Trong lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại, Hàn Mặc Tử là một hiện tượng đặc biệt. Nếu phong trào Thơ Mới đã đem đến cho thi đàn Việt Nam những tiếng nói cá nhân mãnh liệt thì Hàn Mặc Tử chính là người đã đẩy cuộc cách mạng ấy đến những giới hạn xa nhất của cảm xúc, tưởng tượng và ngôn ngữ. Cuộc đời ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn hai mươi tám năm (1912–1940) nhưng ông đã để lại một di sản thơ ca đồ sộ, độc đáo và có sức ám ảnh lâu bền. Từ những vần thơ Đường luật còn đậm dấu ấn truyền thống đến những thi phẩm đầy biến động của Đau thương, từ vẻ đẹp trong trẻo của Gái quê đến những tiếng kêu thương thống thiết hướng về cõi vô cùng, Hàn Mặc Tử đã trải qua một hành trình sáng tạo hiếm có trong văn học Việt Nam.
Tên thật của ông là Nguyễn Trọng Trí, sinh tại Quảng Bình, học trung học ở Huế, gắn bó với Quy Nhơn và vùng đất miền Trung. Thiên nhiên miền biển, những xóm đạo Công giáo, những đồi cát, trăng, gió và biển đã trở thành chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ từ thuở thiếu thời. Ngay từ rất sớm, ông đã bộc lộ năng khiếu văn chương và tham gia sinh hoạt báo chí với nhiều bút danh khác nhau.

Chặng đường sáng tác đầu tiên của Hàn Mặc Tử thường được gắn với tập thơ Đường luật mang tên Lệ Thanh thi tập. Dù phần lớn bản thảo không còn nguyên vẹn, những bài thơ còn lại cho thấy một cây bút trẻ có nền tảng Hán học khá vững vàng, am hiểu niêm luật cổ điển và giàu cảm hứng trước thiên nhiên, quê hương đất nước. Ở giai đoạn này, thơ ông chưa bộc lộ rõ những cách tân táo bạo về nghệ thuật, nhưng đã thấp thoáng một tâm hồn nhạy cảm, thiết tha với cuộc đời và luôn hướng tới cái đẹp.
Bước ngoặt lớn trong hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử xuất hiện ở tập Gái quê (1936). Đây là tập thơ duy nhất được xuất bản khi ông còn khỏe mạnh, đồng thời đánh dấu sự trưởng thành của một tiếng thơ giàu cá tính trong phong trào Thơ Mới. Trong Gái quê, người đọc bắt gặp một thế giới nghệ thuật trong trẻo, tươi sáng và chan chứa tình yêu cuộc sống. Thiên nhiên thôn dã hiện lên đầy sức sống với nắng mới, vườn cây, tiếng hát, dòng sông, những cô gái quê hồn nhiên và duyên dáng. Đó là thế giới của tuổi trẻ, của tình yêu và niềm say mê vẻ đẹp trần thế.
Mạch cảm hứng ấy tiếp tục được phát triển trong nhiều thi phẩm thuộc phần Hương thơm của tập Đau thương sau này, tiêu biểu như Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ. Những bài thơ ấy cho thấy một Hàn Mặc Tử vẫn thiết tha với cuộc đời, vẫn ngây ngất trước vẻ đẹp của con người và tạo vật. Đây cũng là những thành tựu tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại, nơi cảm xúc lãng mạn hòa quyện với một khả năng cảm nhận tinh vi và độc đáo.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở thế giới thơ trong trẻo ấy, Hàn Mặc Tử có lẽ vẫn chỉ được nhớ đến như một thi sĩ tài hoa của phong trào Thơ Mới. Điều làm nên vị trí đặc biệt của ông trong lịch sử văn học chính là những biến đổi sâu sắc ở giai đoạn sau. Năm 1937, căn bệnh phong được phát hiện như một biến cố nghiệt ngã của số phận. Từ đây, đời sống tinh thần của thi sĩ bước vào những trải nghiệm đau đớn và cực hạn. Bi kịch cá nhân, cùng với đức tin tôn giáo và khát vọng vượt thoát khỏi những giới hạn của thân xác, đã tạo nên một cuộc chuyển hóa mạnh mẽ trong thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc Tử, đưa thơ ông từ vẻ đẹp trần thế đến những miền cảm xúc, tâm linh và siêu cảm chưa từng có trong thơ Việt Nam đương thời.
Từ đây xuất hiện tập Đau thương (còn gọi là Thơ điên) cùng nhiều thi phẩm đặc sắc khác như Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên... Nếu ở Gái quê là tiếng hát yêu đời thì ở Đau thương là tiếng kêu xé lòng của một linh hồn đang vật lộn giữa sự sống và cái chết. Thế giới thơ trở nên dữ dội, chập chờn, đầy những hình ảnh bất thường: máu, hồn, trăng, thiên thần, địa ngục, linh hồn, tinh tú. Ngôn ngữ thơ không còn vận động theo logic thông thường mà được tổ chức bằng những liên tưởng mạnh, những cú nhảy cảm xúc bất ngờ.
Đó không phải là sự “điên loạn” theo nghĩa bệnh lý đơn giản như nhiều người từng hiểu. Thực chất, Hàn Mặc Tử đang tìm cách diễn đạt những trạng thái tinh thần cực hạn mà ngôn ngữ thông thường không đủ sức biểu hiện. Nhà thơ đã phá vỡ nhiều khuôn mẫu cũ để mở rộng biên độ biểu đạt của tiếng Việt. Trong thơ ông, cái hữu hình và vô hình, cái thực và cái mộng, cái trần thế và thiêng liêng liên tục giao thoa, chuyển hóa lẫn nhau.
Nhiều yếu tố đã góp phần hình thành phong cách nghệ thuật độc đáo của Hàn Mặc Tử. Trước hết là tài năng thiên bẩm và một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm. Hàn Mặc Tử luôn cảm nhận thế giới bằng cường độ cảm xúc cao hơn người bình thường. Thứ hai là ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới và văn học lãng mạn phương Tây, giúp ông giải phóng cái tôi cá nhân và mở rộng chân trời nghệ thuật. Thứ ba là đức tin Công giáo. Trong thơ Hàn Mặc Tử, hình ảnh Đức Mẹ, thiên thần, thiên đường và khát vọng cứu rỗi xuất hiện với tần suất lớn. Đó còn là điểm tựa tinh thần giúp thi sĩ vượt lên nỗi đau thân xác. Cuối cùng, căn bệnh hiểm nghèo chính là hoàn cảnh bi kịch đã đẩy cảm xúc và tư tưởng của ông đến những chiều sâu đặc biệt.
Đóng góp lớn nhất của Hàn Mặc Tử đối với thơ ca Việt Nam nằm ở việc mở rộng những khả năng biểu hiện của thơ. Ông đã chứng minh rằng thơ không chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn có thể khám phá những tầng sâu bí ẩn nhất của tâm hồn con người. Ông là người tiên phong trong việc đưa vào thơ những liên tưởng táo bạo, những hình tượng mang màu sắc tượng trưng và siêu thực. Nhiều tìm tòi của Hàn Mặc Tử đã trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi sĩ sau này.
Bên cạnh giá trị nghệ thuật, thơ Hàn Mặc Tử còn chứa đựng một giá trị nhân văn sâu sắc. Đằng sau những câu thơ đầy ám ảnh là khát vọng sống mãnh liệt của một con người yêu cuộc đời đến tận cùng. Càng đối diện với cái chết, ông càng tha thiết với ánh sáng, tình yêu, tuổi trẻ và vẻ đẹp của trần thế. Chính điều đó khiến thơ ông vượt qua giới hạn của một bi kịch cá nhân để trở thành tiếng nói chung về thân phận con người.
Đọc Hàn Mặc Tử là bước vào một thế giới vừa quen thuộc vừa kỳ diệu. Ở đó có ánh nắng của những vườn quê miền Trung, có bóng dáng những thiếu nữ mộng mơ, có tiếng lòng tha thiết yêu đời của một tâm hồn nghệ sĩ; nhưng cũng có những cơn đau xé lòng, những khát vọng hướng tới cái đẹp tuyệt đối và những cuộc đối thoại cô đơn với cõi vô cùng. Mỗi giai đoạn sáng tác của ông đều mang một vẻ đẹp riêng, góp phần tạo nên chân dung của một thi sĩ lớn, độc đáo và không thể trộn lẫn trong lịch sử văn học dân tộc.
Từ những bài thơ còn đậm dấu ấn cổ điển đến những thi phẩm lãng mạn, từ vẻ đẹp trong trẻo của Gái quê đến thế giới nghệ thuật đầy ám ảnh của Đau thương và những tập thơ cuối đời, chúng ta sẽ lần lượt gặp gỡ nhiều gương mặt khác nhau của Hàn Mặc Tử. Và qua mỗi trang thơ ấy, người đọc không chỉ hiểu thêm về một nhà thơ, mà còn cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp, nỗi đau và khát vọng của chính con người.
LỆ THANH THI TẬP
Hồn cúc
Bây lâu sát ngõ, chẳng ngăn tường
Không dám sờ tay sợ lấm hương
Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá
Muốn ôm hồn cúc ở trong sương.
Trồng hoa cúc
Thích trồng hoa cúc để xem chơi
Cúc ngó đơn sơ, lắm mặn mòi
Đêm vắng gần kề say chén nguyệt
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui.
Vịnh hoa cúc
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.

Thanh nhàn
Kiếp người nghĩ lại có là bao
Phú quý mây bay chẳng khác nào
Chi dụng từng vay kho tạo hóa
Bình sinh đã nhiễm thói phong lưu
Sóng dồi mặt đá phơi đầu bạc
Nắng dọi lưng cây suốt động đào
Ba vạn công danh ừ cũng bỏ
Thoát trần ta thử hát ngêu ngao.
Thuật hoài
Ít khi vui vẻ, ít khi buồn
Giã lả cho qua phận cánh chuồn
Trước vụng đường tu duyên mới lỡ
Nay tròn quả phúc, bước chưa nên
Lòng sông, há dễ dò sâu cạn
Đầu chợ, may ra biết dại khôn
Tai vách mạch rừng ghê gớm lắm
Kìa ai, thủ khẩu rứa mà hơn
GÁI QUÊ (1936)
Bẽn lẽn
Tặng Baudelaire
Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi...
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!
Trong khóm vi lau rào rạt mãi:
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?...
Ô kìa! bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe...
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao, lúc nửa đêm!...
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em…
ĐAU THƯƠNG (THƠ ĐIÊN, 1937)
Vài lời nói đầu
Ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói đến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. Trên đầu Người là cao cả, vô biên và vô lượng: xung quanh Người là mơn trớn với yêu đương vây phủ bởi trăm dây quyến luyến làm bằng êm dịu, làm bằng thành bại… Gió phương mô đẩy đưa Người đến bờ xa lạ, đầy trinh tiết và đầy thinh sắc. Người dừng lại để hái những lá tinh hoa. Người nín lặng để mà nghe tiếng trăng reo vang vang như tiếng châu báu vỡ lỡ. À ra Người cũng dại dột, hốt vàng rơi bọc trong vạt áo.
Trí Người đã dâng cao và thơ Người dâng cao hơn nữa. Thì ra Người đang say sưa đi trong Mơ Ước, trong Huyền Diệu, trong Sáng Láng và vượt hẳn ngoài Hư Linh....
Tôi làm thơ?
- Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng... Anh sẽ thấy hơi đàn lả lướt theo hơi thở của hồn tôi, và chiều theo những sóng điện nóng ran trút xuống bởi năm đầu ngón tay uyển chuyển.
Anh sẽ run theo khúc ngân nga của tơ đồng, sẽ để mặc cho giai âm rền rỉ nuối không ngưng. Và anh sẽ cảm giác lạ, nhìn không chớp mắt khi một tia sáng xôn xao tại có vì sao vỡ. Những thứ ấy là âm điệu của thơ tôi, âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rên vang dưới ngòi bút.
Tôi làm thơ?
- Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại tất cả những gì của lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật.
Và cũng nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú... Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?
Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống.
- Thôi, mời cô cứ vào....
Ánh sáng lạ trong thơ sẽ làm cho gò má cô đỏ gấc. Và một khi Cô đã vào là Cô sẽ lạc, vì vườn thơ rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh.......
Hàn Mặc Tử
PHẦN 1: HƯƠNG THƠM
Đà Lạt trăng mờ
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu:
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ!
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,
Như đón từ xa một ý thơ.
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hồ reo;
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu...
Hàng thông lấp loáng đứng trong im,
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư thực làm sao phân biệt được!
Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm.
Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng.
Không một tiếng gì nghe động chạm,
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng...

Mùa xuân chín
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”

Đây thôn Vĩ Dạ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay...
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?

Bài thơ này được Hàn Mặc Tử được làm vào thời gian cuối đời khi đang điều trị bệnh phong và sống trong cô đơn, tuyệt vọng. Bài thơ viết về mối tình đơn phương với Hoàng Thị Kim Cúc, một thiếu nữ người Huế dịu dàng, kín đáo mà Hàn thầm yêu khi làm việc tại sở Đạc Điền ở Quy Nhơn, nhưng không dám thổ lộ. Một thời gian sau, cô Cúc trở về thôn Vĩ Dạ (hay Vĩ Giạ), Huế, biết tin Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng, đã gửi cho ông một bức bưu ảnh phong cảnh thôn Vĩ. Chính hình ảnh ấy, cùng với nỗi nhớ thương và khát vọng tình yêu, đã trở thành chất xúc tác để ông viết nên bài thơ. Tiêu đề bài thơ ban đầu là Ở đây thôn Vĩ Giạ, một số sách in về sau đổi thành Đây thôn Vĩ Dạ.
Trăng vàng trăng ngọc
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán đoàn viên, ước hẹn hò...
Bao giờ đậu trạng vinh quy đã
Anh lại đây tôi thối chữ thơ.
Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hồn Trăng.
Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng
Tôi nói thiệt, là anh dại quá:
Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang.
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!
Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi
Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi
Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi
Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời
Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!
PHẦN 2: MẬT ĐẮNG
Những giọt lệ
Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?
Bao giờ tôi hết được yêu vì,
Bao giờ mặt nhựt tan thành máu,
Và khối lòng tôi cứng tợ si?
Họ đã xa rồi khôn níu lại,
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa...
Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?
Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG (1941)
Chơi giữa mùa trăng do Ngày Mới ấn hành lần đầu vào năm 1941, và An Tiêm tái bản vào năm 1969. Mặc dù, trên bản in ngày 7 tháng 4 năm 1969 ghi rõ: “Chơi giữa mùa trăng tập văn di cảo của Hàn Mặc Tử do nhà An Tiêm xuất bản theo sự thoả thuận của thi sĩ Quách Tấn…”, song từ đó đến nay, mỗi khi nhắc về tác phẩm này của Hàn Mặc Tử, nhiều người vẫn không ngớt phân vân, chưa thể xác định, đây thuộc thể loại văn học nào: tuỳ bút, tạp văn hay thơ xuôi.

Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm, và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả tả... Và rơi đến đâu, chạm vào thứ gì là chỗ ấy, thứ ấy vang lên tuy chẳng một ai thấy rõ sức rung động. Nghĩa là trăng rằm trung thu: một đêm siêu hình, vô lượng, tượng trưng của một mùa ao ước xây bằng châu lệ, làm bằng chia ly, và hơn nữa, hiện hình của một nguồn khoái lạc chê chán... Phải không hở chàng Ngưu và ả Chức?
Sông? Là một giải lụa bạch, không, là một đường trăng trải chiếu vàng, hai bên bờ là động cát và rừng xanh và hoang vu và thanh tịnh. Chị tôi và tôi đồng cầm một mái chèo con, nhẹ nhàng lùa những dòng vàng trôi trên mặt nước.
Chị tôi cười nả nớt, tiếng cười trong như thuỷ tinh và thanh khiết lạ thường. Luôn luôn cứ hỏi tôi và đố tôi cho kỳ được: “Này, chị đố em nhé, trăng mọc dưới nước hay mọc trên trời, và chúng mình đi thuyền trên trời hay dưới nước?” Tôi ngước mắt ngó lên trời rồi ngó xuống nước và cũng cười đáp lại: “Cả và hai, chị a”. Sướng quá, chao ôi, hai chị em lại thỉnh thoảng rú lên cười làm náo động luồng tinh khí của hạo nhiên.
Vây chúng tôi bằng ánh sáng, bằng huyền diệu, chưa đủ, Ngưu lang và Chức nữ, chúa của đêm trung thu còn sai gió thu mang lại gần chúng tôi một thứ mùi gì ngào ngạt như mùi băng phiến: trong ấy biết đâu lại không phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa... Thuyền đi êm ái quá, chúng tôi cứ ngờ là đi trong vũng chiêm bao, và say sưa ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa. Huyền ảo khởi sự. Mỗi phút trăng lên mỗi cao, khí hậu cũng tăng sức ôn hoà lên mấy độ, và trí tuệ, và mộng, và thơ, và nước, và thuyền dâng lên, đồng dâng lên như khói... Ở thượng tầng không khí, sông Ngân Hà trinh bạch đương đắm chìm các ngôi sao đi lạc đường. Chị tôi bỗng reo to lên: “Đã gần tới sông Ngân rồi! Chèo mau lên em! Ta cho thuyền đậu ở bến Hàn giang!”
Đi trong thuyền, chúng tôi có cái cảm tưởng lý thú là đương chở một thuyền hào quang, một thuyền châu ngọc, vì luôn luôn có những vì tinh tú hình như rơi rụng xuống thuyền...
Trên kia, phải rồi, trên kia, in hình có một vì tiên nữ đang kêu thuyền để quá giang.
Thình lình vùng mộng của chúng tôi bớt vẻ sáng lạn. Chị tôi liền chỉ tay về phía bến đò thôn Chùa Mo và bảo tôi rằng: “Thôi rồi! Trí ơi! Con trăng nó bị vướng trên cành trúc kia kìa, thấy không? Nó gỡ mãi mà không sao thoát ra được, biết làm thế nào, hở Trí”. Tôi cười: “Hay là chị em ta cho thuyền đỗ vào bến này, rồi ta trèo lên động cát với tay gỡ hộ cho trăng thoát nạn”. Hai chị em liền giấu thuyền trong một bụi hoa lau bông vàng phơi phới, rồi cùng lạc vào một đường lối rất lạ, chân dẫm lên cát mà cứ ngỡ là bước trên phiến lụa. Nước suối chảy ở hang đá trắng, tinh khiết như mạch nước ngọc tuyền, chồm lên những vừng lá, hễ trông đến là kinh hãi vì ngó giống con bạch hoa xà như tạc...
Sao đêm nay kiều diễm như bức tranh linh động thế này? Tôi muốn hỏi xem chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng như vừa uống xong một ngụm nước lạnh, mát đến tê cả lưỡi và hàm răng. Chị tôi làm thinh – mà từng lá trăng rơi lên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng. Động là một thứ hòn non bằng cát trắng quá, trắng hơn da thịt của người tiên, của lụa bạch, hơn phẩm giá của tiết trinh – một màu trắng mà tôi cứ muốn lăn lộn điên cuồng, muốn kề môi hôn, hay áp má lên để hưởng sức mát rượi dịu dàng của cát...
Hai chị em đồng dang tay níu áo gượng vào nhau dấn bước lên cao... Thỉnh thoảng mỏi hai đầu gối quá, cả chị liền em đồng ngã lăn ra. Lại một dịp cho tiếng cười của chị tôi được nở ra, giòn tan trong không khí. Lên tới đỉnh là hao mòn đi một ít. Nhưng mà ngợp quá sáng quá, hứng trí làm sao? Đây có phải là nước Nhược non Bồng, động phủ thần tiên ngàn xưa còn sót lại? Nhìn xuống cát cố tìm dấu tích gì lưu lại một vết chân của Đào Nguyên Tiên nữ, nhưng tấm cát phẳng lờ như lụa căng, trinh bạch làm sao.
Bất tri thử địa hà xứ
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân?
Bây giờ chúng tôi đương ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy rõ đâu là chín phương trời, mười phương phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiêu diêu đến nỗi đôi đồng tử của chị tôi và tôi lờ đi vì chói lói... Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như bầu thế giới chở chúng tôi đây cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác.
Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu... Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là đức tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.
Tôi nắm tay chị tôi giật lia lịa và hỏi một câu hỏi tức cười làm sao: “Có phải chị không hở chị?”. Tôi run run khi tôi có cái ý nghĩ: Chị tôi là một nàng Ngọc nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên: “A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng, mà em đây cũng là trăng nữa!”.
Ngó lại chị tôi và tôi, thì quả nhiên là trăng thiệt. Chị tôi hí hửng như xuân, chạy nhảy xênh xang cơ hồ được dịp phát triển hết cả ngây thơ của người con gái mười lăm tuổi, tôi ngắm mãi chị tôi, và tự vui sướng trong lòng vô hạn. Có lúc tôi đã kiêu ngạo thay cho cái sắc đẹp nhu mì ấy, mà chỉ dưới trời thu đêm nay tôi mới biết thưởng thức. Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi, và giải thoát cái “ta” của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt... Tôi bỗng rú lên một cách điên cuồng, và chực ngửa tay hứng một vì sao đang rụng. Chị tôi đằng xa chạy lại bảo tôi:
- Em la to quá, chị sợ âm thanh rung động đến khí trời, rồi những ánh trăng sẽ tan ra bọt mất...
- Không, không, chị ơi! Rồi ánh sáng đêm nay sẽ tan đi, ta sẽ buồn thương và nhớ tiếc. Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm thôi…