đầu ngoài cùng bàn tay chân và lại theo đường kinh âm về tới mắt là tính một vòng. Ban ngày đi 25 vòng. Từ đêm tới sáng hôm sau bắt đầu xuất phát từ thận cũng giống vậy tới thận, tâm phế can tỳ, ngũ tạng lại vòng về thận cũng đủ 25 vòng.
Phân tán toàn thân: Ngoài hai cách phân bố trên thì một bộ phận phân tán đến toàn thân. Ngoài thì tới dưới da, cân cốt. Trong tới ngực, bụng, tạng phủ, manh mạc.
Chức năng chủ yếu
Tác dụng ôn dưỡng: Bình thường thân nhiệt hằng định là một trong những điều kiện duy trì hoạt động sinh lý bình thường. Sự duy trì thân nhiệt dựa vào vệ khí nên cuốn “Độc y tùy bút – Khí huyết tinh thần luận” có nói: “Vệ khí giả, nhiệt khí dã, cơ nhục chi sở dĩ năng ôn, thủy cốc chi sở năng hóa giả, vệ khí chi công dụng dã”.
Điều tiết: Vệ khí tư hạn khổng (lỗ chân lông) khai hợp. Điều tiết mồ hôi để duy trì thân nhiệt, điều hòa khí huyết từ đó duy trì bình hành âm dương trong cơ thể và bên ngoài.
Phòng ngự: Là tấm bình phong vì vệ khí ôn dưỡng cơ phu tấu lý, chủ hạn khổng khai hợp, từ đó làm da nhu nhuận, cơ nhục rắn chắc, tấu lý chí mật. Nội kinh có nói vệ khí ban ngày đi phần dương, đêm đi phần âm, thực tế là chỉ khi thức tỉnh vệ khí nằm ở ngoài thể biểu. Khi ngủ thì vệ khí lại phân bố ở ngũ tạng nên khi ngủ vệ khí sẽ rất thưa, mỏng, năng lực kháng cự ngoại tà giảm dễ bệnh. Khi vệ khí bất túc chức năng phòng ngự bảo vệ giảm, dễ bị tà khí xâm nhập gây bệnh hoặc bệnh khó khỏi, dễ ra mồ hôi, thân nhiệt giảm.
Tóm lược
Khí của tạng phủ và kinh lạc Cơ thể ngoài nguyên khí, tông khí, dinh khí và vệ khí ra còn có khí tạng phủ và khí kinh lạc. Hai thứ khí này có được sau khi khí của cơ thể hình thành các cơ quan tạng phủ và kinh lạc sẽ tàng trữ ngay trong bản thân tạng phủ kinh lạc và biến thành khí tạng phủ kinh lạc. Do phương thức vận động và thành phần cấu thành chủ yếu của chúng khác nhau nên các kết cấu đó (tạng phủ kinh lạc) và chức năng của chúng cũng khác nhau .
Khí tạng phủ kinh lạc là chất chủ yếu cấu thành chúng và cũng để duy trì hoạt động sinh lý của chúng. Khí tạng phủ và kinh lạc cũng giống như các loại khí khác của cơ thể, nghĩa là cũng có nguồn gốc từ phế hấp nhập thanh khí, tỳ vị hóa sinh thủy cốc tinh khí và tinh khí trong thận. Tinh khí thận hóa sinh ra nguyên khí phân bố đều đến ngũ tạng và trở thành “Chân tinh” ngũ tạng, do đó khi hóa sinh khí của bản thân chúng cũng chia ra âm khí và dương khí. Âm khí (ngũ tạng chi âm khí) tác dụng thúc đẩy quá trình sinh ra tân dịch và huyết dịch, tư nhuận. Dương khí (ngũ tạng chi dương khí) thúc đẩy tốc độ sản sinh ra khí và chuyển hóa thúc đẩy ngũ tạng hoạt động, hưng phấn và làm ấm áp. Tóm lại, khí tạng phủ có nguồn gốc hậu thiên, là nguồn năng lượng cung cho các hoạt động tạng phủ.
YHCT dựa vào việc lấy (cho) cơ thể là một quá trình vận động của hành vi nên chủ yếu từ các quan hệ chức năng của các tạng phủ kinh lạc trong cơ thể để giải thích kết cấu bên trong. Bản chất của vấn đề tức là những nghiên cứu về động thái chức năng của cơ thể. Do đó trong sinh lý học (YHCT) ý nghĩa của khí của tạng phủ kinh lạc không nằm ở chỗ giải thích về thành phần cấu tạo chúng, vật chất thực thể là gì? Mà là giải thích về khí của tạng phủ kinh lạc có chức năng sinh lý cụ thể gì? Phương thức vận động ra sao trong hoạt động sống. Chính vì lẽ đó trong bệnh lý học mới có hiện tượng hư thực của khí tạng phủ kinh lạc, ở đây không phải chỉ về hình thái, khí chất của nó tổn thương ra sao mà là chỉ về sự dị thường của chức năng sinh lý của chúng. Khí tạng phủ kinh lạc mà hài hòa, thăng giáng xuất nhập bình thường thì cơ thể khỏe mạnh. ———————–