#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Học thuyết tạng phủ (phần 1: Ngũ tạng 1.5 Thận 02)

5.3 Thận chủ khí hóa nước (chủ thủy)

 

Là chỉ thận chủ trì và điều tiết chuyển hóa tân dịch bởi vậy còn có tên là “Thủy tạng”. Quá trình chuyển hóa tân dịch trong cơ thể là thập phần phức tạp, thận có tác dụng chủ trì và điều tiết quá trình này. Có thể nhận biết từ hai mặt: 

Thứ nhất: Thận âm và dương có tác dụng điều tiết toàn bộ quá trình chuyển hóa tân dịch của các cơ quan. Đầu tiên vị, tiểu trường, đại trường dưới sự hiệp trợ của tỳ hấp thu thủy cốc tinh vi mà sản xuất tân dịch. Sau đó lại thông qua tỳ, phế, thận, tam tiêu đem nó phân bố khắp nơi, phát huy tác dụng tư nhuận và nhu dưỡng của nó. Cuối cùng sản phẩm cặn bã của quá trình chuyển hóa đó thông qua nước tiểu, mồ hôi và phân được bài tiết ra ngoài. Mỗi khâu (mắt xích) của sự chuyển hóa tân dịch tức là vị, tiểu trường, đại trường, tỳ, phế, thận, tam tiêu, bàng quang, và ngay cả phía ngoài là da đều được tiến hành dưới sự điều tiết của thận âm và thận dương. Thận dương làm cho tân dịch sản sinh phân bố và bài tiết tăng nhanh. Thận âm lại làm cho quá trình đó chậm lại. Do đó nếu thấy có hiện tượng âm hư sẽ xuất hiện miệng lưỡi khô táo, tiểu tiện thông suốt. Nếu là dương hư thì miệng sẽ không khô mà lại nhiều tân dịch, tiểu ít thậm chí thủy dịch ngưng trệ gây phù thũng. Nhất thiết phải duy trì âm dương quân bình thì quá trình chuyển hóa tân dịch sẽ tiến hành bình thường. Thận âm và dương là căn bản của toàn bộ âm dương tạng phủ, nên nó có tác dụng điều tiết và chủ đạo mọi khâu trong việc chuyển hóa tân dịch. Đây cũng là một mặt quan trọng của thận chủ thủy dịch. 

Thứ hai: Tạng thận bản thân cũng là một mắt xích quan trọng bắt buộc tân dịch phải kinh qua trong vấn đề chuyển hóa và bài tiết tân dịch. “Thận dương vi khai” “Thận âm vi hợp” (dương là mở, âm là đóng), thận âm dương bất bình hành(mất quân bình), khai hợp thất điều dẫn đến khả năng đi tiểu sẽ thất thường. Chỉ có thận âm và dương bình hành thì thủy dịch bài xuất mới bình thường, đủ. 

Thận chủ thủy còn biểu hiện ở chỗ tinh khí trong thận có tác dụng khí hóa, chưng đằng thủy dịch, tức là khi thủy dịch đi qua tạng thận thì thận sẽ chưng đằng khí hóa đại bộ phận phần hữu dụng của thủy dịch và sẽ đưa vòng trở lại toàn thân, do đó một bộ phận ít những chất cặn bã sẽ được đưa xuống bàng quang mà tống ra ngoài. Nếu như tinh khí thận bất túc, sự chưng đằng và khí hóa sẽ không đủ mạnh thì đại bộ phận phần hữu dụng trong thủy dịch sẽ theo chất cặn bã bài tiết ra ngoài và xuất hiện tiểu nhiều (lượng, lần) và nước tiểu trong. Đây là một triệu chứng quan trọng của thận dương suy (triệu chứng này xuất hiện với tỷ lệ cao hơn phù thũng trong thận dương hư). Bởi vậy theo năm tháng tuổi tác càng lớn thì tuy là không bệnh nhưng cũng xuất hiện tinh khí trong thận ngày càng suy, thận dương bất túc nên tiểu nhiều đặc biệt tiểu đêm nhiều, nước tiểu trong… 

5.4 Điều tiết chuyển hóa của cơ thể và hoạt động sinh lý

Chức năng này của thận khí được thực hiện thông qua bởi hai loại chức năng tương phản nhau (tinh khí) chứa trong thận, đó là thận âm và thận dương. 

Thận dương thúc tiến dương toàn thân, thận âm tăng cường âm toàn thân. Thận âm thận dương bình hành thì âm dương toàn thân cũng thăng bằng. Một khi phát sinh sự thiên thịnh hoặc thiên suy của thận âm và dương thì sẽ dẫn đến sự thất điều âm dương toàn thân mà gây ra bệnh. Thận dương chủ yếu thúc đẩy sự ôn húc (làm ấm), vận động hưng phấn và khí hóa của cơ thể. Nó có thể xúc tiến sự sản sinh, vận động, khí hóa của khí. Khí của cơ thể sản sinh ra chủ yếu từ thanh khí và thủy cốc tinh khí, đồng thời cũng (có thể) do “hình chất” chuyển biến thành. Do vậy thận dương muốn thúc đẩy sự sản sinh khí thì không những cần gia tăng sự hô hấp của phế và hấp thu của tỳ vị đồng thời còn cần phải làm cho hình thể hữu hình biến hóa thành khí vô hình, tức là đã thúc đẩy tác dụng “Khí hóa”. Sự vận động của khí thúc đẩy sự vận hành của huyết, tân dịch và các loại hoạt động khác của cơ thể. Vận động của khí tăng nhanh thì sự vận hành, phân bố và bài tiết của huyết và tân dịch cũng tăng nhanh. Đồng thời thận dương là căn gốc của tâm dương nên thận dương vượng thì tâm dương cũng vượng có tác dụng hưng phấn tâm thần. 

Khi thận dương đi đến các tạng phủ, kinh lạc, hình thể, quan khiếu thì nó sẽ biến thành dương khí của các cơ quan đó. Do vậy thận dương vượng thì dương khí toàn thân cũng sẽ vượng, thận dương suy thì dương khí toàn thân cũng suy, thận dương vong thì toàn bộ dương trong cơ thể cũng diệt (tắt) sinh mạng cũng chấm dứt. Bởi vậy thận dương cực kỳ quan trọng. Vì muốn cường điệu (nhấn mạnh) sự quan trọng của thận dương nên người xưa gọi nó là chân dương, nguyên dương hoặc chân hỏa. Đồng thời ví nó như mặt trời, như Trương Giới Tân nhà Minh, có nói trong “Loại kinh đồ dực – Đại bảo luận”: “Thiên chi đại bảo, chỉ thử nhất hoàn hồng nhật; nhân chi đại bảo, chỉ thử nhất tức chân dương (vật quí nhất trên trời là vầng thái dương, vật quý nhất trong con người là chân dương). Nếu thận dương bất túc thì sự chuyển hóa trong cơ thể sẽ trì trệ, sản nhiệt giảm, năng lượng sinh ra giảm, chức năng các tạng phủ kinh lạc hình thể, khiếu sẽ giảm với biểu hiện sắc mặt nhợt nhạt, sợ lạnh, tay chân lạnh, mạch vô lực hoặc trì hoãn, vận động tân dịch sẽ chậm gầy phù thũng, tinh thần ủy mị, phản ứng chậm chạp… một loạt triệu chứng dương hư. Đồng thời do thận nằm ở lưng, vị trí trung tiêu, tại thể hợp cốt chủ về chức năng sinh lý nên khi thận dương hư còn xuất hiện đau mỏi lưng gối, lạnh vùng hội âm, chức năng sinh lý giảm… biểu hiện của thận dương hư. Trong điều trị nên bổ thận ôn dương. 

Thận âm tác dụng sinh lý chủ yếu là xúc tiến sự tư nhuận, ninh tịnh, thành hình và chế ước dương nhiệt. Thận âm thông qua tam tiêu để phân bố đến toàn thân, thúc đẩy sự tiết tân dịch và sinh thành của huyết mà tân dịch và huyết có tác dụng tư nhuận và nhu dưỡng, do đó có thể nói thận âm có thể thúc đẩy sự tư nhuận và nhu dưỡng. Do tân dịch và huyết được sinh ra nhờ sự thúc đẩy của thận âm nên âm vượng thì tân huyết sung túc, âm khuy thì tân khô huyết thiểu. Sự sinh ra của tân và huyết không tách rời được âm khí do đó người xưa thường gọi kèm là âm tân, âm huyết. Đồng thời cũng gộp chung mối quan hệ giữa âm khí và tư nhuận, nhu dưỡng. Như Hà Mộng Dao trong “Y biểu” có nói: “Âm khí giả, nhuận trạch chi khí dã”. Tác dụng thận dương và thận âm tương phản, thận âm ức chế sự hóa khí mà thúc đẩy sự thành hình, làm chậm sự khí hóa sẽ giảm sự sản nhiệt làm cho con người mát mẻ, đồng thời làm cho các loại vận động trong cơ thể giảm, chậm lại sẽ có tác dụng làm tâm thần ninh tịnh. 

Thận âm khi đến các tạng phủ cơ quan sẽ biến thành âm khí của tạng phủ cơ quan đó. Do vậy thận âm vượng thì âm khí toàn thân cũng sẽ vượng, thận âm suy thì phần âm trong cơ thể cũng sẽ suy, thận âm vong thì âm khí trong con người cũng vong thận âm cũng rất quan trọng đối với cơ thể nên cũng cóngười nhấn mạnh sự quan trọng đó bằng cách gọi nó là chân âm, nguyên âm hoặc chân thủy. Chu Đan Khê thời nhà Nguyên trong “Cách trí dư luận – Tướng hỏa luận” có đặc biệt nhấn mạnh: Tướng hỏa thiêu đốt chân âm, âm hư tắc bệnh, âm tuyệt tắc tử. Ông rất coi trọng thận âm, khi thận âm bất túc tân dịch cũng sẽ ít tiết nên biểu hiện khô, tâm phiền ý loạn (do mất đi sự ninh tịnh bình yên), huyết hành sẽ nhanh hơn, âm không chế ngự dương dương sẽ kháng nên sự chuyển hóa trao đổi chất kháng thịnh sản nhiệt tăng và xuất hiện triệu chứng nhiệt. Do chuyển hóa tăng nhanh nên sự hao tổn khí cũng tăng nhiều. Nếu bổ sung khí không kịp thời sẽ dẫn đến sự hình thể của hình chất sẽ chuyển biến thành khí vô hình do đó sự hóa khí tăng xuất hiện triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt, tâm phiền bất an, miệng khô họng táo, mạch tế sác – một loạt triệu chứng của âm hư nội nhiệt – đồng thời cũng xuất hiện đau lưng mỏi gối, dương sự dễ hưng (đòi hỏi sinh lý tăng) di tinh, xuất sớm… trong điều trị nên bổ thận tư âm là chính. 

Thận âm và dương có tác dụng tương phản nhau, cùng chế ước nhau và chính vì đó nên nó có thể điều tiết chuyển hóa. Ở điều kiện thường thận âm và thận dương là tương hỗ bình hành để duy trì hoạt động sinh lý bình thường. Nếu vì lý do nào đó mà bất cứ một cái nào hoặc thiên thịnh hoặc thiên suy đều dẫn đến mất cân bằng âm dương và sẽ dẫn đến bệnh. Do thận âm và thận dương là căn bản (gốc) âm dương của ngũ tạng nên khi thận âm hoặc dương thiên thịnh suy đều có thể dẫn đến sự thịnh suy của ngũ tạng và ngược lại bất cứ tạng phủ nào suy lâu ngày cũng sẽ gây ra thận âm hoặc thận dương bất túc. Lâm sàng gọi đó là “Cửu bệnh cập thận” do đó bất luận âm hư hoặc dương hư ở bất kỳ đâu trong cơ thể lâu ngày cũng sẽ dẫn đến thận âm hoặc dương bất túc trong điều trị nên lấy bổ thận trung chi âm dương làm phương pháp trị bản. Chức năng sinh lý của thận là phong tàng thận tinh, chức năng này lại được thúc đẩy bởi tinh khí trong thận. Khi tinh khí trong thận bất túc sẽ làm chức năng phong tàng giảm yếu mà gây ra di tinh, xuất tinh sớm, đái hạ nhiều mà trong loãng, đái dầm thậm chí bí tiểu, lâm sàng gọi đây là biểu hiện “thận khí bất cố”. Điều trị nên bổ thận cố nhiếp là chính. 

 

5.5 Thận chủ cốt, dưỡng não, sinh huyết

– Chủ cốt: vì thận tàng tinh, tinh sinh tủy, tủy ở trong xương nuôi dưỡng cốt nên bệnh về xương cốt có thể chữa vào thận.
– Dưỡng não: vì thận sinh tủy, tủy ở cột sống thông với não, không ngừng bổ sung tinh tủy cho não (não là bể của tủy). Vì vậy thận (tiên thiên) suy kém ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ và thường phải chữa vào thận.
– Sinh huyết: vì huyết do tinh sinh ra, tinh lại tàng trữ ở thận, vì vậy thận sinh huyết, huyết hư cần kết hợp chữa vào thận.

Xem chi tiết tại phần hình thể và quan khiếu

 

5.6 Thận chủ nạp khí

Nạp có nghĩa là thu nạp, nhiếp nạp. Nạp khí tức là hấp (hít) khí. Thận chủ nạp khí là chỉ về thận có tác dụng giúp phế hít khí vô sâu. Nạn kinh chương Tứ nạn, có nói: “Hô xuất tâm dữ phế, hấp nhập thận dữ can” (hít vô do thận và can thở ra tâm phế). Hô hấp tuy là chức năng của phế, thở ra (hô) nhờ chức năng tuyên phát, hít vô nhờ chức năng túc giáng, nhưng khi hít vô nhờ tác dụng nhiếp nạp của thận mới hít sâu. Kỳ thực chức năng chủ nạp khí chính là chức năng phong tàng được thể hiện cụ thể trong hô hấp. Nếu tinh khí trong thận bất túc, nhiếp nạp vô lực, không thể giúp phế duy trì hít sâu sẽ xuất hiện thở nông, cạn hoặc thở ra nhiều hít vô ít, động đậy là khí suyễn… hiện tượng này gọi là thận bất nạp khí. 

Trong các chức năng của thận đã kể trên thì chức năng tàng tinh là quan trọng nhất vì thận chủ thủy và thận nạp khí đều là từ chức năng tàng tinh diễn suy ra. Bởi vì thận tàng tinh là căn bản âm dương toàn thân mà thận âm và dương điều tiết chuyển hóa tân dịch toàn thân nên thận chủ thủy. Thận tàng tinh chủ phong tàng và nhiếp nạp mà thận chủ nạp khí chính là chủ nhiếp nạp, được biểu hiện cụ thể ở hô hấp. Do đó khi nhận xét các chức năng của thận nhất thiết phải lấy thận tàng tinh xem như chức năng căn bản nhất để lý giải. 

 

5.7 Thận khai khiếu ra tiền âm, hậu âm (nhị âm), tai và vinh nhuận ra tóc

-Tóc là phần dư (thừa) của huyết mà huyết do thận sinh ra, vậy trạng thái mạnh khỏe của thận đều thể hiện ra tóc, thận khỏe tóc dày, đen, ngược lại tóc thưa, hay rụng (thanh niên tóc tốt, người già tóc thưa, bạc)
-Tai: thận tinh nuôi dưỡng tai: thận hư tai ù, điếc, điều trị cần bổ thận

-Tiền âm: là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam, nữ, mà thận chủ khí hóa nước tiểu và sinh dục, vì vậy thận chủ tiền âm.
-Hậu âm: là nơi bài tiết phân do tỳ đảm nhiệm, nhưng tỳ dương lại do thận ôn hóa, nên thận chủ hậu âm, người già thận khí hư hay đại tiện lỏng.

Xem chi tiết tại phần hình thể và quan khiếu

5.8 Thận chủ tình chí là sợ hãi

Khủng là khủng bố sợ hãi, một loại hoạt động tinh thần có quan hệ tới thận. “Tố vấn – Cử thống luận” có nói: “Khủng tắc tinh khước, khước tắc thượng tiêu bế, bế tắc khí hoàn, hoàn tắc hạ tiêu trướng, cố khí hạ hành hề” (sợ hãi làm tinh co, lùi lại, co lùi thì thượng tiêu bị bế tắc, khí không lên trên được…). Do thận tàng tinh mà vị trí ở hạ tiêu. Sau khi thận tinh hóa ra thận khí tất nhiên phải qua trung, thượng tiêu mới có thể phân bổ toàn thân. Sợ hãi làm tinh khí co rụt không đi lên được mà ngược lại đi xuống, thận tinh không phân bố bình thường được, do đó có câu “Khủng thương thận” “Khủng tắc khí hạ”. 

5.9 Thận chủ dịch là nước bọt

“Tố vấn – Tuyên minh ngũ khí luận” nói: “Ngũ tạng hóa dịch… thận hóa thóa”. Trương Trí Thông nhà Thanh lý giải như sau: Tân dịch của tạng thận thông qua túc thiếu âm thận kinh đi lên qua can, cách, phế, khí quản đến dưới lưỡi tại hai huyệt kim tân và ngọc dịch và được tiết ra ở đó thành nước miếng. Do nước bọt thuộc thận nên những nhà đạo dẫn (khí công) chủ trương cuốn lưỡi lên trên vòm miệng để nước bọt từ từ tiết ra, chờ cho đầy miệng mới nuốt dùng để bổ thận tinh. 

5.10 Mệnh môn 

Danh từ mệnh môn xuất hiện đầu tiên trong nội kinh, lúc đó người ta dùng để chỉ về mắt (huyệt tinh minh) như “Linh khu – Căn kết” có nói: “Thái dương căn vu chí âm, kết vu mệnh môn. Mệnh môn giả, mục dã”. Nhưng kiểu giải thích này không được nhiều người công nhận (trọng thị). Nạn kinh là cuốn đầu tiên cho rằng mệnh môn là nội tạng. “Nạn kinh – Tam thập lục nạn” nói: Thận có hai nhưng không phải đều là thận, bên trái là thận bên phải là mệnh môn. Từ Nạn kinh trở về sau Hán, Tùy, Đường rất ít bàn tới mệnh môn. Cho tới Tống, Nguyên tuy có luận tới nhưng rất ít và không sâu. Mãi tới nhà Thanh các y gia mới luận về nó tương đối sâu. Dưới đây là những giải thích chủ yếu và có ảnh hưởng lớn.

1. Thuyết thận bên phải là mệnh môn. “Nạn kinh – Tam thập cửu nạn” có nói: “Thận hữu lưỡng tạng dã, kỳ tả vi thận, hữu vi mệnh môn. Mệnh môn giả, tinh thần chi sở xá dã. Nam tử dĩ tàng tinh, nữ tử dĩ hệ bào. Kỳ khí dữ thận thông” (Thận có hai trái, bên trái là thận, bên phải là mệnh môn. Mệnh môn là nơi tàng tinh và thần, ở nam thì tàng tinh, ở nữ là hệ bào (tử cung) khí của nó thông với thận). Ở đây nói về chức năng sinh lý của mệnh môn, khái quát lại có thể qui thành ba điểm. Thứ nhất giải thích mệnh môn là nơi tồn trữ động lực chính (nguyên thuỷ) của sinh mạng  7 1nên nó được gọi là: “Tinh thần chi sở xá”(nơi cư ngụ của tinh thần), nhấn mạnh tầm quan trọng của nó trong việc duy trì hoạt động sống. Thứ hai giải thích mệnh môn có quan hệ gắn bó với chức năng sinh lý (sinh dục) nên nam tử dĩ tàng tinh, nữ tử dĩ hệ bào, nhấn mạnh chức năng sinh lý của con người căn bản là tại mệnh môn. Thứ ba giải thích quan hệ gắn bó giữa thận và mệnh môn trên chức năng sinh lý không thể phân chia. “Kỳ khí dữ thận thông”, thuyết này ảnh hưởng lớn đến y gia đời sau như Vương Thúc Hòa (Tấn), Hoạt Bá Nhân (Nguyên)… Đồng thời lý luận này cũng chỉ đạo về phương pháp bắt mạch, hoạch phân ra vị trí thốn khẩu trong chẩn mạch. Cho đến nay khi chẩn thốn khẩu mạch vẫn chia ra tả xích mạch thuộc thận, hữu xích mạch thuộc mệnh môn.

2. Thuyết cả hai thận đều là mệnh môn: Đời nhà Nguyên tác giả Ngu Đoàn giải thích cả hai thận đều là mệnh môn. Ông ta cho rằng mệnh môn là căn bản của nguyên khí và là vật tối quan trọng đối với sinh mạng.

3. Thuyết mệnh môn nằm giữa hai trái thận: Người đề xướng thuyết này là Triệu Hiến Khả (Minh). Trong cuốn “Y quán – Nội kinh thập nhị quan”, có nói: Mệnh môn nằm bên trong cơ thể, sát cột sống, đối diện với rốn, nếu đếm từ trên xuống ở đốt sống thứ 14, dưới đếm lên đốt thứ 7… bên trái thuộc âm thủy, bên phải thuộc dương hỏa, mệnh môn nằm ở giữa cách mỗi bên 1,5 thốn… Lý luận của ông có hai điểm đặc biệt, thứ nhất cho rằng mệnh môn độc lập với hai thận (nằm giữa); thứ hai cho rằng chức năng của mệnh môn chủ yếu là tác dụng của chân hỏa, chủ trì dương khí toàn thân.

4. Thuyết cho rằng mệnh môn là một loại “khí động” giữa hai thận: Người đề xuất thuyết này là Tôn Nhất Khuê (danh y nhà Minh), cho rằng mệnh môn là nếu xét về vị trí thì nằm giữa hai thận, nếu xét về tính chất thì nó chỉ là một “Động khí” nằm giữa hai thận (chứ không phải là một cơ quan hình thể), và các loại động khí này là khí căn bản của âm dương, tạng phủ và là gốc nguồn của sinh mạng, nhưng nó không phải là hỏa. Tuy có nhiều tranh luận khác nhau nhưng xét chung thì có hai điểm giống nhau, thứ nhất đều cho rằng mệnh môn là gốc của sinh mạng; thứ hai nó có quan hệ khăng khít với thận. Người xưa nhấn mạnh đến mệnh môn chẳng qua muốn đề cập đến tinh khí của thận mà thôi. 2. 

Thận thủy sinh can mộc, khắc tâm hỏa, biểu lý bàng quang.

5.11 Một số bệnh tạng Thận

a) Thận dương hư
– Lâm sàng: sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng, đau mỏi vùng thắt lưng, liệt dương, chất lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc mạch xích vô lực
Nếu thận khí hư không cố sáp thêm các chứng: di tinh, hoạt tinh, tiểu tiện nhiều lần, có khi không tự chủ, đái dầm, ỉa lỏng ở người già, nếu thận hư không nạp khí gây hen suyễn khó thở, mạch phù vô lực; nếu thận hư không khí hoá bài tiết được gây phù toàn thân nhất là 2 chi dưới, ấn lõm, bụng đầy, đái ít, khó thở, chất lưỡi nhạt, mềm bệu, mạch trầm tế.
– Pháp điều trị: ôn bổ thận dương, cố nhiếp thận khí, ôn bổ thận khí, ôn dương lợi thủy.

 

b) Thận âm hư
– Lâm sàng: hoa mắt, chóng mặt, ù tai, răng lung lay, miệng khô, ngũ tâm phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm, di tinh, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác
– Pháp điều trị: bổ thận âm.