4.Tạng Phế
Vị trí trong khoang ngực, phải trái mỗi bên một lá và nằm ở vị trí cao nhất trong cơ thể nên còn gọi phế là hoa cái. “Linh khu – Cửu châm luận” nói: “Phế giả, ngũ tạng lục phủ chi cái dã” (phế là phần cao nhất trong ngũ tạng lục phủ). Chức năng sinh lý của phế là chủ khí, tư hô hấp, thông điều thủy đạo, tuyên tán vệ khí, triều bách mạch, chủ trị tiết. Phế tại thể hợp với bì (da), kỳ hóa tại mao (lông), khai khiếu ở mũi. Tại chí vi bi, tại dịch vi thế (nước mũi), thủ thái âm phế kinh và thủ dương minh đại trường kinh có tương hỗ lạc thuộc phế và đại trường do đó phế và đại trường là tương quan biểu lý. Phế trong ngũ hành thuộc kim, trong âm dương thuộc dương trung chi âm, là cơ quan quan trọng trong chuyển hóa tân dịch và khí.
4.1 Phế chủ khí, chủ hô hấp
Cơ thể trong quá trình chuyển hóa cần sử dụng thanh khí (khí trời) không ngừng do phế cung cấp qua tác dụng hô hấp của nó. Chức năng phế là tư hô hấp (tư là coi, cai quản) lại dựa vào tuyên giáng của phế. Trên thực tế hô hấp của phế cũng tức là vận động tuyên giáng của nó được thể hiện cụ thể trong quá trình giao hoán khí. Hô (thở) tức là tuyên phát, hấp (hít) tức là túc giáng. Tuyên giáng bình thường, tán nạp khí điều độ thì hô hấp mới điều hòa. Vả lại trong quá trình hô hấp nhất định phải duy trì sự thanh túc của phế và đường hô hấp mới có thể làm cho khí đạo thông suốt. Nếu không thanh túc tức là ảnh hưởng chức năng phế tư hô hấp, dẫn đến hô hấp không thông suốt, ho, khí suyễn…
Phế chủ khí. “Tố vấn – Ngũ tạng sinh thành” có nói: “Chư khí giả, giới thuộc vu phế” ở đây nói lên trong ngũ tạng phế là tạng có quan hệ với khí khăng khít nhất. Đó là vì phế tư hô hấp, thanh khí được hít vô nhờ phế (thanh khí là một trong những nguồn gốc tạo khí của cơ thể). Chức năng phế tư hô hấp có bình thường hoặc không sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự sinh thành khí. Hô hấp điều hòa thì trọc khí được tống ra ngoài, thanh khí được hít vô và nguồn tạo ra khí cho cơ thể sẽ dồi dào.
Nếu chức năng hô hấp giảm yếu thì hít vô thanh khí không đủ ảnh hưởng sự sinh thành khí dẫn đến khí suy. Nếu một khi hô hấp ngưng, thanh khí không thể được hít vô, trọc khí không được thải ra. Sự giao hoán khí trong cơ thể không xảy ra được thì tính mạng theo đó cũng kết thúc. Do vậy “Tố vấn” có nói: Phế là gốc nguồn của khí, và phế chủ khí còn thể hiện ở chỗ nó có tác dụng điều tiết khí cơ toàn thân. Hô hấp và tuyên giáng của phế chính là biểu hiện cụ thể của thăng giáng xuất nhập khí trong phế. Do sự thăng giáng xuất nhập của phế khí có khả năng lôi kéo khí toàn thân thăng giáng xuất nhập, do đó phế có tác dụng điều tiết quan trọng đối với khí cơ toàn thân.
Đồng thời phế chủ hô hấp, thanh khí do phế hít vô tích trong phế mà phế lại nằm trong khoang ngực nên “Tố vấn – Ngũ vị” nói: Vì khí trời tích tại ngực nên gọi phế là khí hải.
Tổng hợp những điều đã nói ở trên có thể thấy phế chủ khí chủ yếu quyết định ở chức năng phế tư hô hấp, mà chức năng phế tư hô hấp lại dựa vào sự vận động tuyên giáng của phế khí. Tuyên giáng bình thường thì hô hấp điều hòa, không ngừng hấp thu thanh khí, thải trọc khí, đây là điều kiện để khí được sinh thành và vận động.
4.2 Phế chủ tuyên phát, túc giáng
Sự vận động của phế khí biểu hiện ở hai hình thức là “tuyên” và “giáng”. Tuyên là gì? Tuyên là tuyên phát, tức là phế khí đi lên đi ra hay còn gọi là thăng tán. Giáng là túc giáng, phế khí đi thẳng xuống đi vào trong. Hai hình thức vận động này của phế rất quan trọng.
Bất cứ chức năng sinh lý nào của phế đều phải thông qua hai kiểu vận động này của phế để hoàn thành. Như các chức năng tư hô hấp, thông điều thủy đạo, triều bách mạch, tuyên tán vệ khí… đều phải thông qua sự tuyên giáng của phế. Thông qua tuyên phát, phế thải trọc khí ra ngoài cơ thể, mang tân dịch phân bố toàn thân, ra ngoài tới da lông, tuyên tán vệ khí, thải sản phẩm của chuyển hóa của tân dịch là mồ hôi, hội tụ huyết dịch tại phế và tái phân bố tới toàn thân. Thông qua chức năng túc giáng hít khí trời (thanh khí), mang tân dịch phân bố xuống dưới vào trong, thải chất cặn bã sau chuyển hóa tân dịch là nước tiểu, làm cho huyết dịch toàn thân tập trung tại phế. Chức năng tuyên phát và túc giáng của phế là hai kiểu vận động tương phản nhau. Ở trạng thái sinh lý thường thì chúng chế ước nhau, phối hợp tương hỗ, tương hỗ hiệp điều, giữ sự thăng bằng tương đối trong sự vận động không ngừng. Ở trạng thái bệnh lý cũng thường ảnh hưởng qua lại, khi tuyên phát và túc giáng bình thường thì các chức năng sinh lý của phế được phát huy bình thường. Nếu sự vận động của hai cái đó mất đi sự bình hành hiệp điều sẽ phát sinh “Phế khí thất tuyên” hoặc “Phế khí bất giáng” và xuất hiện triệu chứng như ho suyễn, tức ngực…
Đặc tính sinh lý của phế là thanh túc. Thanh là thanh khiết (sạch), túc thanh (quét sạch). Nghĩa là phế tự bản thân nó có khả năng túc thanh dị vật trong đường thở, bảo đảm đường hô hấp sạch và thông suốt. Lá phế rất mềm mại, thông với mũi miệng và trực tiếp tới bên ngoài, vả lại phía ngoài hợp với bì mao, dễ bị tà khí xâm phạm, không chịu đựng được hàn nhiệt nên phế được gọi là “Kiều tạng” (tạng mềm mại). Tính thanh túc của phế là điều kiện để bảo đảm quá trình vận động tuyên giáng của phế khí bình thường. Nếu do ngoại tà tẩm nhập hoặc do đàm trọc trở khiết (cản trở) hoặc do huyết ứ đình trệ, hoặc phế khí bất túc sẽ ảnh hưởng đến tuyên giáng của phế, tiếp sau đó là biểu hiện sự thất thường chức năng sinh lý của phế với biểu hiện ho, khí suyễn, khó thở… Bởi vậy phế lúc nào cũng phải bảo đảm sự thanh túc mới duy trì được hoạt động tuyên phát và các chức năng sinh lý khác.
4.3 Phế chủ bì mao, thông điều thủy đao
Thông tức là sơ thông, điều là điều tiết. Thủy đạo là con đường vận hành của thủy dịch trong cơ thể. Phế chủ thông điều thủy đạo là chỉ về phế có tác dụng sơ thông và điều tiết vận động tuyên phát và túc giáng đối với sự phân bố, vận hành và bài tiết tân dịch trong cơ thể. “Tố vấn – Kinh mạch biệt luận” nói: “Ẩm nhập vu vị, du dật tinh khí, thượng thâu vu tỳ, tỳ khí tán tinh, thượng qui vu phế, thông điều thủy đạo, hạ thâu bàng quang, thủy tinh tứ bố, ngũ kinh tịnh hành”. Thủy dịch tuy có được nhờ tỳ vị nhưng phân bố, vận hành và bài tiết của nó lại phải nhờ vào phế điều tiết và sơ thông để duy trì thăng bằng động. Thông qua phế tuyên phát thủy dịch đi lên, đi ra ngoài phân bố toàn thân, bên ngoài tới bì mao, sau khi chuyển hóa biến thành mồ hôi bài tiết ra theo đường hạn khổng (lỗ chân lông). Thông qua phế túc giáng thủy dịch đi xuống dưới vào trong, là nguồn biến thành nước tiểu, thông qua thận chưng đằng khí hóa thành nước tiểu chứa ở bàng quang và sau đó bài tiết ra. Qua đó có thể thấy sự tuyên phát túc giáng của phế không chỉ có tác dụng làm cho đường thủy dịch vận hành thông suốt mà còn tác dụng điều tiết sự thăng bằng thể dịch trong cơ thể, vì lẽ đó nên có câu rằng: “Phế chủ hành (vận hành) thủy” “Phế vi thủy chi thuợng nguyên (nguồn)”.
Nếu phế thất (mất đi) tuyên phát sẽ ảnh hưởng đến chức năng thông điều thủy đạo. Mất đi chức năng tuyên tán thì thủy dịch không thể ra ngoài tới bì mao hoặc tấu lý bế tắc mà xuất hiện không mồ hôi, thậm chí phù ngoài da. Mất đi túc giáng thì thủy dịch không thể chuyển xuống bàng quang xuất hiện tiểu khó (bất lợi) thủy thũng… Chức năng sơ thông thủy đạo ngoài sự dựa vào vận động tuyên giáng của phế ra còn cần phải dùng tính chất thanh túc của phế làm cơ sở để tiến hành. Nếu phế thất thanh túc thì đàm thấp sẽ trở trệ, phế và đường thở không bảo đảm sạch, thông đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng đến tác dụng sơ thông thủy đạo của nó: Thủy đạo không thông thì thủy dịch phân bố vận hành và bài tiết lên trên ra ngoài, xuống dưới vào trong bị trở ngại và xuất hiện tiểu không thông, phù…
Phàm khi phế thất tuyên giáng hoặc phế thất thanh túc mà xuất hiện phù thũng thì trong điều trị sẽ trị phế để trị thủy, cách này còn có tên gọi: “Đề hồ yết cái” (muốn nghiêng bình đổ nước thì phải giở nắp). Ngoài ra nguồn gốc thủy dịch từ tỳ sẽ được qui về phế, thông qua tuyên giáng để thông điều thủy đạo và giữ thăng bằng thể dịch. Phế trong quá trình này thực chất chỉ là trạm trung chuyển. Do đó khi phế thất tuyên giáng, thất thanh túc và chức năng thông điều thủy đạo thất tư (mất chỉ huy) không những chỉ gây ra phù thũng như đã nói ở trên mà khi thủy dịch không vận hành sẽ tích tụ thành đàm hoặc lưu lại trong phế hoặc một bộ phận nào đó trong cơ thể sẽ xuất hiện nhiều loại đàm ẩm chứng, nên có thể nói phế cũng có thể sinh đàm.
Xem thêm tại phần hình thể và khai khiếu
4.4 Phế khai khiếu ra mũi, chủ tiếng nói
-Khai khiếu ra mũi: Mũi là nơi thở và ngửi của phế, mọi trạng thái của phế đều thể hiện qua mũi, mũi bảo vệ cho phế, bệnh của mũi ảnh hưởng đến phế. Ngoại tà xâm nhập phế gây ngạt mũi, chảy nước mũi.
-Chủ tiếng nói: phế khí ảnh hưởng trực tiếp đến tiếng nói, phế khí tốt tiếng nói sang sảng khỏe mạnh, ngược lại tiếng nói nhỏ, yếu, trầm, khàn. Qua tiếng nói có thể xác định bệnh ở phế, họng, và ngược lại.
Phế kim sinh thận thủy, khắc can mộc, biểu lý đại tràng.
Xem thêm tại phần hình thể và khai khiếu
4.5 Phế chủ tuyên tán vệ khí
Là chỉ phế thông qua tuyên phát sẽ đem vệ khí tán phân toàn thân. Nguồn 78 gốc vệ khí cũng từ thủy cốc tinh vi của tỳ vị hóa sinh ra, nhưng vệ khí có thể phát tán toàn thân để phát huy chức năng của nó như bảo vệ cơ biểu, làm ấm tạng phủ cơ nhục bì mao, điều tiết khống chế đóng mở tấu lý… lại phải dựa tuyên phát của phế khí để thực hiện. Phế khí không thông thì vệ khí không thể phân tán toàn thân và sẽ xuất hiện ố hàn, không mồ hôi… Khi điều trị nên tuyên phát phế khí. Nếu phế khí hư nhược, vô lực tuyên phát sẽ gây ra vệ khí bất túc (phần biểu) xuất hiện sợ lạnh, ra mồ hôi, dễ cảm mạo, bởi vậy muốn làm cho vệ khí sung túc nên dùng phương pháp bổ phế ích khí trong điều trị. Do vậy cổ nhân có câu: “Phế chủ khí, thuộc vệ”. Sự tuyên phát của phế chính là động lực cơ bản để vệ khí được bố tán. Phế khí bất tuyên hoặc phế khí hư suy sẽ gây ra vệ khí phân bố thất thường ảnh hưởng đến sự phát huy chức năng của vệ khí, bệnh tuy tại vệ nhưng trị pháp lại tại phế.
4.6 Phế triều bách mạch, chủ trị tiết
Lý giải chữ “triều” có nhiều tranh luận, có người cho là hội tụ, có người lại cho là chiều hướng, nhưng cả hai cách giải thích đều thông. Phế triều bách mạch là gì? Là chỉ huyết dịch toàn thân đều thông qua bách mạch hội tụ tại phế, qua sự hô hấp trao đổi thanh trọc khí, huyết dịch lúc này chứa nhiều thanh khí lại thông qua bách mạch tái phân bố toàn thân. Tuyên tán và túc giáng của phế đưa máu tụ hội tại phế là hướng vào trong (nội) phế lại đưa huyết dịch thông qua bách mạch đến toàn thân là hướng ngoại. Hay nói cách khác phế triều bách mạch là biểu hiện cụ thể của sự vận động phế khí trong sự tuần hoàn của huyết dịch. Ở đây cần nói rõ huyết và mạch toàn thân là cùng thuộc tâm, tâm khí là động lực chủ yếu để đưa huyết tuần hoàn trong mạch nhưng nhất thiết phải nhờ vào phế khí hỗ trợ. Phế chủ khí tư hô hấp; Thanh khí được phế hít vô kết hợp với thủy cốc tinh khí (do tỳ vị vận hóa mà có) thành tông khí mà tông khí lại có tác dụng “Quán tâm mạch”(quản lý, quán xuyến) để thúc đẩy huyết dịch vận hành. Đồng thời sự vận động của huyết dịch lại theo khí thăng giáng xuất nhập mà tuần hoàn (đi tới) toàn thân. Phế chủ khí, tư hô hấp, điều tiết khí cơ toàn thân cũng lại phải dựa phế khí điều tiết. Trong bệnh lý, khi phế khí úng tắc có thể dẫn đến vận hành huyết mạch của tâm không thông, thậm chí gây huyết mạch ứ trệ và xuất hiện tâm quí tức ngực, môi lưỡi xanh tím…Do đó phế triều bách mạch là chức năng trợ tâm hành huyết, trong điều trị chứng huyết hành không thông ngoài hoạt huyết hành huyết ra thường kết hợp hành khí ích khí.
Trị tiết: Là trị lý, quản lý, điều tiết, phế chủ trị tiết xuất phát từ Tố vấn – Linh lan bí điển “Tâm giả quân chủ chi quan, thần minh xuất yên; phế giả tướng bác chi quan, trị tiết xuất yên” (tâm là tạng chủ quản, phế là tạng hỗ trợ). Hai tạng này phối hợp nhau cùng thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều tiết. Tại sao phế lại có tác dụng này? Là vì khí huyết tân dịch là chất cấu thành cơ thể và cũng là chất chủ yếu cần trong các hoạt động sinh lý tạng phủ kinh lạc và các cơ quan, bất kỳ một chỗ nào trong cơ thể cũng cần chúng. Phế thông qua trị lý điều tiết khí huyết tân dịch để có tác dụng trị lý, điều tiết toàn thân. Trong đó quan trọng nhất là việc điều tiết, trị lý khí cơ.
Bởi vì phế chủ khí, tư hô hấp không chỉ liên quan tới sự sinh thành của khí mà còn theo sự tuyên giáng và hô hấp của phế khí để quản lý và điều tiết khí cơ toàn thân, tức là điều tiết vận động thăng giáng xuất nhập của khí. Do khí là động lực phát động huyết và tân dịch vận hành cho nên điều tiết khí cơ cũng là điều tiết vận động huyết và 79 tân dịch. Phế triều bách mạch, huyết dịch toàn thân không ngừng tập trung về phế sau đó lại tái phân bố các nơi, từ đó bổ trợ tâm điều tiết huyết dịch vận động. Phế chủ thông điều thủy đạo tức cũng là trị lý, điều tiết tân dịch phân bố vận hành và bài tiết. Những sự điều tiết này kỳ thực đều thông qua sự điều tiết khí cơ để thực hiện. Bởi vậy có thế nói phế chủ trị tiết là kết quả của phế chủ khí. Và qua đó có thể thấy tâm tàng thần là quân chủ, phế trợ tâm trị lý, điều tiết toàn thân nên phế là cơ quan tương tác (giúp đỡ) là vậy.
Phế khí, phế huyết là vật chất cơ bản và nguồn gốc để phế phát huy hoạt động chức năng sinh lý. Khi phế khí và phế huyết sung mãn thì các hoạt động chức năng bình thường và hữu lực, hô hấp điều hòa, vệ khí sung túc, thủy đạo thông điều, huyết hành lưu thông và việc trị tiết toàn thân sẽ điều hòa. Nếu phế khí và phế huyết bất túc sẽ xuất hiện hô hấp vô lực, khí đoản, tiếng nói nhỏ; nếu vệ khí bất túc sẽ tự hạn, dễ cảm; thông điều thủy đạo vô lực thì tân dịch đình tụ dễ phát sinh đàm ẩm hoặc phù thũng, chức năng trợ tâm hành huyết vô lực đồng thời với khí đoản sẽ có thêm triệu chứng ứ huyết da xanh tím tái… Tóm lại, khí huyết bất túc thì các chức năng của phế sẽ suy giảm. Do các chức năng của phế như tư hô hấp, phân bố vệ khí, thông điều thủy đạo và trợ tâm hành huyết đều phải nhờ vào tác dụng của khí, do vậy y gia các đời luận về phế khí rất nhiều mà luận về phế huyết rất ít.
Kỳ thực khí và huyết tuy tên khác nhưng cũng cùng nguồn gốc vì không có chuyện huyết hư mà khí thịnh hoặc khí hư huyết thịnh, bởi vậy cũng không cần phải luận một cách tỉ mỉ. Nhưng phế âm và phế dương thì nhất thiết phải phân rõ ràng vì hai tác dụng của chúng tương phản, thủy hỏa khác nhau. Phế dương thúc đẩy sự ôn húc (làm ấm), vận động, thăng tán, phế âm lại ức chế dương nhiệt đồng thời thúc giục chức năng tư nhuận, ninh tịnh và “Nội thủ” (thủ chắc bên trong). Chính vì phế âm và phế dương có tác dụng tương phản, hỗ tương chế ước, duy trì âm dương (phế) thăng bằng (hàn & lương, động & tịnh, tán & thu và nhuận & táo phù hợp). Nếu phế âm bất túc (suy) thì âm không chế dương, dương sẽ thiên kháng (tương đối) mà gây nhiệt gọi là phế âm hư nội nhiệt với biểu hiện thường là đỏ hai lưỡng quyền, ngũ tâm phiền nhiệt. Âm hư tức tân thiểu (tân dịch ít) không đủ sức tư nhuận nên mũi khô, hầu họng táo, ho khan ít đàm cộng vào đó nội nhiệt sẽ chước thương lạc mạch nên ho khan kèm ít máu. Phế âm bất túc thì vấn đề nội thủ vô lực dễ xuất hiện đạo hạn; mất đi chức năng ninh tịnh thì biểu hiện phiền bực mà khí thúc (thở gấp) ho suyễn.
Tóm lại, âm bất túc tắc dương nhiệt thiên kháng thường gặp các bệnh chứng gồm các triệu chứng như nhiệt, táo, tán, động thái quá. Ngược lại những điều trên nếu phế dương bất túc thì mất khả năng ôn húc nên tay chân lạnh, ố hàn, tân dịch không thể thăng tán và hạ vận bình thường mà lưu lại trong phế thành đàm ẩm; chức năng trợ tâm hành huyết vô lực thì huyết ứ; thăng tán vô lực thì vệ khí không được phân bố đều, biểu vệ bất cố, tự hạn dễ cảm. Phế dương bất túc thường thấy các bệnh chứng đàm ẩm, ứ huyết, lạnh (hàn) trong phế và vệ dương bất túc.
Tóm lại, như trên đã nói phế âm và phế dương điều tiết chức năng và chuyển hóa của phế, phế âm và dương đều có nguồn gốc tại thận. Phế âm hoặc dương hư suy lâu ngày sẽ tổn thương thận. Do trong ngũ hành phế thuộc hành kim, kim sợ hỏa, hỏa là dấu hiệu của dương do đó người xưa khi luận về phế đa số không đề cập phế dương cho dù gặp trường hợp phế dương hư rõ ràng cũng dùng chữ “hư hàn” để chỉ về nó.
4.7 Phế chủ sự bi thương
Nói về phế chi chí (thuộc), Nội kinh có hai cách lý giải. Thứ nhất phế chi chí vi bi, thứ hai phế chi chí vi ưu. Bi và ưu tuy khác nhau nhưng ảnh hưởng đến cơ thể giống nhau, do đó bi và ưu đều thuộc phế chí. Cả hai chủ yếu tổn thương tinh khí của phế và làm cho vận động tuyên giáng thất điều, khí hành không thông thì phế khí sẽ tổn thương. Nếu bi thương quá độ có thể xuất hiện khí đoản (hiện tượng phế khí bất túc). Ngược lại, phế khí suy hoặc tuyên giáng thất điều thì sức chịu đựng những kích thích tình chí bên ngoài giảm, sẽ sản sinh những biến đổi tình chí ưu bi…
4.8 Phế chủ nước mũi
Mũi là khiếu của phế nên dịch tiết cũng thuộc phế, bình thường nước mũi có tác dụng nhuận trạch mũi, khi phế hàn sẽ chảy nước mũi trong, phế nhiệt nước mũi vàng đặc, phế táo thì mũi khô.
4.9 Một số bệnh tạng Phế
a) Phế khí hư: do ho lâu ngày làm tổn thương phế khí, do tỳ khí hư không vận hoá được thuỷ cốc làm phế khí hư. Ngoài ra thận khí hư ảnh hưởng đến phế khí.
– Lâm sàng: ho không có sức, thở ngắn ngại nói, tiếng nói nhỏ, người mệt vô lực, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhạt mạch hư nhược
– Pháp điều trị: bổ phế khí
b) Phế âm hư: do mắc bệnh lâu ngày làm tổn thương phế âm. Có hai mức độ là phế âm hư và âm hư hoả vượng.
– Lâm sàng: ho ngày càng nặng, không có đờm, hoặc đờm ít mà dính, họng khô ngứa, người gầy, chất lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế vô lực. Nếu âm hư hoả vượng kèm thêm chứng ho ra máu, miệng khô khát, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.
– Pháp điều trị: tư âm dưỡng phế.
v.v…