Việc khẩn hoang vùng Rạch Giá – Sơn Nam

Địa danh Rạch Giá bao gồm một vùng quá rộng. Trước khi người Pháp đến hồi cuối thế kỷ thứ 19, vùng Rạch Giá là một huyện, gọi là Kiên Giang thuộc tỉnh Hà Tiên. Đại Nam Nhứt Thống Chí (Lục Tỉnh Nam Việt, tập Hạ, bản dịch Tu Trai Nguyễn Tạo) còn ghi là một tên hơi khác; huyện Kiên Hà. Từ vị trí khiêm tốn là huyện, khi người Pháp đến, Rạch Giá trở thành tỉnh, bao gồm luôn vùng mũi Cà Mau, (sau đó, vùng Cà Mau tách riêng, nhập vào tỉnh Bạc Liêu). Vùng chợ Hà Tiên trở thành một tỉnh nhỏ bé, biệt lập thời Pháp thuộc, nhỏ bé không đủ dân cư, lúa gạo. Người Pháp đặt ra tỉnh lỵ có lẽ vì vị trí chiến lược ở sát biên giới Việt – Miên. Thời 1950, chánh quyền kháng Pháp đặt ra tỉnh Long – Châu – Hà, tức là vùng phía Bắc các tỉnh Long Xuyên – Châu Đốc – Hà Tiên. Thời đệ nhứt Cộng Hòa, Hà Tiên trở thành một huyện lỵ của tỉnh Rạch Giá, đến nay cũng thế, do đó trên bản đồ, tỉnh Rạch Giá chiếm một vùng quá rộng, từ biên giới Việt Miên đến Rạch Kim Qui, dài theo bờ biển, giáp An Xuyên.

Đây là tỉnh lỵ quan trọng nhứt ở Vịnh Xiêm La, thuộc Việt Nam. Từ xưa có lẽ hồi vương quốc Phù Nam còn hưng thịnh, Rạch Giá cũng đóng vai trò một thương cảng phụ, đón nhận thuyền buôn vào thị trấn Óc Eo. Vịnh Xiêm La là một kiểu Địa Trung Hải nhỏ bẻ, nối liền Việt Nam, Cao Miên, Xiêm La, Mã Lai, Nam Dương quần đảo. Lẽ dĩ nhiên người Ấn Độ và người Trung Hoa có mặt rất sớm, đóng vai trò kinh tế, văn hóa quan trọng. Rạch Giá và Hà Tiên đúng là hai hải cảng, ở sát mé biên.

Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến vùng gọi là Rạch Giá, theo sự chấp nhận của những người đi khẩn hoang làm ruộng, giới hạn chung quanh con rạch có thật, gọi là Rạch Giá – Giá là tên một loại cây tạp, dùng làm củi chụm bếp, rất xấu, khói quá cay mắt, duy có bông cây giá là mồi ngon cho loài ong mật. Ong mật hút nhụy bông cây giá, tạo ra một thứ sáp màu vàng khác hẳn loại sáp trắng. Người Miên gọi vùng Rạch Giá là Kramuôn-So, tức là sáp ong màu trắng. Theo lời truyền khẩu có thể tin được thì thuở ấy, từ đời Tự Đức trở về trước, sáp ong trôi lềnh bềnh trên sông rạch, cứ bơi xuồng vớt lên, đem về nấu lại mà bán.

Sáp vàng ở tại vùng chợ Rạch Giá. Vậy thì sáp trắng, theo địa danh Kramuôn-So của người Miên ở đâu? Chúng ta biết chắc rằng sáp ong màu trắng chỉ có khi ong hút nhụy bông tràm. Rừng tràm hiện nay còn khá nhiều ở dọc theo Vịnh Xiêm La, từ vàm sông Cái Lớn đồ về phía Nam, và ở rừng U Minh thượng, U Minh hạ. Có sự sai biệt về khu vực địa lý giữa xưng danh của người Miên và người Việt một sự sai biệt không quan trọng cho lắm, ở nơi đất rộng người thưa, chừng ba chục cây số ngàn.

Trong lịch sử Việt Nam, phần đất Rạch Giá được đề cập sơ qua khi nhắc chuyện Mạc Cửu lập ấp, khi vua Gia Long tẩu quốc và phục quốc, khi liệt sĩ Nguyễn Trung Trực đánh chiếm tỉnh lỵ này vào năm 1868. Nếu không nhắc đến vùng Rạch Giá thì không thiếu sót gì cả, vì khi nhắc đến Gia Long tẩu quốc, sử gia đề cập tới địa danh Long Xuyên, tức là vùng Cà Mau ngày nay, nhắc tới Mạc Cửu thì nói đến vùng chợ Hà Tiên cũng đủ tạm rồi. Và ông Nguyễn Trung Trực là người từ Tân An chạy xuống, trận Rạch Giá chỉ là trận oanh liệt sau cùng.

Mãi đến nay, vài người vẫn còn gọi Rạch Giá là Lạch Giá, hoặc Kiên Giang là Kiến Giang, (theo kiểu Kiến An, cũng như Mỹ Tho là Mỹ Thọ, ngỡ rằng Phú Thọ). Dân Rạch Giá, dân U Minh, luôn cả dân Sóc Trăng, Cà Mau ít được chú ý, từ sanh hoạt vật chất đến tinh thần vì đó là “phần đất mới, phong tục lai căng tạp nhạp”.

Đào kinh Rạch Giá – Hà Tiên bằng máy xáng. (Ảnh: Manhhai, Flickr, CC BY 2.0)

Trước năm 1925, học giả Phạm Quỳnh viết bài Một Tháng Ở Nam Kỳ, đăng trong tạp chí Nam Phong, trong bài có phần nhận xét về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta. Xin trích nguyên văn một đoạn (do Dương Quảng Hàm dẫn lại trong Quốc văn trích diễm, bản in Nghiêm Hàm 1925):

“Cái cuộc “Nam tiến” đó đến Nguyễn triều ta đã gọi là tiệm xong. Nhưng nhà Nguyễn cũng còn là mới khai thác được một nửa xử Nam kỳ mà thôi. Còn nửa nữa từ sông Hậu Giang trở xuống phải đợi nhà nước Đại Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt. Nếu xét trong địa dư xử Nam kỳ rõ biệt hằn ra hai phần: cải phần tự sông Tiền giang (Fleuve Antérieur) trở lên là phần đất cũ, của bản triều đã mở mang từ trước, nhân dân tụ họp đã lâu, ruộng đất thành thuộc gần khắp, cách cầy cấy trồng trọt nhiều nơi làm mỗi năm hai mùa đã gần giống như ngoài Bắc người dân cũng đã chịu cảm hóa của triều đình sâu, xưa kia đã từng sản được nhiều người tài giỏi có công với xã tắc, cải phần tự sông Tiền giang trở xuống, là phần đất mới mới khai thác tự sau khi nhà nước Pháp sang chiếm lĩnh, trước sau chưa có một chút lịch sự gì, có lắm nơi tỉnh thành chỉ mới thành lập được mười lãm năm nay, nhưng phần nầy đất phì nhiêu có một, hễ phá hoang đến đâu là thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá, thóc gạo không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay những tỉnh giàu nhất, lớn nhất ở Nam kỳ là thuộc vào phần đó, còn phần trên tuy có văn vật hơn mà đã cho là đất kiệt đất cũ rồi”.

Phải nhìn nhận rằng Phạm Quỳnh nhận xét khá đúng, gần giống với sự nhận xét của nhiều người Pháp am tường ít nhiều về miền Nam, miền Hậu Giang. Tính trung bình, từ năm 1901 đến năm 1906, mức sản xuất của tỉnh Cần Thơ (theo ranh giới thời Pháp thuộc) mỗi năm ±16.000 tấn, đứng hạng nhứt ở Nam phần về nông nghiệp.

Theo P. Bernard, các tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh là kho lúa của miền Nam. Mấy tỉnh nói trên có 966.000 mẫu tây ruộng, xuất cảng trong những năm bình thường 986.000 tấn lúa, tức là hơn phân nửa tồng sổ lúa xuất cảng của toàn cõi Đông Pháp. Tuy nhiên, khi Phạm Quỳnh cho rằng “còn một nửa từ sông Hậu Giang trở xuống phải đợi nhà nước Đại Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt”, “cái phần tự sông Tiền giang trở xuống, là phần đất mới, mới khai thác tự sau khi nhà nước Pháp sang chiếm lĩnh, trước sau chưa có một lịch sự gì” (lịch sự hay là lịch sử, ấn cổng sắp chữ lầm? S.N.)

Thì ta cần phải minh định rõ rệt: đâu là công lao của nhà nước Đại Pháp, nhà nước Đại Pháp giúp đỡ cụ thể như thể nào hoặc là cản trở việc khẩn hoang, việc sản xuất lúa gạo tới mức nào? Lại còn sự nhận định cho rằng “phần nầy đất phì nhiêu có một, hễ phá hoang đến đầu thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá!

Thiết tưởng chúng ta nên nghiên cứu lại, theo nhãn quan khác đề thấy phần đóng góp của dân Việt. Ông Phạm Quỳnh chưa đặt chân đến miền Hậu Giang khi viết những hàng trên, đặc biệt là miền Rạch Giá – Cà Mau. Công trình mở mang của người Pháp nhắm vào mục đích gì? Nếu người Pháp đừng kềm hãm sự mở mang ấy, miền Hậu Giang sẽ có bộ mặt nào ?

Người Pháp đào kinh xáng, dẫn nước ngọt vào một số đất hoang, cho đất lần hồi bớt phèn, đào kinh để cho lúa gạo miền Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau được chở chuyên dễ dàng đến Chợ Lớn, Sài Gòn đề xuất cảng, giúp cho sản phẩm được lưu thông. Và việc người Pháp và người Hoa kiều, người Chà cho vay cũng đã giúp cho mức sản xuất được tăng nhanh chóng.

Ngoài ra, nên đặt vấn đề: Việc mở mang của người Pháp có thâu đạt kết quả khả quan không, nếu người khẩn hoang không phải là dân Việt, vốn có nhiều khả năng thích ứng với hoàn cảnh địa lý khắc nghiệt, có nhiều kinh nghiệm khai khẩn vùng đồng bằng, nơi đất thấp, thích ở gần sông rạch và biển cả.

Tóm lại, dầu muốn hay không, chúng ta phải đặt vấn đề chánh trị: Thực dân Pháp và dân Việt có quyền lợi đối kháng nhau, người Pháp tự nhận là khách quan, theo thuyết nhân bản; ta xem đó là chủ quan, phi nhân bản. Chúng ta lại phải đặt vấn đề văn hóa hay văn minh: Trước khi người Pháp đến và mãi sau nầy, ở miền Hậu Giang có nào người Chàm (người Chà Châu Giang), người nông dân Triều Châu, Phước Kiến, Quảng Đông, người Cao Miên. Tại đồng bằng sông Cửu Long, ở vùng đất phèn khó khai thác phía Hậu Giang qua vịnh Xiêm La, các sắc dân nói trên có thái độ như thế nào, khi canh tác. Việc thành công của người Việt là vấn đề nặng về văn hóa. Người Miên canh tác vừa đủ ăn, trên diện tích nhỏ. Người Huê kiều chỉ thích làm rẫy và mua bán mà thôi.

Chúng tôi không đủ khả năng và tài liệu đề làm công việc quá lớn lao nói trên, công việc giải thực (décoloniser). Sau đây là vài chi tiết để khởi thảo một dàn bài, đóng khung trong vùng Rạch Giá với chợ Rạch Giá, vùng sông Cái Lớn, sông Cái Bẻ làm trung tâm điểm.

Mãi đến khi người Pháp ra đi (1945), vùng đất nói trên vẫn khẩn chưa xong. Chúng tôi thấy cần ghi lại nhiều sự kiện quá mới mẻ, không xưa, nhưng cần thiết đề hiểu thêm cuộc Nam Tiến trong thực tế. Chiếm đất về mặt chánh trị là khó, đòi hỏi công trình xương máu, tài ngoại giao, quân sự. Khai khẩn cho đất thành ruộng vườn, với đình chùa thôn xóm, định cư cho vững là công trình khó khăn hơn, nhứt là khi người dân khẩn đất, canh tác nhờ sự giúp đỡ và đồng thời cũng là sự kềm hãm đề vụ lợi của thực dân.

KHUNG CẢNH ĐỊA LÝ

Nhìn bản đồ địa chất của E. Saurin (Feuille de Vĩnh Long), bản đồ của Moormann, bản đồ thảo mộc (do Nha Địa dư quốc gia – Đà Lạt phát hành), chúng ta thấy vùng Rạch Giá, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu là vùng đất xấu, đất phèn, chịu ảnh hưởng nước mặn. So với các tỉnh ở Tiền Giang như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc thì là Rạch Giá – Cà Mau là nơi khó sống, khó canh tác và đất không phải là “phì nhiêu có một”, “cầy cấy tốt quá” như ông Phạm Quỳnh đã viết. Nếu Phạm Quỳnh viết đúng thì đó là trường hợp tỉnh Cần Thơ, ở sát hữu ngạn Hậu Giang, đất không phèn, quanh năm nước ngọt.

Ngoài ra, phần đất rộng lớn này bị choán phần lớn do rừng tràm, rừng sác, than bùn (gọi là đất cháy, đất dớn, đất mật cật) ở ven biên và luôn cả vùng hậu bối. Đặc biệt là vùng chung quanh chợ Hà Tiên, đất đai ở vào hạng xấu nhứt, nhiều phèn nhứt, gần như không thích hợp với việc cấy lúa. Đọc qua lịch sử miền Hậu Giang, chúng ta dễ bị ám ảnh về chuyện “di dân lập ấp” của Mạc Cửu. Công lao của Mạc Cửu quả là to về mặt chánh trị và tổ chức thương mãi (có thể so sánh với việc làm của người Pháp sau này là tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển bằng cách khuyến khích xuất cảng, giúp vốn). Và chỉ có như thế mà thôi. Chúng ta không nên hình dung rằng chung quanh chợ Hà Tiên của Mạc Cửu ngày xưa dân chúng sống sung túc với những thửa ruộng xanh um, cò bay thẳng cánh. Hà Tiên được ca ngợi với mười cảnh đẹp, nhưng chung quanh mười cảnh đẹp nào Giang thành dạ cổ, Tiêu tự thần chung, Đông hồ ấn nguyệt… ấy chỉ là vùng đất phèn, không sao khai thác được với điều kiện kỹ thuật thời ấy và luôn cả thời Pháp thuộc, mặc dầu người Trung Hoa (di thần nhà Minh) đi theo Mạc Cửu gồm đa số là nông dân. Lúa gạo đề nuôi dân vùng chợ Hà Tiên, vùng đảo Phú Quốc vào lúc ấy – và mãi đến lúc sau này vẫn là từ Rạch Giá, Cà Mau đem đến, luôn cả số lúa gạo xuất cảng. Rạch Giá (trong phạm vi ranh giới thời Pháp thuộc) là nơi sản xuất lúa gạo khá thừa thãi, nhờ sự cố gắng và tài khai thác nông nghiệp của người Việt.

Người Việt Nam làm ruộng ở nơi đất thấp, có nước ngập vào mùa mưa khác hẳn loại rẫy lúa của đồng bào Thượng. Muốn làm ruộng như vậy, cần có những điều kiện tối thiểu như sau đây:

– Đời sống định cư, nhà ở và nơi làm ruộng không quá xa để có thể sáng ra ruộng, xế trưa trở về nhà.

– Phải có nước ngọt đề uống, trong mùa nắng. Đây là điều kiện gần như tiên quyết cho đời sống con người. Tắm, rửa ráy, giặt quần áo bằng nước mặn thì tạm được nhưng uống nước hơi mặn, nước phèn thì nhứt định là không được, dầu là uống tạm trong năm bảy ngày. Giáo sư E. Saurin (Notice sur la Feuille de Vĩnh Long, trang 39) nhận xét khá tinh tế khi cho rằng vùng đồng bằng sông Cửu Long mặc dầu nhiều sông rạch nhưng là vùng thiếu nước uống (un pays de la soif). Nước mặn tràn vô vàm sông rạch khi mùa nắng đến; đất quá xốp, nước mặn chảy ngầm vào mạch nước giếng.

– Phải có lò rèn ở gần, trong xóm để rèn dao, phãng, lưỡi hái.

– Ruộng làm một mùa, mỗi năm người nông phu thâu huê lợi một lần; trong năm, phải vay nợ để sắm áo quần, để chạy thuốc khi bịnh tật, cúng cho thầy bùa thầy pháp, tu bổ nhà cửa, tốn kém khi đám cưới, đám ma. Quan trọng nhứt là mướn người gặt, cấy, phát cỏ. Thời gian cấy lúa chỉ giới hạn trong vòng năm sáu mươi ngày, cấy trễ thì bị ngập lụt, lúa chín rộ lên thì phải gặt cho nhanh, để lâu thì lúa ngã rục. Người siêng năng và giỏi đến thế mấy cũng đành mướn thêm nhơn công. Tổ chức vần công, đổi công chỉ thành hình và phát triển được ở nơi xóm riềng đông đúc, dân trong xóm tin cậy nhau. Do đó, muốn làm ruộng, người nông phu đành vay bạc nặng lời, tình nguyện mà vay mặc dầu đó là tỷ lệ ăn lời cắt cổ

Đất phèn, thiếu vốn, thiếu làng xóm đông đảo thì khó làm ruộng, mặc dầu với qui mô nhỏ bẻ. Nơi làm ruộng mỗi năm một mùa, không có nghề phụ thì người tá điền khó dư dả khi lúa trúng mùa, nói chi đến năm mất mùa. Đời sống thường nhựt mặc dầu đơn giản nhưng khá tốn kém. Hằng ngày còn phải uống rượu, ăn trầu (đàn ông, đàn bà đều ăn trầu, nơi đất phèn nước mặn, không trồng trầu được, đành mua trầu rang, cau Hạ châu), lại còn những khoảng chi phí bất ngờ như… thua cờ bạc, thua đá gà, đá cả thia thia. Mỗi gia đình còn sắm chiếc ghe, chiếc xuồng đề làm chân mà di chuyển.

Bởi vậy, Kiên Giang đạo thành lập rất trễ, vào cuối thế kỷ thứ 18. Chợ Hà Tiên do Mạc Cửu thành lập (và được Mạc Thiên Tứ tiếp tục phát triền) chỉ là thương cảng phồn thịnh giả tạo: Hà Tiên là sòng bạc, là nơi xuất cảng hầu hết các sản phẩm của Cao Miên. Bởi vậy khi ở Cao Miên xảy ra loạn lạc, vua chúa tranh chấp quyền hạn, cầu viện với ngoại bang thì Hà Tiên trở thành chiến trường, bị đốt cháy để rồi không bao giờ hưng thịnh như trước được.

Vùng Kiên Giang ít được dân khân hoang chú ý hồi thế kỷ thứ 18; đám lưu dân từ miền Trung hoặc những người ở mấy tỉnh Gia Định, chỉ thèm thuồng vùng phù sa ở Định Tường, Vĩnh Long là nơi đất rộng người thưa, đất không phèn, quanh năm gần như có nước ngọt (nếu thiếu nước thì chuyên chở nước uống cũng dễ dàng), đất cao ráo nhờ những giồng ở ven sông Tiền, sông Hậu; vì là “sông sâu nước chảy” nên việc giao thông, vận tải từ làng này đến làng kia dễ dàng, khí hậu hiền hòa, dễ trồng thêm hoa mầu phụ như khoai, trái cây, trầu cau. Và nhứt là gần nơi dinh trấn, gần chợ phổ, gần triều đình. (Người Miên đã tản lạc vì lý do này hay lý do khác nên an ninh được bảo đảm hơn).

NHỮNG GIAI ĐOẠN THÀNH HÌNH CỦA VÙNG RẠCH GIÁ

Nhiều nhà khảo cồ Pháp, trong đó người có công nhứt là học giả quá cổ Louis Malleret đã nghiên cứu về vùng đồng bằng sông Cửu Long, để lại công trình đáng kể. Rải rác trên những giồng đất xưa ở miền Nam, còn tìm được nhiều di tích xưa đánh dấu giai đoạn người thổ dân bắt đầu chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, từ Bà La Môn giáo đến Phật giáo (nên viếng Viện Bảo Tàng Quốc Gia, Sài gòn). Ở đây, chúng tôi xin nói sơ lược qua những gì dính dáng đến vùng Rạch Giá.

Xưa nhứt, có lẽ là vùng Giồng Đá thuộc làng Thanh Hòa, quận Giồng Riềng cũ, do tiếng Giồng Đá nầy mà đặt tên là làng Bàn Thạch, sau nhập với làng Tham Định, gọi là làng Bàn Tân Định. Giồng Đá còn gọi nôm na là Giồng Cây Trôm; nơi đây còn một cây trôm cổ thụ; giống không dài cho lắm, vỏ sò và ốc nổi lên cao trên mặt đất, cao hơn đầu người. Hai đồng vỏ sò này được người địa phương so sánh với lái và mũi ghe của ông “Bao Công đi chân bần”, ghe chìm tại đây, trong ghe chở nhiều vàng bạc châu báu ngọc ngà!!

Chưa ai nghiên cứu kỹ lưỡng vùng này; vỏ sò vỏ ốc còn đóng từng khối rải rác hơn chục cây số ngàn, xen lẫn vào ruộng, ăn ra đến phía sông Cái Bé, hai bên bờ con kinh Chắc Kha. Dân chúng hồi Pháp thuộc cứ đào lén chung quanh Giồng Đá đề tìm vàng. Chưa nghe nói ai được vàng, chỉ gặp toàn là xương mục (xương nai, xương heo rừng) và một số miềng hủ, miềng lu nhỏ. Phải chăng đây là nơi cư trú của nhóm người thời tiền sử như trường hợp ở vùng Biên Hồ (Cao Miên) hoặc vùng Quảng Trị: Ở Rạch Giá, giai thoại ông Bao Công đi chân bần rồi bị chìm tàu rất phổ biến ở những nơi mà bọn người săn vàng phóng tin thất thiệt ra đề thăm dò dư luận. (Thật ra, đây là ông Bổn Đầu Công, tức là ông Trịnh Hòa, một nhân vật có thật được vua Trung Hoa giao phó trách nhiệm điều tra và ủy lạo người Hoa kiều hải ngoại, hiện được thờ phượng ở nhiều nơi, hằng năm miếu ông Bồn Đầu Công, gọi tắt là ông Bồn có tổ chức ngày cúng trọng thê, nào chưng cộ, nào lên xác).

Ở Rạch Giá, còn tìm thấy pho tượng Bồ Tát Quản Âm khá đẹp (sưu tập của bá tước Didelot), ngoài ra còn nhiều nơi gọi là “Đá Nồi” tức là những đồng đá nhỏ giữa ruộng, xưa kia mang ý nghĩa tôn giáo. Nhưng đáng chú ý nhứt là cuộc khai quật ở gò Óc Eo mà giới khảo cổ thường nhắc đến, xem là một thị trấn, một hải cảng quan trọng của nước Phù Nam mà sử gia Trung Hoa đã nhắc đến, nước Phủ Nam này khá hưng thịnh mãi đến thế kỷ thứ sáu, thứ bảy sau Tây lịch. Óc Eo ở chân núi Ba Thê, núi thuộc địa phận tỉnh Long Xuyên nhưng phần đất khai quật thuộc vào làng Mỹ Lâm, tỉnh Rạch Giá. Vương quốc Phù Nam này bị tan rã, không ai hiểu vì lý do nào. Những món đồ tìm được chứng nhận phần nào rằng xưa kia thuyền bè đến đây mua bán, mang theo nhiều bảo vật, từ Ba Tư, Ấn Độ, lại còn tiền vàng La Mã… (xem L. Malleret. L’archéologie du delta du Mékong. Publ. E.F.E.O., Paris, 4, 1959-1963).

Xin trở lại việc khẩn hoang thời ấy. L. Malleret cho rằng dân nước Phù Nam đã biết làm ruộng sạ (cày rồi gieo mạ, không cấy, lúa mọc lên cao theo con nước lụt, khi nước giựt xuống thì gặt – riz flottant) và cho rằng thuở ấy còn một hệ thống kinh đào, nay còn thấy được khi chụp không ảnh. Ý kiến sau này cần được xét lại. Thuở ấy dân số không đông đảo, đào một hệ thống kinh rạch là khó khăn, huy động nhiều nhơn công. Dân chúng không cần và có lẽ không biết cách làm ruộng sạ, lúa gạo sản xuất ở mấy giồng đất ven sông Hậu Giang chắc là đủ thỏa mãn nhu cầu dân chúng địa phương (hoặc là lúa gạo sản xuất từ chân núi Hòn Sóc, Hòn Đất hoặc Thất Sơn). Nếu có làm ruộng sạ, ít ra ngày nay chúng ta còn gặp rải rác nhiều nông cụ, di tích nhà cửa ở cánh đồng giữa Óc Eo và bờ biển Vịnh Xiêm La. Khi nhà nước Pháp cho đào mấy con kinh Tri Tôn, kinh Sóc Xoài – Ba Thê, chẳng ai thấy món gì đáng chú ý, tóm lại là cánh đồng bao la chung quanh Óc Eo là đất hoang từ ngàn xưa cho đến đầu thế kỷ thứ 20, vì lý do đất phèn quá xấu, thiếu nhơn công, bị ngập lụt quá sâu khi mùa nước đến.

Kính mời Quý vị xem chi tiết bài viết tại đây:  https://trithucvn.org/van-hoa/viec-khan-hoang-vung-rach-gia-son-nam.html