#suckhoe

#yhctvn

#ylyyhctvn

Học thuyết Tạng Phủ (phần 1 Ngũ tạng 1.1 Tâm)

Học thuyết tạng tượng là một trong những học thuyết quan trong của y học cổ truyền. Học thuyết nêu rõ chúc năng sinh lý của từng tạng phủ, quan hệ giữa các tạng phủ. Giúp người học hiểu rõ cơ chế sinh lý của cơ thể. Từ đó giúp ích rất nhiều trong việc phòng chẩn đoán và điều trị bệnh. Phần một này chúng ta sẽ tìm hiểu về chức năng sinh lý của Ngũ tạng.

A Ngũ tạng

 

1.Tạng Tâm

 

Vị trí trong khoang ngực giữa hai lá phế, trên cơ hoành hình dáng giống như búp sen lộn ngược, bên ngoài có tâm bào bảo vệ. Tâm vi thần chi xá (là nơi cư ngụ của thần), chủ huyết mạch. Tại ngũ hành thuộc hỏa, là dương trung chi dương, tác dụng chủ tể các hoạt động sống của cơ thể. Tác dụng sinh lý chủ yếu của tâm là chủ huyết mạch và tàng thần. Tâm khai khiếu lại lưỡi. Tại thể hợp mạch, kỳ hóa tại mặt. Tại chí vi hỉ, tại dịch vi hạn. Thủ thiếu âm tâm kinh và thủ thái dương tiểu trường có lạc thuộc với nhau do đó quan
hệ tâm tiểu trường là quan hệ biểu lý.

1.1 Tâm chủ huyết mạch, biểu hiện ra mặt

 

Là chỉ về tác dụng thúc đẩy huyết dịch vận hành trong mạch chảy khắp toàn thân để nuôi dưỡng và tư nhuận toàn thân. Tâm và mạch trực tiếp thông (gắn) với nhau. Huyết dịch không ngừng chảy trong tâm và mạch, tuần hoàn từng vòng kế tiếp nhau. Tâm mạch huyết cùng nhau hợp thành hệ tuần hoàn, trong hệ này tâm có tác dụng chủ đạo bởi vì chỉ có tâm khí mới thúc đẩy huyết vận hành. Nếu tâm khí suy kiệt thì huyết sẽ ngưng hành, tâm và mạch không đập nữa và kết thúc sinh mạng.

Huyết dịch vận hành bình thường được trong mạch cần ba điều kiện: Thứ nhất mạch phải hoàn toàn thông thoáng. Thứ hai huyết lượng phải đầy đủ, dồi dào (sung doanh) và cuối cùng tâm khí phải sung mãn. Trong ba điều kiện đó nếu thiếu đi bất cứ một điều nào đó thì lập tức sẽ sinh bệnh.

Chức năng tâm chủ huyết mạch có bình thường hoặc không có thể quan sát được ở 4 phương diện: sắc mặt, sắc lưỡi, mạch tượng, cảm giác vùng ngực. Khi chức năng này bình thường thì sắc mặt hồng nhuận, sắc lưỡi hồng nhạt, tư nhuận mà quang trạch, mạch hòa hoãn hữu lực, vùng ngực cảm giác nhẹ nhõm.. Nếu tâm hỏa vượng, mặt đỏ, lưỡi đỏ, nặng hơn thì đầu lưỡi đỏ sậm nhiều nhú gai, hoặc nứt đau, mạch sác, trong ngực cảm giác bực bội bồn chồn (phiền nhiệt), khó ngủ. Nếu tâm huyết suy thì mặt và lưỡi trắng nhạt, mạch tế vô lực, thường cảm giác hồi hộp tim đập nhanh (tâm quí). Nếu tâm mạch bị ứ huyết tắc trệ thì sắc mặt và lưỡi đều tối hoặc xanh tím, lưỡi xuất hiện vết ứ huyết xanh tím, mạch sáp đập không trôi chảy có lúc kết đại (ngưng ngắt) tức ngực đau ngực, nhẹ thì vài giây (đau) sẽ hết, nặng thì đau đến nỗi xanh mặt môi lưỡi tím đổ mồ hôi đầm đìa có thể tử vong.

 

1.2 Tâm tang thần, chủ thần trí

 

Chủ yếu là nói về tâm có công năng chủ tể (chi phối, thống trị) hoạt động sinh lý của lục phủ ngũ tạng, hình thể quan khiếu và hoạt động tư duy, ý thức của con người. Linh khu có nói: “Tâm giả, thần chi xá dã” hoặc Tố vấn cũng nói tâm tàng thần. Do tâm trung hữu thần cho nên tâm mới có thể chủ tể mọi hoạt động sinh lý và hoạt động tâm lý.

Tâm chủ tể hoạt động sinh lý lục phủ ngũ tạng, hình thể quan khiếu, vì tâm có tác dụng hành huyết, phế chủ hô hấp, tỳ chủ vận hóa, can chủ sơ tiết, thận chủ tàng tinh, vị chủ thu nạp, tiểu trường tiêu hóa, đại trường truyền đạo, tam tiêu vận hành tân dịch và nguyên khí, bàng quang trữ và bài tiết nước tiểu, tứ chi gập duỗi, mắt có thể thấy, tai có thể nghe… tất tật mọi chức năng sinh lý đều được tiến hành dưới sự chi phối của tâm. Tâm thần chủ tể và hiệp điều mọi hoạt động sinh lý. Nếu tâm thần bình thường thì giữa các bộ phận có sự hợp tác, hỗ trợ nhau thì toàn thân an thái. Nếu tâm thần bất minh, các cơ quan không nhận được sự điều hiệp thống trị vốn phải có sẽ sản sinh hỗn loạn, bệnh tật theo đó sẽ phát sinh. Bởi vậy “Tố vấn – Linh lan bí điển luận” có nói: “Cố chủ minh tắc hạ an, dĩ thử dưỡng sinh tắc thọ, một thế bất đãi, dĩ vi thiên hạ tắc đại xướng. Chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy, sứ đạo bế tắc nhi bất thông, hình nãi đại thương, dĩ thử dưỡng sinh tắc ương, dĩ vi thiên hạ giả, kỳ tông đại nguy, hình chi hình chi” (Chủ tướng (sếp) mà minh mẫn sáng suốt thì thuộc hạ yên lành, sống thọ một đời, thiên hạ sẽ thái bình. Nếu chủ bất minh không sáng suốt thì trước hết các quan thuộc hạ sẽ nguy (các tạng phủ khác) cơ thể sẽ thương tổn sẽ không sống thọ thiên hạ hỗn loạn). Tâm thần minh hoặc không minh trực tiếp ảnh hưởng đến toàn thân tạng phủ, quyết định đến tính mạng tồn vong.

Tâm chủ tể hoạt động sinh lý cơ thể. Đầu tiên tâm là cơ quan nội tạng chủ yếu chịu trách nhiệm về hoạt động ý thức tư duy của con người (tương đương hệ thần kinh cao cấp). Nhưng cũng cần nói rõ vấn đề ý thức tư duy của con người là do ngũ tạng cùng nhau hoàn thành. “Tố vấn – Tuyên minh ngũ khí thiên” có nói: “ Tâm tàng thần, phế tàng phách, can tàng hồn, tỳ tàng ý, thận tàng chí”. Trong hoạt động tinh thần của ngũ tạng tâm giữ vị trí thống soái.

Ngoài hoạt động tư duy ra tâm còn là cơ quan (nơi) chủ tể về sự phát sinh tình chí. Như Trương Giới Tân trong “Loại kinh” có nói: “ Tâm vi lục phủ ngũ tạng chi đại chủ, nhi tổng thống hồn phách, kiêm cai ý chí, cố ưu động vu tâm tắc phế ứng, tư động vu tâm tắc tỳ ứng, nộ động vu tâm tắc can ứng, khủng động vu tâm tắc thận ứng, thử sở dĩ ngũ chí duy tâm sở chủ dã” (Năm trạng thái tinh thần tác động vào tâm và ảnh hưởng các tạng khác) hay còn có câu: “Tình chí chi thương, tuy ngũ tạng cá hữu sở thuộc, nhiên cầu kỳ sở do, tắc vô bất tùng tâm nhi phát” (thương tổn tinh thần do mỗi tạng mỗi khác nhưng nếu xét cho cùng thì mọi cái đều xuất phát từ tâm). Qua đây có thể thấy tâm vừa là chủ tể của các hoạt động tư duy, ý thức, tinh thần lại là nơi phát sinh ra thất tình, và do đó có thể nói tâm chủ tể các hoạt động tâm lý của cơ thể.

Bất luận hoạt động sinh lý hoặc hoạt động tâm lý đều do ngũ tạng lục phủ, đặc biệt là ngũ tạng cùng nhau thực hiện, nhưng tâm giữ vai trò chủ tể nên người xưa quan niệm rằng: Tâm là quân chủ của cơ thể của lục phủ ngũ tạng, tác dụng chủ tể này của tâm đều là do tâm thần mà có.

Tâm chủ huyết mạch và tâm tàng thần ảnh hưởng tương hỗ. Chức năng tâm chủ huyết mạch nhận sự chi phối của tâm thần. Lấy ví dụ một người chuẩn bị xuất phát chạy bộ thì tốc độ huyết lưu và nhịp tim đã tăng lên, lúc này hiển nhiên không phải do vận động mà tăng mà do tâm thần chi phối tâm chủ huyết mạch. Đồng thời tâm thần nhất thiết phải nhận được sự nhu dưỡng bình thường của tâm huyết mới có thể hoạt động bình thường. Nếu tâm huyết bất túc thì tâm thần thất dưỡng sẽ xuất hiện vào ban ngày tinh thần hoảng hốt khó tập trung tư duy và vào ban đêm khó vào giấc ngủ mà ngủ được thì thường nằm mơ nhiều, đây là biểu hiện tâm thần bất ninh và suy nhược.

Kể từ đời nhà Minh trở về trước, các y gia đều tin rằng tâm nằm trong lồng ngực có hai loại chức năng là chủ huyết mạch và tàng thần. Nhưng bắt đầu từ nhà Minh giả thiết này bắt đầu lung lay. Người đầu tiên nêu lý luận khác trước đây là Lý Đình trong “Y học nhập môn – Tâm” có đề cập: “Tâm giả, nhất thân chi chủ, quân chủ chi quan. Hữu huyết nhục chi tâm, hình như vị khai liên hoa, cư phế hạ can thượng dã: Hữu thần minh chi tâm. Thần giả, khí huyết sở hóa, sinh chi bản dã, vạn vật do chi thịnh trưởng, bất trước sắc trượng, vị hữu hà hữu, vị vô phục tồn, chủ tể vạn sự vạn vật, hư linh bất muội thị dã, nhiên hình thần diệc hằng trương nhân” (Đại khái là: Tâm là tạng quan trọng nhất trong cơ thể. Có một tâm bằng thịt hình dáng như bông sen chưa nở nằm dưới phế và trên can. Có một tâm chứa thần minh, thần là nguồn sinh khí huyết là cơ bản của vạn vật… không sờ không thấy được làm chủ tể vạn sự vật, do đó tâm hình (bằng thịt) và thần có quan hệ với nhau). Ông ta chỉ ra tâm của con người có hai thứ, thứ nhất là tàng ở trong lồng ngực “Huyết nhục chi tâm” có tác dụng thúc đẩy huyết hành, thứ hai là tâm không có hình thái hiện hữu là “Thần minh chi tâm” tác dụng chủ tể mọi hoạt động sống của con người. Kỳ thực ông ta cũng đã phủ nhận tâm trong ngực có tác dụng chủ tể hoạt động sống cho rằng nó chỉ có tác dụng thúc đẩy huyết hành nên gọi nó là “Huyết nhục chi tâm”. “Thần minh chi tâm” là gì? Nằm ở đâu? Ông ta không trả lời được. Và còn một người kề cận thời ông ta là “Lý Thời Trân trong Bản thảo cương mục – Tân di” cũng đã có cách nhìn khác “Não là nguyên thần chi phủ” và từ nhà Thanh tới nay rất nhiều người đề cập đến điều đó.

Dưới đây là phần giới thiệu khái quát về khí huyết, âm dương của tâm. Tâm khí là chất chủ yếu để tâm tiến hành các hoạt động sinh lý, nguồn gốc chính từ thủy cốc tinh vi từ tỳ vị vận hóa. Khí là vật chất vô hình mà lại động, tác dụng chủ yếu là thúc đẩy chức năng chủ huyết mạch và tàng thần của tâm. Tâm khí thúc huyết dịch vận hành và cũng là động lực của hoạt động “Tâm thần”. Khi tâm khí vương thịnh đủ sức vận hành huyết dịch và tinh thần cũng sẽ vương thịnh. Tâm khí bất túc tắc huyết hành vô lực thậm chí xuất hiện ứ huyết đồng thời tinh thần sẽ ủy mị dễ mệt. Huyết là vật chất hữu hình trong nó có hàm chứa dinh khí và tân dịch tác dụng tư dưỡng “Tinh, thần”. Tâm huyết sung túc thì tâm thần nhận được sự tư dưỡng đầy đủ, tinh thần sẽ an tường (bình an sáng suốt) tư duy nhạy bén. Nếu tâm huyết bất túc tâm thần thất dưỡng thì thần hư nhược ban ngày khó tập trung suy nghĩ, hay quên, mệt mỏi, ban đêm khó ngủ mộng mị liên miên.

Tóm lại khi khí huyết sung túc thì các chức năng của tâm đều thịnh vượng hữu lực, ngược lại khí huyết bất túc thì các chức năng bị ảnh hưởng.

Tâm âm tâm dương có nguồn căn tại thận âm thận dương, nó có tác dụng điều tiết chức năng sinh lý và chuyển hóa của tâm. Sự điều tiết này thể hiện thông qua sự bình hành (thăng bằng) hoặc thiên thịnh hoặc thiên suy của tâm âm và tâm dương. Trong đó tâm dương tác dụng thúc tiến sự hoạt động, thăng tán, hưng phấn và ôn húc (ấm áp) của tâm. Tâm âm thì lại thúc hối sự minh tịnh ức chế và chế ước dương nhiệt. Tâm âm và dương tương phản, tương hỗ chế ước để đạt được sự bình hành tương đối thì huyết hành sẽ bình thường sắc mặt và lưỡi hồng nhạt nhuận trạch, mạch hoãn hữu lực, tinh thần vượng thịnh mà an tịnh, ngủ cũng ngon. Nếu tâm dương thiên thịnh hoặc tâm âm bất túc đều dẫn đến tâm dương thiên thắng nên mặt và lưỡi hơi đỏ, mạch sác tinh thần hưng phấn, phiền táo dễ nộ hoặc đêm ngủ không yên. Ở người tâm dương thiên thịnh là chứng hữu dư (thừa) nên mạch sác mà hữu lực. Người tâm âm bất túc là hư chứng mặc dù cũng xuất hiện lưỡi đỏ tinh thần hưng phấn nhưng mạch thì lại tế sác và do âm nội thủ vô lực (giữ ở trong) nên xuất hiện đạo hạn. Nếu tâm dương bất túc hoặc tâm âm thiên thịnh đều xuất hiện hiện tượng âm thắng với biểu hiện sắc mặt và lưỡi hơi nhạt, mạch trì, tinh thần ủy mị, lười biếng buồn ngủ hoài đây là triệu chứng của sự ức chế tâm thần và huyết hành trì hoãn (chậm chạp), do sự ôn húc vô lực nên xuất hiện tay chân lạnh, ố hàn. Tóm lại động lực để tâm tiến hành các hoạt động sinh lý và dinh dưỡng đều xuất phát từ tâm khí tâm huyết nên nếu khí huyết sung thịnh là hiện tượng tốt. Mà sự điều tiết các hoạt động sinh lý lại nhờ vào tâm âm dương nên âm dương bình hành là trạng thái tốt nhất của cơ thể.

 

1.3 Tâm khai khiếu ra lưỡi

 

  • Biệt lạc của tâm thông ra lưỡi

  • Khí huyết của tâm ra lưỡi để nuôi dưỡng, duy trì hoạt đông của lưỡi

  • Dựa vào chất lưỡi để chẩn đoán: Lưỡi đỏ thuộc nhiệt, lưỡi nhạt thuộc hư, lưỡi có điểm ứ huyết thuộc huyết trệ

Xem chi tiết tại phần hình thể và quan khiếu

 

1.4 Tâm chủ hãn

 

Cũng có thể nói hạn vi tâm chi dịch, nghĩa là tâm và hạn có quan hệ mật thiết. Sự đổ mồ hôi của cơ thể có hai loại: Một là xuất hạn (ra mồ hôi) để tán nhiệt, hai là ra mồ hôi do tinh thần. Cái thứ nhất thì dễ hiểu (nóng nực đổ mồ hôi để tán nhiệt) hoặc sốt cao dùng thuốc phát hạn cũng vì mục đích trên (nhiệt tùy hạn giải) loại này không có quan hệ nhiều lắm với tâm. Do căng thẳng hoặc do giật mình sợ hãi mà đổ mồ hôi là có quan hệ trực tiếp với tâm vì tâm là đại minh chủ của ngũ tạng lục phủ, chủ tể hoạt động tinh thần: Do đó hạn vi tâm chi dịch là vậy.

1.5 Tâm chủ vui mừng

Tâm tại chí vi hỷ là chỉ chức năng sinh lý và tình chí của tâm có quan hệ với hỷ. Trong ngũ chí hỷ, nộ, tư, ưu, khủng thì hỷ là thuộc tâm (hỷ vi tâm chi chí, Tố vấn). Hỷ là phản ứng lành tính đối với ngoại cảm, có lợi cho chức năng chủ huyết mạch nên Tố vấn có câu: “Hỷ tắc khí hóa chí đạt, dinh vệ thông lợi”. Nhưng hỷ lạc quá độ sẽ làm cho tâm thần tản mạn không thu gom lại được khó tập trung tư tưởng. Do đó ta thấy sự vui mừng bình thường có lợi cho tâm nhưng nếu hỷ lạc thái quá sẽ thương tổn tâm thần.

Kinh (sợ hãi) cũng không có lợi cho tâm vì kinh tắc khí loạn. Tâm thần bất ninh dễ gây ra kinh (sợ hãi)

 

1.6 Tâm bào lạc

 

Tâm bào lạc, còn gọi là tâm bào cũng còn có tên là đản trung, là màng bao bọc bên ngoài tạng tâm, có tác dụng bảo hộ. Hình thái và vị trí của tâm bào đã được đề cập trong Y học chính truyền và Loại kinh hình dực. Trong học thuyết kinh lạc, thủ quyết âm tâm bào kinh tương quan biểu lý với thủ thiếu dương tam tiêu nên tâm bào được coi là tạng. Trong thuyết tạng tượng tâm bào là bao bọc bên ngoài tâm có tác dụng bảo vệ. Trong ôn bệnh học gọi chứng ngoại cảm nhiệt bệnh có biểu hiện hôn mê… là nhiệt nhập tâm bào.

 

1.7 Một số hội chứng bệnh của tạng Tâm

 

a) Tâm khí hư
Tâm khí hư là hội chứng hay gặp ở người già; do một số bệnh khác như thiểu năng động mạch vành, mất mồ hôi, tân dịch nhiều làm ảnh hưởng đến khí huyết.
– Lâm sàng: trống ngực, thở ngắn, tự hãn, hoạt động bệnh tăng lên.
Kèm thêm hiện tượng khí hư: sắc mặt xanh, mệt mỏi vô lực, lưỡi nhạt mềm bệu, rêu trắng, mạch hư
– Pháp điều trị : bổ tâm khí

 

b) Tâm huyết hư
Tâm huyết hư là do sự sinh ra huyết giảm sút hoặc sấy ra sau khí mất máu như phụ nữ sau đẻ, rong huyết, chấn thương.
– Lâm sàng: trống ngực hồi hộp, dễ kinh sợ, vật vã, mất ngủ, hay quên.
Kèm theo hiện tượng huyết hư: hoa mắt, chóng mặt, sắc mặt xamh, môi nhợt, lưỡi nhạt, mạch yếu.
– Pháp điều trị : bổ tâm huyết

 

v.v….