5. Tạng Thận
Vị trí ở lưng hai bên cột sống, phải trái mỗi bên một cái. “Tố vấn – Mạch yếu tinh vi luận” nói: “Yêu giả, thận chi phủ dã” (lưng là thủ phủ của thận). Đời Minh, Triệu Hiến Khả trong “Y quán – Nội kinh thập nhị quan luận” có nói: “Thận hữu nhị, tinh sở xá dã. Sinh vu tích đốc thập tứ chùy hạ, lưỡng bàng các nhất thốn ngũ phân. Hình như hồng đậu, tương tịnh nhi khúc phụ vu tích”. (Thận có hai trái là nơi trữ tinh khí, nằm ở đốt sống 14, hai bên cách cột sống 1,5 thốn. Hình dáng như hột đậu đỏ gắn vào cột sống).
Như vậy cho thấy hình dáng và vị trí thận (tạng) cũng tương tự hình dáng giải phẫu của YHHĐ. Chức năng sinh lý chủ yếu của thận là tàng tinh, chủ thủy và thu nạp khí. Có tác dụng chủ yếu trong việc sinh trưởng phát dục và sinh dục của con người đồng thời là nguồn gốc âm dương toàn thân. Thận tại thể hợp với cốt, khai khiếu ở nhĩ (tai) và nhị âm, kỳ hóa tại phát (tóc), tại trí vi khủng (chủ về sự khủng hoảng sợ hãi trong tình chí), tại dịch vi thóa (nước bọt). Túc thiếu âm thận kinh tương qua biểu lý với túc thái dương bàng quang kinh. Thận là tạng âm trung chi âm, ngũ hành thuộc thủy là tạng quan trọng trong cơ thể.
5.1 Thận tàng tinh
Chữ tàng ở đây là bế tàng nghĩa là thận có chức năng tồn trữ, phong tàng tinh khí. Tố vấn chương Lục tiết tạng tượng luận, nói: “Thận giả chủ chập (tiềm tàng), phong tàng chi bản, tinh chi xứ dã” (Thận chủ tàng tinh khí). Tố vấn chương Thượng cổ thiên chân luận, có ghi: “Thận giả chủ thủy, thụ ngũ tạng lục phủ chi tinh nhi tàng chi” (Thận chủ thủy, thu nhận tàng trữ tinh khí ngũ tạng).Tác dụng chủ yếu của thận chủ tàng tinh là đem tinh khí cơ thể tàng trữ tại thận, đồng thời thúc đẩy nó không ngừng bổ sung, đề phòng sự mất mát vô duyên cớ tinh khí, là điều kiện tất yếu để tinh khí phát huy hiệu ứng sinh lý đầy đủ trong cơ thể. Tinh là chất cơ bản cấu thành cơ thể và duy trì thúc đẩy hoạt động sống.
Tinh có hai hàm ý:
Nghĩa rộng chỉ tất cả các vật chất nhỏ bé và có tác dụng trọng yếu, ví dụ khí huyết, tân dịch trong cơ thể và chất dinh dưỡng (thủy cốc tinh vi) hấp thu từ đồ ăn đều thuộc phạm trù tinh, gọi chung là tinh khí.
Nghĩa hẹp chỉ về tinh cơ quan sinh dục bao gồm tiên thiên tinh (tinh sinh thực của cha mẹ nhận được trước khi sinh ra) và tinh của cơ thể sau khi phát dục dậy thì có được.
Tinh tàng trong thận có hai nguồn gốc: Thứ nhất có nguồn gốc từ tinh (sinh thực) của cha mẹ tức là tiên thiên chi tinh; thứ hai nguồn gốc hấp thu từ đồ ăn dinh dưỡng và từ sự chuyển hóa của tạng phủ sau khi sinh ra gọi là hậu thiên chi tinh. Tinh tiên thiên và hậu thiên dựa vào nhau mà tồn tại. Tinh tiên thiên dựa vào tinh hậu thiên không ngừng bồi dục sung dưỡng mới có thể ngày càng đầy đủ mạnh mẽ (sung doanh) để phát huy tốt nhất hiệu ứng sinh lý. Hậu thiên chi tinh cũng lại dựa vào hoạt lực tiên thiên tinh tư trợ mới có thể không ngừng nhiếp nhập và hóa sinh.
Ở đây có hai điểm cần nhấn mạnh. Thứ nhất tinh tiên thiên và hậu thiên hòa nhập vào một thể thống nhất không thể phân chia. Khi mới sinh ra, thận chỉ tàng tinh tiên thiên, chỉ sau khi ăn uống mới sản sinh ra hậu thiên chi tinh. Theo sự phát triển phát dục của cơ thể hậu thiên tinh khí (thu được từ đồ ăn dưỡng chất và sản phẩm sản sinh của quá trình chuyển hóa tạng phủ) cũng không ngừng tư dưỡng tinh tiên thiên làm nó không ngừng tràn đầy (sung doanh). Lúc này tinh khí mà thận tàng trữ nếu xét về mặt tính trạng và chức năng thì nó là tinh tiên thiên (do đó không ít người cường điệu thận là tiên thiên chi bản). Nhưng về thành phần mà nó chứa lại có tinh tiên thiên và tinh hậu thiên. Do đó không thể đơn giản nói nó là tiên thiên hay hậu thiên. Thứ hai là thận tinh và thận khí là một. Thường mà nói thận tinh là hữu hình, thận khí là vô hình. Thận tinh tán thì hóa thành thận khí, thận khí tụ lại biến thành thận tinh. Tinh và khí không ngừng tương hỗ chuyển hóan (hóa) cho nhau. Do vậy trên thực tế thận tinh và thận khí giống như nước và hơi nước vậy, nghĩa là cũng là một chất chẳng qua trạng thái tồn tại không giống nhau mà thôi.
Thận tàng tinh, tinh hóa khí thông qua tam tiêu bố tán toàn thân. Chức năng sinh lý chủ yếu của thận khí là thúc đẩy cơ thể sinh trưởng phát dục và sinh thực (tức khả năng sinh lý) và điều tiết hoạt động chức năng và chuyển hóa của cơ thể.
5.2 Thận chủ sinh dục, phát dục của cơ thể
Như “Tố vấn – Thượng cổ thiên chân luận” nói: “Con gái 7 tuổi thận khí thịnh sẽ thay răng tóc dài, 14 tuổi (nhị thất) có thiên quý (có kinh) lúc này do nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh nên đến tháng có kinh, do vậy có thể có con.. 21 tuổi (tam thất) thận khí quân bình nên mọc răng khôn và tóc dài mượt mà. 28 tuổi (tứ thất) gân cốt chắc rắn thân thể thịnh, tráng kiện. 35 tuổi (ngũ thất) dương minh mạch suy, mặt bắt đầu khô (tiêu) tóc bắt đầu rụng. 42 tuổi (lục thất) tam kinh dương suy ở trên (tam dương mạch suy tại thượng) mặt khô đen tóc bắt đầu bạc. 49 tuổi (thất thất) nhâm mạch hư, thái xung mạch suy giảm, thiên quý kiệt, hết kinh nên tiều tụy và không có con (hình hoại nhi vô tử dã). Con trai (trượng phu) 8 tuổi thận khí thực, tóc mọc dài thay răng. 16 tuổi (nhị bát) thận khí thịnh, thiên quý đến, thận khí dật tả (đầy đủ tràn trề) âm dương điều hòa có thể có con. 24 tuổi (tam bát) thận khí quân bình… gân cốt chắc khỏe, mọc răng khôn. 32 tuổi (tứ bát) gân cốt cuồn cuộn chắc nịch. 40 tuổi (ngũ bát) thận khí suy, tóc rụng răng lung lay. 48 tuổi (lục bát) dương khí suy kiệt phần trên, mặt khô, tóc bắt đầu hoa râm. 56 tuổi (thất bát) can khí suy, gân cốt mềm yếu, thiên quý kiệt, tinh thiểu, tạng thận suy. 64 tuổi (bát bát) răng rụng tóc rụng…”. Đoạn kinh văn trên cho thấy con người ta bắt đầu từ thời ấu niên theo sự sung mãn dần của thận tinh khí sẽ thay răng mọc tóc… hiện tượng phát triển nhanh chóng. Sau đó thận tinh không ngừng bổ sung (sung doanh) mà sản sinh thiên quý.
Thiên quý là gì? Là khi tinh khí thận sung mãn tới một mức độ nhất định sẽ sản sinh ra một loại vật chất tinh vi. Chất này có tác dụng thúc tiến cơ quan sinh dục phát triển trưởng thành và duy trì nòi giống. Khi đến 14 – 16 tuổi tinh khí trong thận đã sung thịnh sẽ xuất hiện thiên quý. Thiên quý thúc dục cơ quan sinh dục dần phát triển và sau đó vào thời kỳ thanh xuân, phụ nữ có kinh (nguyệt sự dĩ thời hạ). Đàn ông xuất hiện “Tinh khí dật tả” (xuất tinh sinh lý). Sau trung niên tinh khí trong thận giảm dần, thiên quý theo đó cũng suy giảm và ngưng hẳn. Do không có thiên quý duy trì hoạt động nên không còn khả năng có con, chức năng sinh lý dần giảm, cơ quan sinh dục teo nhỏ. Sau cùng là thời kỳ già lão.
Đoạn văn trên cho thấy tinh khí trong thận thịnh suy là nguồn gốc sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ của cơ thể. Quan sát răng cốt, tóc phát triển tức là quan sát thận tinh khí ở bên ngoài là tiêu chí phán đoán trạng thái phát triển phát dục và suy lão. Khi chức năng này không đủ thì trẻ em sẽ phát triển chậm, thanh niên thì sự phát dục toàn diện đến chậm, trung niên thì khả năng đó giảm, người già thì suy lão đến rất nhanh.