Học thuyết tinh khí thần – Tinh, khí, huyết, tân dịch và thần là những thành phần vật chất cơ bản cấu thành cơ thể người và duy trì hoạt động sống. Khí là vật chất không ngừng vận động và vô cùng nhỏ bé. Huyết là thể dịch màu đỏ tuần hoàn trong lòng mạch máu. Tân dịch là tên gọi chung tất cả thể dịch bình thường trong cơ thể. Khí, huyết, tân dịch là sản vật của hoạt động sinh lý của tạng phủ, là vật chất và năng lượng không thể thiếu cung cấp cho các hoạt động sinh lý tạng phủ và kinh lạc. Do đó cũng có thể nói khí huyết tân dịch là vật chất cơ bản dùng trong các hoạt động chức năng tạng phủ kinh lạc.
Học thuyết này tìm hiểu về sự sinh ra, phân bố và chức năng sinh lý của khí huyết tân dịch. Nó xuất phát từ góc độ chỉnh thể để nghiên cứu về sự cấu tạo cơ thể và vật chất cơ bản duy trì hoạt động sống cơ thể, nó chú trọng đến các hoạt động sinh lý tạng phủ kinh lạc và bệnh biến cơ bản của chúng.
1. Tinh
1.1 Khái niệm
– Tinh là vật chất trong yếu cấu tạo nên cơ thể sống và duy trì hoạt động sống của cơ thể người.
– Căn cứ vào nguồn gốc mà nói, có thể phân tinh ra 2 loại: tinh tiên thiên- tinh hậu thiên.
– Căn cứ vào chức năng có thể phân thành tinh sinh dục – tinh duy trì hoạt động sống
1.2 Nguồn gốc và chức năng
a. Tinh tiên thiên
– Là vật chất ban đầu, bố mẹ truyền lại và cấu tạo nên cơ thể sống.
– Cơ thể con người là do tinh lưỡng tính kết hợp với nhau, sau đó hình thành bào thai, dần dần hình thành cơ thể hoàn chỉnh. Nói chung nam nữ thời kỳ trưởng thành đều có khả năng sản sinh tinh tiên thiên, đó là tinh sinh dục.
b. Tinh hậu thiên
– Nguồn gốc từ chất tinh vi của đồ ăn uống hóa sinh tạo nên. Nó thông qua huyết mạch để nuôi dưỡng tạng phủ, không ngừng chuyển hóa thành tinh tạng phủ; hoặc thành khí huyết, từ đó mà duy trì được công năng hoạt động của tạng phủ và làm cho cơ thể phát triển.
– Tinh hậu thiên ngoài việc duy trì hoạt động sống của cơ thể ra, phần còn lại được tàng trữ ở thận thành tinh tiên thiên.
1.3 Bệnh lý
– Bệnh lý chủ yếu của tinh là tinh hao. Vì tinh có thể hóa khí, khí sung túc thì thần tỉnh táo.
– Lâm sàng: đoản khí, dễ mệt, hư phiền, ăn uống kém, miệng khô, đại tiện táo, mạch vô lực… Nếu thận tinh hao hư, đối với nam giới sẽ thấy đau lưng, mỏi gối, giảm trí nhớ di tinh, tảo tiết, không thụ thai được; đối với nữ giới thấy thống kinh, bế kinh, không thụ thai…
2. Khí
2.1 Khí là vật chất cơ bản nhất cấu thành con người
Con người là sản vật của sự giao cảm khí trời đất Con người cũng giống như vạn vật đều là sản vật của tự nhiên trời đất. Muốn tìm hiểu sâu xa về khởi thủy và bản chất con người, đầu tiên cần phải nghiên cứu về nơi mà con người tồn tại trong vũ trụ và mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh tự nhiên. “Tố vấn – Lục vi chỉ đại luận” có nói: “Thiện ngôn nhân giả cầu chi khí giao…” “Hà vị khí giao?… Thượng hạ chi vị, khí giao chi trung, nhân chi cư dã” (Khi nói về con người cần phải bàn về khí giao, vậy khí giao là gì? Là nơi hai khí thượng và hạ gặp nhau và con người sống ở nơi đó) Khí giao chính là nơi con người sinh sống trong môi trường đó, là nơi khí trời đi xuống và khí đất đi lên gặp nhau. Giới tự nhiên do sự vận động biến hóa của âm dương có phân tứ thời, hàn nhiệt, tức là có sự ảnh hưởng của lục khí trời và lại có tác dụng sinh hóa ngũ hành của đất. Con người sống trong môi trường như vậy đó.
Vì con người sống trong nơi gọi là khí giao đó nên cũng như vạn vật trong vũ trụ nghĩa là đều do khí cấu tạo nên, đều là khí của trời đất, đều là sản vật của sự giao cảm âm dương, và là kết quả của quy luật vận động biến hóa của giới tự nhiên. Vì vậy có thể nói: “Con người là do khí trời đất giao cảm mà hợp nên. Khí là vật chất cực kỳ tinh khiết, cực kỳ nhỏ bé, là nguồn nguyên liệu nguyên thủy cấu tạo vạn vật. Con người cũng giống như vạn vật nên khí là vật chất tối cơ bản cấu thành con người.
2.2 Tinh khí là cơ sở của sự sống
Thời Chiến quốc “Quản Tử – Nội nghiệp” Phái Tắc Hạ, cho rằng: Tinh là phần tinh túy nhất của khí, tinh là khí cực tinh khiết có thể vận động và biến hóa được, và là vật chất tinh vi cần để hình thành trời đất vạn vật và con người. Đây là bước phát triển lớn trong phạm trù triết học cổ nói về khí. YHCT kế thừa và phát triển tinh khí luận của Quản Tử, dùng học thuyết tinh khí để giải thích quy luật vận động của sinh vật, cho rằng tinh khí (tinh) là thứ vật chất vô cùng tinh vi được hình thành trong cơ thể nhờ (do) khí của trời đất, âm dương, ngũ hành. Tinh khí không chỉ chỉ về tinh sinh thực (sinh dục) của nam nữ mà còn rộng chỉ về tất cả vật chất sống (sinh mạng) của cơ thể. Tinh khí được hình thành trước khi sinh ra, có đặc tính di truyền, do sự tương hợp tinh khí của cha mẹ truyền lại cho con, trở thành chất cơ bản thúc đẩy cơ thể phát triển, phát dục và duy trì nòi giống mai sau.
2.3 Khí là vật chất tối cơ bản để duy trì hoạt động sống
Chức năng sống của con người có nguồn gốc từ hình thể của con người. Hình thể con người lại phải dựa vào sự hấp thu vật chất nhất định của tự nhiên để sinh tồn. Hoạt động sống là sản vật của thế giới vật chất. Nhân loại tất nhiên phải có sự giao hoán vật chất với tự nhiên mới có thể duy trì sự sống. “Tố vấn – Lục tiết tàng tượng luận” có nói: Trời cho con người ăn ngũ khí, đất cho ăn ngũ vị, ngũ khí vào mũi tàng ở tâm phế lên trên tạo ra tiếng nói. Ngũ vị (đồ ăn) vào miệng tàng ở dạ dày (để dưỡng ngũ khí…). Khí và vị (vị lại do khí sinh ra nên vị cũng là khí) tức là không khí, nước, đồ ăn sau khi vào cơ thể bằng đường miệng và mũi, trải qua quá trình khí hóa nhất định biến thành vật chất nuôi sống cơ thể, tức là tinh khí của lục phủ ngũ tạng. Một mặt con người không ngừng hấp thu vật chất tự nhiên biến đổi nó thành chất nuôi dưỡng cơ thể, một mặt trong quá trình thực hiện chức năng sống đó nó sẽ tự tiêu hao năng lượng và sản sinh ra chất phế thải, thông qua mồ hôi, nước tiểu và phân tống ra ngoài.
Hoạt động tinh thần là một hoạt động chức năng cao cấp hơn được sản sinh ra trên cơ sở chức năng (hoạt động) sống, tức là những cảm giác, tư duy tình chí… là một loại hoạt động sống của con người. Tố vấn chương Âm dương ứng tượng đại luận, có nói: “Nhân hữu ngũ tạng hóa ngũ khí, dễ sinh hỷ, nộ, bi, ưu, khủng” nghĩa là khi tạng phủ, hình thể cơ quan cảm giác tinh khí kháng thịnh sẽ sản sinh cảm giác, tư duy và tình chí. Do tinh khí cấu thành hình thể, hình thể sản sinh cái gọi là “thần” của cơ thể. Thần là thứ căn bản điều khiển hình thể và tiến hành các hoạt động tinh thần. Qua đó có thể nhận thấy tinh khí ngũ tạng là vật chất cơ bản của hoạt động tinh thần, tình chí. Con người là sản vật của tự nhiên, bẩm thụ khí của trời đất mà sinh ra, dựa vào tứ thời chi pháp mà lớn lên. Trong cơ thể con người bao hàm khí của trời đất âm dương ngũ hành mà cấu thành khí của con người. Khí này là chất cơ bản duy trì sự sống, sự vận động biến hóa của khí cũng chính là hoạt động sống của con người.
Con người và trời đất tương ứng, con người giống tự nhiên nghĩa là không những cũng chịu sự chế ước của quy luật vận động của khí trong sự vận động âm dương ngũ hành mà còn tương thông với rất nhiều quy luật vận động cụ thể khác. Khí trời đất phân ra âm dương, khí trong con người cũng phân âm dương. Sự vận động biến hóa khí của con người và khí của tự nhiên phục tùng một quy luật thống nhất. Tóm lại, khí là vật chất sống tồn tại trong cơ thể dưới dạng cực kỳ nhỏ bé. Khí là vật chất cơ bản của hoạt động sống, cuộc sống con người phụ thuộc vào khí. Khí tụ tắc sinh, khí tán tắc tử.
2.4 Nguồn gốc chủ yếu của khí
Gồm hai thứ
Tiên thiên chi tinh khí: Loại tinh khí này được hình thành trước khi được sinh (đẻ) ra. Nguồn gốc của nó là từ tinh của cha mẹ (sinh thực) là vật chất nguyên thủy cấu thành bào thai. Do thụ bẩm từ cha mẹ nên nó được gọi là “Tiên thiên chi tinh khí”. Khí bắt đầu sự sống, do hai thứ tinh của cha mẹ tương hợp mà hình thành phôi thai, do đó tiên thiên chi tinh khí là vật chất cơ bản cấu thành hình thể của con người và là một bộ phận quan trọng trong thành phần khí của con người
Tinh khí hậu thiên: Bao gồm vật chất dinh dưỡng từ đồ ăn uống và khí trời tự nhiên (thanh khí). Vì loại tinh khí này nhận được sau khi sinh nên gọi là tinh khí hậu thiên. Khí tự nhiên hay còn gọi là thiên khí nhờ phế hô hấp mà vào cơ thể và khí trong cơ thể không ngừng giao hoán với nó tại phế, thải cũ nạp mới, tham gia vào sự hình thành khí trong cơ thể.
Thủy cốc tinh khí hay còn gọi là cốc khí, thủy cốc tinh vi là chất dinh dưỡng trong đồ ăn thức uống. Vị vi thủy cốc chi hải nghĩa là thức ăn nạp vào được vị tiêu hóa, tỳ vận hóa đem chất dinh dưỡng được hấp thu phân bố toàn thân nuôi dưỡng tạng phủ, cơ quan và hóa sinh thành khí huyết là vật chất tối cần thiết cho cuộc sống
2.4 Sự sinh ra khí và mối quan hệ với tạng phủ
Khí của con người xét từ nguồn gốc thì do sự kết hợp ba thứ khí mà thành, đó là tiên thiên chi tinh khí, hậu thiên chi tinh khí và khí trời. Tinh khí có quan hệ tới ba tạng phế, tỳ vị và thận.
Phế chủ khí: Phế là nơi giao hoán (trao đổi) khí trong cơ thể và khí bên ngoài. Hít thanh khí, thải trọc khí, tham gia vào quá trình chuyển hóa bình thường của cơ thể. Phế chủ yếu sinh ra tông khí. Phế hít khí trời kết hợp với tỳ vị vận hóa thủy cốc tinh vi tập hợp tại ngực (thượng khí hải đản trung) mà hình thành tông khí. Tông khí đi theo đường thở (tức đạo) để tiến hành hô hấp, đi theo đường tâm mạch để hành khí huyết thông đạt ra ngoài, lưu chảy châu thân để duy trì chức năng sinh lý bình thường của tạng phủ, cơ quan từ đó có tác dụng thúc đẩy sự sinh thành khí toàn thân.
Tỳ vị là nguồn sinh ra khí huyết: Vị chủ thu nạp, tỳ chủ vận hóa, một nạp một vận mà sinh hóa thành tinh khí. Tỳ thăng vị giáng, nạp vận tương đắc, tiêu hóa hấp thu dinh dưỡng từ thủy cốc biến thành tinh khí. Lại nhờ vào tác dụng chuyển vận và tán (phân bố) tinh của tỳ lại mang thủy cốc tinh vi lên phế lại nhờ phế thông qua hệ thống kinh mạch mà phân bố toàn thân để nuôi dưỡng tạng phủ cơ quan.
Thận cũng là nguồn sinh ra khí: Thận có tác dụng trữ tàng tinh khí. Tinh khí mà thận tàng trữ gồm tinh khí tiên thiên và hậu thiên. Tinh khí hậu thiên cung cấp năng lượng chuyển hóa tạng phủ cơ quan, phần còn dư thừa được tàng trữ tại thận cùng hợp với tinh tiên thiên hợp lại gọi là tinh khí của thận hay nguồn gốc của nguyên khí. Thận chủ khí tiên thiên, tỳ phế chủ khí hậu thiên. Hậu thiên được sự thúc đẩy tiên thiên mà sinh ra liên tục. Tiên thiên nhờ hậu thiên mà nguồn gốc tạo khí không cạn kiệt, là căn cứ (gốc) của lục phủ ngũ tạng, là nguồn của tạo thành khí trong cơ thể là vậy.
Tóm lại, điều kiện sinh ra khí là: Nguồn vật chất đầy đủ, tức là tiên thiên, hậu thiên và thanh khí đầy đủ. Chức năng tạng phủ bình thường tức là chức năng sinh lý các tạng phế, tỳ, vị, thận… bình thường.
Hàm ý của khí cơ Sự vận động của khí gọi là “khí cơ”. Khí của con người là một dạng vật chất nhỏ bé có hoạt lực rất mạnh và không ngừng vận động. Khí lưu hành toàn thân tạng phủ kinh lạc cơ quan… không ngừng thúc đẩy, kích phát các hoạt động sinh lý của cơ thể.
2.5 Hình thức vận động của khí
Hình thức vận động cơ bản: Gồm bốn chữ: Thăng, giáng, xuất, nhập. Nhân loại sống trong vũ trụ bao la nên sự vận động (khí cơ) của khí trong con người cũng phải tuân thủ quy luật đó. Do đó trong quá trình sống nếu không có thăng giáng xuất nhập thì cũng sẽ không có hoạt động sống. Nhưng khí vận động thăng giáng xuất nhập lại thông qua chức năng tạng phủ để thực hiện, do đó cũng có thể gọi là tạng phủ khí cơ thăng giáng. Sự vận động khí của tạng phủ (thăng giáng xuất nhập) là một quá trình mâu thuẫn thống nhất.
Sự vận động của khí và quan hệ với tạng phủ: Chức năng sinh lý tạng phủ của con người không ngoài: Thăng thanh dương, giáng trọc âm, thu nạp những gì mà nó cần, thải bài những gì nó không cần. Tạng phủ kinh lạc, khí huyết tân dịch, dinh vệ âm dương đều nhờ vào khí cơ thăng giáng xuất nhập mà có quan hệ tương hỗ với nhau, duy trì chức năng sinh lý, nó không ngừng có sự trao đổi (chuyển hóa) với môi trường xung quanh. Vận động thăng giáng là đặc tính của tạng phủ, là quy luật vận động của vật chất, mà mỗi loại hình thức vận động của vật chất lại tự thân nó có sự qui định của sự đặc thù chất đó. Do đó hoạt động chức năng ngũ tạng lục phủ (xu hướng thăng giáng) sẽ không hoàn toàn giống nhau…
Hoạt động sống của con người gồm tiêu hóa, tuần hoàn ở trong, nhìn, nghe, nói, đi… ở bên ngoài, đều là sự biểu hiện của sự vận động thăng giáng xuất nhập của tạng phủ. Hãy lấy ngũ tạng mà nói thì: Tâm phế ở trên “Tại thượng giả nghi giáng” (những cái ở trên thì dễ giáng) can thận ở dưới, ở dưới thì dễ (nghị) thăng. Tỳ vị cư ngụ ở giữa liên thông trên dưới nên là then chốt của sự thăng giáng. Lục phủ tuy là chuyển hóa vật chất mà không tàng, dĩ thông vi dụng (lấy sự thông suốt làm chức năng chủ yếu), thích (nghi) giáng. Nhưng trong quá trình chuyển hóa thức ăn lại có chức năng hấp thu dinh dưỡng và tân dịch. Cho nên vận động khí cơ của lục phủ là: trong giáng có thăng, không chỉ giữa tạng và tạng, phủ và phủ, tạng và phủ đều đặt trong sự thống nhất thăng giáng mà bản thân mỗi tạng phủ cũng có sự thống nhất thăng giáng tức là trong thăng giáng lại có thăng giáng.
Tóm lại, vận động khí cơ thăng giáng tạng phủ trong trạng thái sinh lý thường thì có một quy luật nhất định. Thường có thể hiện đặc điểm như thăng dĩ nhi giáng (thăng hết là giáng), giáng hết là thăng và trong thăng có giáng, trong giáng có thăng.
Khí cơ thăng giáng giữa các tạng phủ cơ quan đều đặt trong trạng thái đối lập thống nhất, và cùng nhau hoàn thành quá trình chuyển hóa trong cả cơ thể, bảo đảm sự tự thay đổi khí không ngừng (canh tân). Nghĩa là không ngừng hấp thu vật chất bên ngoài (đồ ăn, oxy) đồng thời thông qua quá trình khí hóa biến đổi vật chất đó thăng thanh giáng trọc, hấp thu dinh dưỡng nuôi sống cơ thể. Đồng thời bài tiết sản vật cặn bã của quá trình chuyển hóa ra ngoài để duy trì thăng bằng chuyển hóa và hoán đổi năng lượng. Vận động đó của tạng phủ ở trạng thái bình hành là cái quan trọng nhất để duy trì hoạt động sống bình thường.
Trong quá trình vận động khí của cơ thể ví dụ can thăng phát, phế túc giáng, tâm hỏa hạ giáng, thận thủy thượng thăng, tỳ khí thượng thăng, vị khí hạ giáng… Trong sự thăng giáng vận động đó của tạng phủ thì phế tỳ thận là quan trọng nhất, đặc biệt là thận là bản (bản chất) của hiện tượng khí cơ thăng giáng. Thận là tiên thiên chi bản. Dương khí ngũ tạng không có nó thì không thể phát huy. Âm khí ngũ tạng nếu không có nó cũng không tư dưỡng được. Chỉ khi thận dương chưng đằng (sôi sục, mạnh mẽ) thì tỳ thổ mới có khả năng xay nghiền vận hóa thức ăn. Cũng cần sự nhiếp nạp của thận phế khí mới có thể đi xuống được, mới có thể thông điều thủy đạo, đi xuống bàng quang, đại trường cũng từ đó mà tống cặn bã ra. Chính như “Y quán – Nội kinh thập nhị quan luận” nói: Sự vận động thăng giáng tạng phủ duy nhất dựa vào thận. Qua đó nhận thấy sự thăng giáng tạng phủ đều cần sự điều tiết của thận. Phế chủ trị tiết, sự hô hấp của phế hay sự thăng giáng xuất nhập của phế khí có thể trực tiếp điều tiết và ảnh hưởng khí cơ toàn thân (thăng giáng xuất nhập). Tỳ vị là then chốt khí cơ toàn thân. Nó lại nằm ở trung ương thuộc thổ, tỳ là âm thổ mà thăng ở dương, vị là dương thổ mà giáng ở âm. Thổ ở giữa hỏa thượng thủy hạ, tả mộc hữu kim, tả chủ thăng hữu chủ giáng, mà quyền lực thăng giáng đó lại nằm ở trung khí, thăng dựa vào tỳ tả tuyền (xoay tròn), giáng dùng vị hữu chuyển. Trung khí vượng thì tỳ thăng vị giáng, mộc hỏa kim thủy cũng được luân chuyển (lên xuống). Trung khí suy thì tỳ uất vị nghịch tức là mộc hỏa kim thủy đều mất đi sự vận hành vốn có.
Sự vận động của khí là có quy luật (tức là thăng giáng xuất nhập), chỉ có trong trạng thái bình hành hiệp điều tương đối mới có thể phát huy tác dụng duy trì hoạt động sống của nó. “Khí cơ điều sướng (thông)” là sự miêu tả về trạng thái sinh lý bình hành của vận động khí. Khi sự vận động của khí mất đi sự bình hành đó thì hoạt động sống sẽ dị thường và là trạng thái bệnh lý, tức là “Khí cơ thất điều”. Do hình thức vận động của khí rất đa dạng nên biểu hiện “Khí cơ thất điều” cũng rất phức tạp. Ví dụ: Sự vận động của khí gặp trở ngại không thông thì gọi là “Khí cơ bất sướng (thông)”. Sự vận động đó gặp trở ngại nhiều nên một bộ phận nào đó phát sinh ứ trệ không thông thì gọi là “Khí trệ” sự thăng thái quá của khí gọi là “Khí nghịch”. Hạ giáng bất cập lại gọi là “Bất giáng”. Thượng thăng bất cập hoặc hạ giáng thái quá gọi là “Khí hãm” khí ngoại xuất quá nhiều gọi là “Khí thoát”. Xuất nhập bất cập mà kết cục là kết tụ ở trong gọi là „Khí kết”, “Khí uất” thậm chí còn gọi là “Khí bế”.
Vận động thất điều của khí biểu hiện trên tạng phủ thường gặp là phế thất tuyên giáng, tỳ khí hạ hãm, vị khí thượng nghịch, thận khí bất nạp, can khí uất kết…
2.6 Tác dụng thúc đẩy của khí
Khí có tác dụng thúc đẩy và kích phát. Khí tuy là vật chất nhỏ bé nhưng hoạt lực của nó rất mạnh, nó có thể kích phát và thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và thúc đẩy chức năng sinh lý các tạng phủ kinh lạc và các tổ chức cơ quan trong cơ thể. Nó có thể thúc đẩy quá trình sinh ra huyết, vận hành huyết và sự sinh ra phân bố, bài tiết của tân dịch. Ví dụ: Nguyên khí có thể thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục, thúc đẩy và kích phát hoạt động sinh lý của các tạng phủ. Khí hành tắc huyết hành, khí hành tắc thủy hành, do đó sự vận hành huyết dịch, chuyển hóa thủy dịch đều phải dựa vào khí thúc đẩy.
Khi tác dụng này giảm, yếu sẽ ảnh hưởng tới phát triển phát dục hoặc xuất hiện hiện tượng già (suy yếu) sớm, cũng có thể làm cho chức năng sinh lý tạng phủ kinh lạc giảm mà xuất hiện hiện tượng thiếu huyết, thiếu tân dịch, vận hành chậm, phân bố bài tiết gặp trở ngại…