#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Học thuyết tạng phủ (Phần 1 ngũ tạng 1.2 Can)

2.Tạng Can

Vị trí trong khoang bụng dưới cơ hoành nằm phía bên phải. Hình thái của can trong “Nạn kinh – Tứ thập nhị nan” có nói: “Can… tả tam diệp, hữu tứ diệp, phàm thất diệp. Đởm tại can chi đoản diệp gian”. Các y gia sau này căn cứ đó mà miêu tả, so với hiện nay thì cơ bản giống nhau.

Chức năng chủ yếu của can là: Chủ tàng huyết và chủ sơ tiết. Can tại thể hợp cân, kỳ hóa tại trảo (móng), khai khiếu tại mục (mắt), tại chí vi nộ, tại dịch vi lệ, can và đởm quan hệ không chỉ là túc quyết âm can kinh và túc thiếu dương đởm kinh cùng tương hỗ lạc thuộc nhau và quan hệ biểu lý mà can đởm bản thân rất gần nhau trực tiếp kết nối (tương liên). Can tại ngũ hành thuộc mộc, tại âm dương là âm trung chi dương.

 

2.1 Can tàng huyết

Can tàng huyết là gì? Là chỉ về can có chức năng trữ tàng huyết dịch, điều tiết lưu lượng huyết và đề phòng xuất huyết. Trữ tàng là can có khả năng tàng trữ một lượng huyết nhất định tại can để kịp thời cung ứng yêu cầu hoạt động các cơ quan. Do đó có câu can là “Huyết chi phủ khố” (cái kho). Điều tiết lưu lượng huyết là chỉ tác dụng trọng yếu của can đối với sự điều tiết phân phối lượng huyết các bộ phận trong cơ thể đặc biệt đối với sự điều tiết huyết ngoại vi. Trong điều kiện sinh lý bình thường lưu lượng huyết tại các cơ quan tương đối hằng định. Nhưng khi hoạt động thể lực tăng hoặc khi tình chí bị kích thích thì can xuất lượng huyết dịch tàng trữ phân bố ra bên ngoài (ngoại vi) để cấp cho những nhu cầu của cơ quan. Khi cơ thể ở trong trạng thái yên tĩnh nghỉ ngơi, tình chí ổn định thì lượng huyết cần thiết ở ngoại vi sẽ giảm thiểu, lúc này lượng huyết dư thừa (tương đối) sẽ qui tàng tại can. Bởi vậy “Tố vấn – Ngũ tạng sinh thành” có nói: “Cố nhân ngọa huyết qui vu can”. 

Vương Băng (nhà Minh) giải thích “Can tàng huyết, tâm hành chi (huyết), nhân động tắc huyết vận vu chư kinh, nhân tịnh tắc huyết qui vu can, hà giả? Can chủ huyết hải cố dã” (Can tàng huyết, tâm hành huyết, khi vận động huyết phân bố ở các kinh mạch cơ quan, khi yên tĩnh huyết sẽ qui tàng tại can. Tại sao vậy? Vì can chủ huyết nên như vậy). Ở đây cũng cần chỉ rõ chức năng điều tiết lượng huyết của can là lấy trữ tàng huyết dịch làm tiền đề, chỉ khi lượng huyết trù bị sung túc thì mới có thể điều tiết một cách hiệu quả. Tâm chủ huyết mạch, tâm khí là động lực chủ yếu để huyết dịch vận hành trong mạch nên Vương Băng mới nói can tàng huyết, tâm hành chi là vậy. 

Một ý nghĩa khác của can tàng huyết là thu nhiếp huyết dịch, nghĩa là can có tác dụng làm huyết dịch thu nhiếp trong mạch không tràn ra ngoài, cũng có nghĩa là phòng ngừa xuất huyết. Chức năng can tàng huyết giảm dễ xuất hiện các loại xuất huyết. Nguyên nhân đại để gồm hai thứ là: Can khí suy nhược, thu nhiếp vô lực như “Đan khê tâm pháp – Đầu huyền” nói: Thổ huyết, máu cam, băng huyết là do can không thu nhiếp dinh (vinh) khí làm cho huyết vọng hành mà gây ra. Thứ hai là do can hỏa vượng thịnh, chước thương mạch lạc bức huyết vong hành gây ra. Trên lâm sàng cần căn cứ vào lượng xuất huyết nhiều hay ít và xu thế (rỉ rả hoặc ồ ạt) và những triệu chứng kèm theo có thể phân biệt được nguyên nhân xuất huyết. Do khí suy thì bổ can khí, hỏa vượng thì tả can hỏa. Ngoài ra cũng cần kết hợp thuốc cầm máu vì đa số chúng đều qui kinh can.

 

2.2 Can chủ sơ tiết

Sơ là sơ thông, khai thông, tiết là phát tán. Can chủ sơ tiết là chỉ về tác dụng duy trì sự khai thông trôi chảy khí cơ toàn thân (sơ thông sướng đạt), thông mà không trệ, tán mà không uất. chức năng này phản ảnh đặc điểm sinh lý của tạng can chủ thăng, chủ động, chủ tán là một khâu quan trọng trong quá trình điều chỉnh khí cơ toàn thân và thúc đẩy huyết dịch và tân dịch vận hành. Ảnh hưởng của chức năng này đối với cơ thể như sau:

Ảnh hưởng đối với khí cơ

Can chủ sơ tiết, đặc tính sinh lý của can là thăng, động, tán. Can chủ sơ sẽ làm cho khí vận hành thông mà không trệ. Chủ tiết là làm cho khí tán mà không uất, đây là nhân tố chủ yếu (quan trọng) đối với sự sơ thông, sướng đạt, thăng phát của khí cơ và cũng là tác dụng chủ sơ tiết, khí cơ thông suốt của can. Sơ tiết bình thường thì khí thông tán và huyết & tân dịch cũng theo đó phân bố thông suốt không trở ngại, kinh lạc thông lợi và các hoạt động tạng phủ cũng điều hòa. Nếu thất sơ tiết thì khí thăng phát bất túc, sự sơ thông và phát tán của khí cơ không đủ lực, do đó mà khí hành uất trệ xuất hiện ngực sườn, bụng dưới, trường (ruột) đau khó chịu, thường được gọi là “Can khí uất kết”. Khí cơ uất trệ thì huyết dịch vận hành gặp trở ngại sẽ hình thành ứ huyết và xuất hiện đau ngực sườn (đau thắt như đau đâm chọc) hoặc chứng tích (có u cục) trong bụng. Khí hành uất trệ có thể dẫn đến tân dịch phân bố và chuyển hóa gặp trở ngại hoặc tích tụ thành đàm, đàm và khí giao kết tắc trở hầu họng mà hình thành “Mai hạch khí” hoặc tân dịch đình trệ gây cổ trướng. Trong điều trị nên dùng phương pháp sơ can lý khí.

Ảnh hưởng chức năng vận hóa tỳ vị

Tỳ vị tiêu hóa đồ ăn, hấp thu và phân bố thủy cốc tinh vi, đồng thời bài tiết cặn bã ra ngoài, đó thực chất là chức năng tỳ thăng thanh vị giáng trọc. Khí cơ tỳ vị thông đạt, tỳ thăng vị giáng hợp đồng hài hòa mới có thể tiêu hóa đồ ăn bình thường. Mà sự thăng giáng của tỳ vị là một bộ phận của khí cơ toàn thân. Chức năng sơ tiết của can bình thường thì khí cơ toàn thân thông đạt, có tác dụng trợ giúp sự hoạt động thăng giáng của tỳ vị. Ta có thể thấy chức năng sơ tiết của can là một điều kiện quan trọng để tỳ thăng vị giáng, khí cơ tỳ vị thông suốt. Bởi vậy “Tố vấn – Bảo mệnh toàn hình luận” có nói: “Thổ đắc mộc nhi đạt”. Nếu chức năng sơ tiết của can không bình thường ảnh hưởng tỳ khí bất thăng sẽ khó tiêu hoặc tiêu phân sống, tỳ khí bất thông sẽ đau bụng… biểu hiện chứng đau bụng tiêu chảy trong trường hợp này gọi là can tỳ bất hòa. Ảnh hưởng đến vị khí bất giáng (không đi xuống) mà ngược lại đi lên trên (thượng nghịch) xuất hiện ợ hơi, ợ chua, ói mửa. Vị khí bất thông sẽ tức trướng đau bụng, trường hợp này là can vị bất hòa, trên lâm sàng gọi chung là “Mộc bất sơ thổ”.

Ảnh hưởng đối với tình chí 

Hoạt động tình chí chủ yếu là chức năng sinh lý của tâm thần nhưng lại cũng có quan hệ mật thiết với chức năng sơ tiết của can bởi vì sự hoạt động tinh thần bình thường chủ yếu dựa vào vận hành bình thường của khí huyết. Tình chí không bình thường chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sinh lý của cơ thể cũng là do nó quấy nhiễu sự vận hành bình thường của khí huyết. Do đó can chủ sơ tiết ảnh hưởng đến hoạt động tinh thần thực tế là do can chủ sơ tiết, điều thông khí cơ, thúc đẩy huyết dịch vận hành sản sinh mà có. Chức năng chủ sơ tiết bình thường thì khí cơ thông thoáng, khí huyết điều hòa, tâm tình cũng vui vẻ. Can thất sơ tiết thì khí cơ không thông, tình chí cũng biểu hiện u uất không vui, tình chí bị đè nén, ngược lại hoạt động tinh thần không bình thường dẫn đến khí cơ thất điều và thường ảnh hưởng đến chức năng sơ tiết. 

Ảnh hưởng đến chức năng này nhiều nhất là tình trạng tức giận (nộ) do đó có câu “Nộ thương can”. Nộ cũng chia thành hai loại: bạo nộ và uất nộ. Bạo nộ có thể làm can khí thượng nghịch, thậm chí gây ra can phong nội động với một loạt các triệu chứng. “Nộ tắc khí thương” (Tố vấn). Uất nộ là tình chí không phát tiết được, giận mà không nói được dẫn đến khí uất, khí trệ làm can thất sơ tiết, ngoài biểu hiện can khí uất kết ra còn có thể gây ra can khí phạm vị.

Ảnh hưởng tới đởm

Đởm liên hệ với can, vị trí tại can, đởm nang (túi mật) có chứa đởm trấp (dịch mật) tiết trực tiếp vào ruột có tác dụng trợ tiêu hóa. Nguồn gốc dịch mật tại can là khí dư thừa của can làm ra và nhờ tác dụng điều sướng (điều đạt thông) của can khí mà tiết vào tiểu trường. Do vậy hoạt động bài tiết và tiết dịch của đởm thực tế quyết định bởi chức năng can chủ sơ tiết. Chức năng này bình thường thì dịch mật được bài tiết một cách dễ dàng thông suốt giúp tiêu hóa hấp thu. Nếu chức năng này suy giảm ảnh hưởng chất lượng bài tiết mật và xuất hiện đau tức hạ sườn, miệng đắng, ăn không tiêu thậm chí hoàng đản. Do đó trên lâm sàng bệnh thuộc đởm như sỏi mật… nhất thiết phải bảo đảm tinh thần thư giãn vui vẻ, nếu không sẽ gây ra can thất sơ tiết và bệnh càng nặng thêm.

Ảnh hưởng tới việc xuất tinh ở nam giới và kinh nguyệt ở nữ giới

Hai việc đó có quan hệ mật thiết với chức năng chủ sơ tiết của can. Sự xuất tinh ở nam giới như Chu Đan Khê trong “Cách trí dư luận” nói: “Chủ bế tàng giả thận dã, tư sơ tiết giả can dã” nói lên xuất tinh bình thường ở nam giới là kết quả của sự hợp tác giữa can và thận, khi chức năng sơ tiết bình thường thì tinh dịch bài tiết thông, có hạn độ. Khi thất sơ tiết thì sự xuất tinh sẽ không thông, mà khí cơ điều thoáng (thông) là một trong những điều kiện để nữ hành kinh thông và có hạn độ. Do đó nó cũng bị ảnh hưởng bởi chức năng chủ sơ tiết của can, khi chức năng đó bình thường thì kinh nguyệt đúng kỳ, thông. Nếu chức năng đó bất cập thì kinh kỳ hỗn loạn, hành kinh không thông thậm chí thống kinh.

Tổng hợp biểu hiện của chức năng chủ sơ tiết nhận thấy ảnh hưởng của nó tới khí cơ toàn thân là căn bản, những tác dụng khác chẳng qua cũng trên cơ sở đó mà sản sinh ra.

Can khí tức là động lực và vật chất cơ bản để can tiến hành các hoạt động sinh lý. Can khí sung mãn thì các chức năng của can được tiến hành bình thường như can có thể trữ tàng huyết dịch, điều tiết huyết lượng một cách bình thường và phòng ngừa xuất huyết. Ngoài ra còn có tác dụng sơ tiết khí cơ toàn thân làm cho nó sơ thông (sướng) đạt, thông mà không trệ, tán mà không uất. Nếu can khí bất túc thì các chức năng can sẽ giảm. 

Ví dụ: chức năng tàng huyết giảm, thu nhiếp vô lực kết quả gây ra các loại xuất huyết, lâm sàng gọi là “Can bất tàng huyết”. Nếu khí suy sơ tiết vô lực sẽ xuất hiện các bệnh chứng can thất sơ tiết với biểu hiện mệt mỏi, uể oải, mạch yếu vô lực… Nếu chỉ đơn giản dùng thuốc sơ can thì kết quả không rõ ràng nhưng nếu dùng thuốc bổ khí gia sơ can thì thường có kết quả như ý. Qua đó có thể thấy rằng khí trệ là do can khí suy, sơ tiết vô lực gây ra. Can huyết là chỉ về huyết tàng trữ trong mắt (mục) cân, móng… Nếu can huyết bất túc ngoài biểu hiện tạng can suy nhược ra còn có hoa mắt, thị lực giảm, gân co rút, tay chân co duỗi khó, móng tay chân mỏng giòn dễ gãy.

Can âm và can dương cũng có nguồn gốc tại thận âm và thận dương, nó (thận) có tác dụng khống chế và điều tiết chuyển hóa và chức năng của can. Do nhiệm vụ thiết yếu của chức năng sinh lý can là điều sướng sơ tiết khí cơ toàn thân nên tác dụng chủ yếu của can âm và can dương cũng là điều tiết khí cơ thăng giáng động tĩnh toàn thân, trong đó can dương thúc đẩy thăng và động, can âm thúc tiến tĩnh và giáng, tác dụng tương phản, chế ước lẫn nhau. Nếu can âm khí bất túc thì can dương thiên kháng, dương kháng thì sự thăng động sẽ quá mức, khí sẽ thượng nghịch, huyết thượng dũng (trào) mà khí hành cũng nhanh hơn nên xuất hiện mặt đỏ, mắt đỏ, căng đầu, đau đầu, tâm phiền dễ nộ, mạch huyền hơi sác, hai chân vô lực… Triệu chứng thượng thịnh hạ hư còn gọi là “Can dương thượng kháng”. Nếu can âm càng suy hơn nữa thì dương khí của can càng kháng thịnh, ngoài khí huyết thượng dũng (tràn) ra thêm vào đó do khí động quá nhanh mà sinh phong với biểu hiện hoa mắt, run tay chân, múa vờn thậm chí hôn bổ đột ngột. “Tố vấn – Chí chân yếu đại luận” có nói: “Chư phong điêu đầu, giai thuộc vu can” (các loại phong gây chóng mặt đều thuộc can). Do loại phong này không phải là phong ngoại lai mà là do can dương quá kháng gây ra (nội phong). Như Diệp Thiên Sĩ, có nói: “Nội phong, nãi thân trung dương khí chi động biến” (Lâm chứng chỉ nam y án chương trúng phong). Do vậy khi điều trị can dương thượng kháng và can phong nội động nguyên tắc là: Tư bổ can thận chi âm để chế dương, tiềm giáng kháng phấn chi dương để tức phong. Ngược lại nếu can dương bất túc, can âm thiên kháng sẽ giáng nhiều thăng ít, thượng khí bất túc, khí hành chậm uất trệ dần sẽ sinh ra. Nhưng đặc điểm sinh lý của can là chủ thăng, chủ động, chủ tán, can trong ngũ hành thuộc mộc mà tính chất của mộc là thăng phát, thích điều đạt vả lại nó thừa hưởng khí thiếu dương, mùa xuân sinh thăng, vận động không ngừng nên khi nó bị bệnh thì thường âm hư dương kháng là nhiều, dương hư âm thực ít.

 

2.3 Can chủ cân, vinh nhuận ra móng tay, móng chân

– Can huyết nuôi dưỡng khớp, gân cơ giúp vận động được tốt.
– Can huyết đầy đủ: vận động tốt
– Hư: mỏi chân tay, tê, co quắp, hạn chế vận động, sốt cao hao tổn tân dịch gây co quắp.
– Móng tay, chân là chỗ thừa của cân mạch, nên tình trạng can huyết thể hiện qua móng tay chân.

Xem chi tiết tại hình thể và quan khiếu

 

2.4 Can khai khiếu ra mắt: kinh can đi lên mắt

– Can nhiệt gây đau mắt đỏ
– Can huyết hư gây giảm thị lực
– Can phong nội động gây méo mồm, lác mắt.
– Can mộc sinh tâm hỏa, khắc tỳ, biểu lý với đởm.

Xem chi tiết tại hình thể quan khiếu

2.5 Can chủ giận dữ

Nộ vi can chí, nộ là một loại biến đổi tình chí khi bị kích động. Đối với hoạt động sinh lý thì nộ là phản ứng không lợi, ảnh hưởng đến cơ thể như nộ tắc khí thượng, nộ tắc khí nghịch, nặng hơn có thể gây thổ huyết và rối loạn tiêu hóa, do đó nộ sẽ tổn thương can. Ngược lại khi can khí thượng nghịch hoặc can hỏa thượng viêm dễ làm con người ta nóng nảy dễ cáu giận. Điều trị nên bình can là chính

2.6 Can chủ nước mắt

Can khai khiếu ở mắt, nước mắt cũng thuộc về can dịch, nếu can âm bất túc hai mắt sẽ khô rát. Nếu can kinh phong nhiệt thì mắt nhiều ghèn và nước mắt.

 

2.7 Một số bện lý tạng can

a) Can khí uất kết: Do tình thần bị kích động làm can khí uất lại gây cho khí huyết vận hành không thông xướng.
– Lâm sàng: đau vùng mạng sườn, ngực sườn đầy tức. Phụ nữ kinh nguyệt không đều, thống kinh, trước khi hành kinh vú căng chướng, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch huyền.
– Pháp điều trị: sơ can, giải uất.

 

b) Can hoả vượng lên trên: Là do can khí hoá hoả, hoả hay đi ở bên trên, hay bức huyết ra ngoài mạch gây chảy máu
– Lâm sàng: hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, tai ù, phiền táo, dễ cáu, mặt đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, nước tiểu vàng, có khi ho ra máu, nôn ra máu, chảy máu cam, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền sác.
– Pháp điều trị: thanh can hoả.

 

c) Can phong nội động
– Lâm sàng: Sốt cao co giật: (nhiệt cực sinh phong): sốt cao, hôn mê, gáy cứng, có khi người uốn cong, tay chân co quắp, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác.
Can dương vượng: can dương thượng xung nhức đầu, chóng mặt, tai ù, phiền táo hay cáu, mất ngủ hay quên, chất lưỡi đỏ, ít tân dịch, mạch huyền. Chứng trúng phong: đột nhiên ngã, lưỡi cứng nói khó, liệt 1/2 người, có khi hôn mê bất tỉnh.
– Can huyết hư sinh phong: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, chân tay co quắp, run, tê bì, thị lực giảm, sắc mặt hơi vàng, kinh nguyệt ít và nhạt màu, lưỡi nhạt ít rêu, mạch huyền tế
– Pháp điều trị: thanh nhiệt tức phong (nếu sốt cao co giật); bình can tức phong (can dương vượng); lương huyết tức phong (can huyết hư sinh phong).

 

v.v…