3. Tạng Tỳ
Vị trí ở trung tiêu hoành cách. Cuốn “Y quán – Hình cảnh đồ” có nói: “Cách mô chi hạ hữu vị, thịnh thụ ẩm thực nhi hủ thục. Kỳ tả hữu tỳ, dữ vị đồng mạc nhi phụ kỳ thuợng” (dưới cơ hoành là vị, chức năng thu nhận đồ ăn và tiêu hóa, bên trái nó là tỳ). Tỳ và vị đều nằm ở ổ bụng, tỳ nằm phía bên trái của vị. Chức năng sinh lý chủ yếu của tỳ là: Chủ vận hóa, thăng thanh và thống nhiếp huyết dịch.
Túc thái âm tỳ kinh và túc dương minh vị kinh có lạc mạch tương hỗ thuộc tỳ và vị, tỳ vị là tương quan biểu lý, tỳ và vị là cơ quan chủ yếu tiêu hóa, hấp thu và phân bố chất bổ (tinh vi) của đồ ăn. Con người sau khi được sinh ra thì các hoạt động sống tiếp theo và sự sinh hóa khí huyết tân dịch đều phải dựa vào chức năng vận hóa thủy cốc tinh vi của tỳ vị. Do đó có thể nói tỳ vị là nguồn (nguyên liệu) cho sự sinh ra khí, huyết, là hậu thiên chi bản, tỳ tại thể hợp với nhục chủ tứ chi; khai khiếu tại khẩu; kỳ hóa tại môi; tại dịch vi diên; tại trí vi tư; tại ngũ hành thuộc thổ; tại âm dương thì thuộc âm trung chi âm.
3.1 Tỳ chủ vận hóa thủy cốc: đồ ăn và nước uống
Vận tức là chuyển vận, hóa tức là tiêu hóa hấp thu. Tỳ chủ vận hóa là chỉ tỳ có chức năng sinh lý biến đồ ăn (thủy cốc) thành tinh vi và đem chúng phân bố toàn thân. Chức năng này bao gồm hai mặt vận hóa thủy cốc và vận hóa thủy dịch.
Vận hóa thủy cốc
Nghĩa là như trên đã nói tiêu hóa hấp thu và phân bố thủy cốc tinh vi, quá trình này chia làm ba giai đoạn.
– Giúp vị trường phân giải thức ăn thành chất dinh dưỡng và cặn bã. Quá trình này gọi là tiêu hóa. Khi thức ăn vào vị thì thức ăn được tiêu hóa ở vị và tiểu trường. Vị thì “Hủ thục” làm mềm chín, tiểu trường thì “Hóa vật” mà phân giải đồ ăn thành thủy cốc tinh vi và cặn bã nhưng quá trình này nhất thiết phải nhờ vào sự giúp đỡ của tỳ khí mới có thể tiêu hóa triệt để.
– Giúp vị trường hấp thu thủy cốc tinh vi. Thức ăn qua tiêu hóa biến thành tinh vi phải được vị trường hấp thu sau đó mới có thể tán bố toàn thân. Quá trình hấp thu này cũng phải dựa tỳ khí giúp trợ mới hoàn thành.
– Phân bố thủy cốc tinh vi đến toàn thân. Dưới tác dụng của tỳ thủy cốc tinh vi đã được hấp thu sẽ được phân bố toàn thân qua hai con đường.
Thứ nhất thông qua tác dụng “Tán khí” của tỳ mang thủy cốc tinh vi lên phế qua tác dụng tuyên phát của phế mà tán bố ra bên ngoài, tác dụng túc giáng của phế chuyển xuống dưới phân bố khắp nơi.
Thứ hai tự thân tác dụng của tỳ khí sẽ phân bố toàn thân.
Chính vì tỳ tạng có tác dụng tiêu hóa, hấp thu, hóa sinh đồ ăn và vận chuyển thủy cốc tinh vi, mà thủy cốc tinh vi lại là nguồn nguyên liệu chủ yếu để sau khi sinh ra con người có thể duy trì hoạt động sống và cũng là chất chủ yếu sinh ra khí huyết. Do đó có thể nói tỳ là hậu thiên chi bản, nguồn hóa sinh của khí huyết, nếu chức năng này của tỳ (vận hóa thủy cốc) bình thường thì mới cung cấp đủ nguyên liệu hóa sinh ra tinh khí huyết tân dịch và tạng phủ kinh lạc, tứ chi bách cốt, cân nhục bì mao, mới được nuôi dưỡng một cách tốt nhất. Nếu chức năng này giảm suy thì sẽ xuất hiện bụng trướng, tiêu chảy hoặc tiêu phân sống, ăn uống không ngon, mệt mỏi gầy yếu…
Vận hóa thủy dịch
Tỳ chủ vận hóa thủy dịch là chỉ tỳ có chức năng hấp thu, phân bố thủy dịch và phòng ngừa thủy dịch đình trệ trong cơ thể. Do đó tỳ vận hóa thủy dịch thì cũng có thể vận hóa thủy thấp. Cơ thể nhiếp nạp thủy dịch tất phải kinh qua hấp thu chuyển vận của tỳ để phân bố toàn thân, phát huy tác dụng tư dưỡng nhu nhuận. Đồng thời tỳ sẽ đưa những thủy dịch dư thừa mà các cơ quan đã qua sử dụng kịp thời lên phế và xuống thận, nhờ phế thận khí hóa chúng biến thành mồ hôi và nước tiểu tống ra ngoài.
Tỳ chủ vận hóa thủy dịch trên thực tế là chỉ: tỳ có tác dụng thúc đẩy và điều tiết quá trình chuyển hóa thủy dịch. Do vậy tỳ chủ vận hóa thủy dịch mà mạnh khỏe thì toàn thân các cơ quan đều nhận được sự tư dưỡng đầy đủ của thủy dịch lại vừa đề phòng sự ngưng trệ thủy dịch trong cơ thể, tránh tình trạng thấp, đàm, ẩm… những sản phẩm bệnh lý hoặc thủy thũng phát sinh. “Tố vấn – Chí chân yêu đại luận” nói: “Chư thấp thũng mãn, giới thuộc vu tỳ”, tỳ hư sinh thấp, tỳ vi sinh đàm chi nguyên (nguồn gốc sinh ra đàm) và tỳ hư thủy thũng …
Tỳ vận hóa thủy cốc và vận hóa thủy dịch, hai mặt này ảnh hưởng tương hỗ nhau. Khi một loại chức năng thất điều sẽ ảnh hưởng tới mặt kia. Do đó trên bệnh lý thì chúng thường cùng xuất hiện.
3.2 Tỳ chủ thăng
Thăng tức là thượng thăng (đi lên). Đặc điểm vận động của tỳ khí là dĩ thăng vi chủ (thăng là chính). Thanh là chỉ về thủy cốc tinh vi được đưa lên trên. Tỳ chủ thăng thanh là tỳ khí đi lên đồng thời mang thủy cốc tinh vi đến tâm phế, đến mắt, thông qua tác dụng của tâm phế mà hóa sinh khí huyết để dinh dưỡng toàn thân. “Tỳ nghi thăng tắc kiện” (tỳ chỉ mạnh khi chức năng thăng thanh tốt. “Lâm chứng chỉ nam y án”) khi tỳ thăng thanh thì thủy cốc tinh vi mới được hấp thu và phân bố bình thường, nguyên liệu làm ra khí huyết mới dồi dào, hoạt động sống mới sung mãn. Nếu tỳ không thăng thanh thì không thể vận hóa thủy cốc, nguyên liệu sản xuất khí huyết giảm mà xuất hiện mệt mỏi uể oải, hoa mắt chóng mặt, bụng trướng, tiêu chảy…
Bởi vậy Lý Đông Hằng nhà Kim trong Tỳ vị luận, có nói: “Thượng khí bất túc, não vi chi bất mãn, nhĩ vi chi khổ minh, đầu vi chi khổ khuynh, mục vi chi huyền… giới do tỳ vị tiên hư, khí bất thượng hành sở trí dã” nói lên tỳ khí bất thăng thanh dẫn đến thượng khí bất túc, đầu mắt không được sung dưỡng mà gây nên bệnh chứng (ù tai, hoa mắt, chóng mặt) mà “Tố vấn – Âm dương ứng tương đại luận” lại nói: “Thanh khí mà không thượng thăng được sẽ nằm ở dưới mà gây ra chứng tiêu phân sống”. Ngoài ra giữa sự thăng giáng điều tiết thăng bằng giữa các tạng phủ cũng là nguyên nhân bảo đảm sự xác định vị trí hằng định của các tạng phủ. Sự thăng giáng tỳ vị là mấu chốt của sự vận động khí trong cơ thể, tỳ chủ thăng là có tác dụng quan trọng trong việc cố định vị trí các nội tạng. Nếu tỳ khí không thăng được, trung khí hạ hãm (hay gọi là tỳ khí hạ hãm) sẽ xuất hiện tiêu chảy mãn, thoát giang (sa trực tràng), hoặc sa nội tạng. Lâm sàng thường dùng phương pháp bổ tỳ khí thăng thanh dương để điều trị.
3.2 Thống huyết
Thống là thống nhiếp, khống chế. Tỳ thống huyết là chỉ về tỳ thống nhiếp huyết dịch chảy trong mạch không cho tràn ra ngoài mạch. Tác dụng thống huyết của tỳ là thông qua tác dụng khí nhiếp huyết. Tỳ có khả năng thống nhiếp huyết dịch là vì tỳ là nguồn gốc sinh ra khí huyết. Tỳ khí kiện vận thì nguồn sinh ra khí huyết đầy đủ, thì chức năng cố nhiếp huyết dịch của khí được phát huy tốt nhất, huyết sẽ không tràn ra ngoài mạch mà gây ra xuất huyết, ngược lại khi tỳ thất kiện vận thì thủy cốc tinh vi không được hấp thu tốt dẫn đến khí huyết sinh ra cũng không đủ và chức năng cố nhiếp của khí giảm gây bệnh. Nhưng cũng do tỳ chủ cơ nhục, tỳ khí chủ thăng nên thói quen thường lấy hiện tượng xuất huyết dưới da (do khí hư không thể thống huyết) hoặc tiêu ra máu, tiểu máu, băng lậu gọi là tỳ bất thống huyết.
Khí huyết của tỳ là vật chất cơ bản để tỳ tiến hành các hoạt động sinh lý của nó. Khí huyết này có nguồn gốc từ tinh vi của thuỷ cốc(chất bổ từ đồ ăn).Khí huyết tỳ vượng thịnh thì sự vận hoá, thăng thanh, thống huyết đều mạnh, hữu lực, sức sống sẽ tràn trề. Nếu khí huyết tỳ bất túc thì tất cả các chức năng của tỳ đều giảm, yếu, vận hoá vô lực và xuất hiện ăn ít, không thèm ăn, tiêu chảy. Thăng thanh vô lực thì thượng khí bất túc, hoa mắt chóng mặt, ù tai, hoặc trung khí hạ hãm với sa nội tạng. Thống huyết vô lực thì dễ xuất huyết. Giữa tỳ khí và tỳ huyết có sự tư (trợ) sinh lẫn nhau, khó phân khai, không có chuyện huyết hư mà khí lại vượng, cũng chưa hề thấy khí hư mà huyết lại xung doanh. Nhưng do chức năng chủ yếu của tỳ là vận hóa, thăng thanh, thống huyết, với tác dụng chủ yếu là thúc đẩy thủy cốc tinh vi bố tán khắp cơ thể và thượng thăng, hoặc cố nhiếp huyết dịch chảy trong lòng mạch…những tác dụng này đều nhờ vào khí.
Do vậy các y gia thường cường điệu, nhấn mạnh về công năng của khí, mà rất ít đề cập tới tỳ huyết. Tỳ âm tỳ dương đều lấy thận âm thận dương làm căn bản, nó (thận) có tác dụng điều tiết các hoạt động sinh lý chức năng và chuyển hoá. Trong đó tỳ dương có tác dụng xúc tiến tỳ khí thượng thăng, phân tán mọi nơi, ôn húc. Tỳ âm thì lại có tác dụng thúc đẩy sự ninh tịnh, nhu dưỡng, thu nhiếp, chế ước dương nhiệt. Tỳ âm và tỳ dương cùng chế ước lẫn nhau, để duy trì âm dương bình hành một cánh tương đối thì sự vận hóa, thăng thanh, thống huyết mới được tiến hành một cánh thuận lợi. Nếu tỳ dương suy vận hóa vô lực thì biểu hiện tiêu chảy, chán ăn, tiêu phân sống hoặc phù, tứ chi không ấm. Tỳ âm hư xuất hiện miệng môi khô, hình thể gầy ốm hoặc thủ túc tâm nhiệt (lòng bàn tay chân nóng ấm).
Do chức năng chủ yếu của tỳ là tiêu hóa, hấp thu đồng thời đem thủy cốc tinh vi lên trên đến tâm, phế, đầu mắt, toàn thân nên có thể thấy chức năng chủ yếu của tỳ thể hiện qua ba chữ thăng, động, tán, những chữ đó là biểu hiện tác dụng của dương. Bởi vậy các y gia ngày xưa luận tỳ dương là chủ yếu (10 người có tới 8, 9 người luận tỳ dương), luận tỳ âm chỉ có 1 – 2. Tỳ âm tỳ dương lại tương phản, lại tương thành, lại hợp tác tương hỗ. Dương (tỳ) thúc đẩy tỳ khí mang thủy cốc tinh vi thăng tán khắp cơ thể, tỳ âm lại có tác dụng làm cho thuỷ cốc tinh vi đó phát huy tối đa sự nhu dưỡng, tư nhuận. Vả lại âm chủ thành hình, chủ sự sinh sản tân dịch và huyết đều được tiến hành dưới sự thúc tiến của tỳ âm, tỳ khí. Nhưng nếu không có tỳ dương giúp cho sự tiêu hoá và hấp thu thì thuỷ cốc tinh vi không thể nhập vô cơ thể và sự hình thành tân dịch và huyết cũng khó thành công. Đây là sự hợp tác tương thành của tỳ âm và tỳ dương. Do đó trên lâm sàng rất ít gặp tỳ âm hoặc tỳ dương thiên kháng dẫn đến làm cho đối phương thiên suy.
3.3 Tỳ chủ cơ nhục, tứ chi
Thông qua tỳ khí thăng thanh và tán tinh đem thủy cốc tinh vi đưa đến toàn thân và tứ chi để duy trì hoạt động bình thường của tứ chi. Tỳ khí vận hóa và thăng thanh có tốt hoặc không sẽ quyết định hoạt động tốt hoặc yếu của tứ chi.
– Mang chất dinh dưỡng của đồ ăn nuôi dưỡng cơ nhục
– Tỳ mạnh cơ nhục khỏe, tỳ yếu cơ nhục mềm nhẽo, mệt mỏi, gây ra giáng.
Xem chi tiết tại hình thể quan khiếu
3.4 Tỳ chủ ưu tư
Tư là suy nghĩ là tư lự, là một trong ngũ chí (trạng thái hoạt động tư duy). Tư tuy là thuộc tỳ nhưng có quan hệ với tâm chủ thần minh. Do đó có câu: “Tư phát vu tỳ nhi thành vu tâm” (Giáp ất kinh). Vấn đề suy nghĩ (tư khảo) bình thường không ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý cơ thể. Nhưng nếu suy nghĩ quá độ sẽ ảnh hưởng đến sự vận động bình thường của khí mà hình thành khí kết. Bởi vậy “Tố vấn – Cử thống luận” nói: “Tư tắc tâm hữu sở tồn, thần hữu sở qui, chính khí lưu nhi bất hành, cố khí kết hề”. Do tỳ vị là trung tâm thăng giáng khí cơ của cơ thể nên khí kết ở đó sẽ làm tỳ khí bất hành dẫn đến chức năng vận hóa thăng giáng bị ảnh hưởng và xuất hiện không muốn ăn, đầy tức bụng, hoa mắt, hay quên…
3.5 Tỳ chủ nước dãi
Là loại nước miếng đặc không bọt trong miệng tác dụng của nó làm thấp nhuận miệng, bảo vệ niêm mạc miệng. Khi ăn nó sẽ tiết nhiều giúp quá trình tiêu hóa và dễ nuốt. Chức năng vận hóa bình thường thì tân dịch đi lên trên biến thành diên để hỗ trợ tiêu hóa nhưng lại không nhễu nhão ra ngoài. Nếu tỳ vị bất hóa thường dẫn đến nước dãi bài tiết quá nhanh, nhiều mà tràn ra ngoài nhễu nhão.
3.6 Tỳ khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi
– Tỳ đưa chất dưỡng đến nuôI dưỡng môi.
– Tỳ khỏe môi tươi nhuận, ăn uống ngon và ngược lại môi thâm xám, nhạt màu.
– Tỳ thổ sinh phế kim, khắc thận thủy, biểu lý vị.
Xem chi tiết tại hình thể quan khiếu
3.7 Một số bệnh lý tạng Tỳ
a) Tỳ khí hư: do tạng người yếu, làm việc quá sức, ăn uống kém
– Lâm sàng: ăn uống kém, người mệt mỏi vô lực, hơi thở ngắn, ngại nói, sắc mặt vàng. Nếu tỳ mất kiện vận thấy bụng đầy, đại tiện lỏng, chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng, mạch hư. Nếu tỳ hư hạ hãm thấy ỉa chảy, sa trực tràng, sa dạ con, sa dạ dầy, trĩ, chất lưỡi nhợt, mạch hư nhược. Nếu tỳ không thống huyết thấy đại tiện ra máu, kinh nguyệt quá nhiều, rong kinh, chất lưỡi nhạt, mạch hư nhược.
– Pháp điều trị: kiện tỳ ích khí, ích khí thăng đề, kiện tỳ nhiếp huyết.
b) Tỳ dương hư
– Lâm sàng: bụng lạnh đau, chườm nóng đỡ đau, đại tiện lỏng, người lạnh, chân tay lạnh, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch trầm trì.
– Pháp điều trị: ôn trung kiện tỳ.
v.v….